CHƯƠNG 1. CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ XUẤT KHẨU HÀNG HÓA 1. Khái niệm và các hình thức xuất khẩu hàng hóa 1. Khái niệm về xuất khẩu hàng hóa Trong nhiều công trình nghiên cứu đề cập về khái niệm xuất khẩu được hiểu là việc bán hàng hoá hoặc dịch vụ cho nước ngoài trên cơ sở dùng tiền tệ làm phương tiện thanh toán.
Theo Luật thương ma ̣i số 36/2005/QH11 trong khoản 1, điề u 28 của Quố c hội nước cộng hoà xã hội chủ nghiã Việt Nam thì “xuấ t khẩu hàng hóa là việc hàng hoá được đưa ra khỏi lãnh thổ Việt Nam hoặc đưa vào khu vực đặc biệt nằ m trên lãnh thổ Việt Nam được coi là khu vực hải quan riêng theo quy đi ̣nh của pháp luật”. Bùi Xuân Lưu (2001, 24) đinh ̣ nghiã “xuấ t khẩ u là việc bán hàng hóa, di ̣ch vụ cho nước ngoài”. Một định nghĩa khác về xuất khẩu được đưa ra trong giáo trình của Feenstra and Taylor (2010, 76) đó là “Các quốc gia mua và bánzhàng hóa, dịch vụ từ nhau. Xuất khẩu là sản phẩm được bán từ nước này sang nước khác”.
Wild (2003) xuất khẩu được hiểu là hành động vận chuyển hàng hóa từ quố c gia này sang quố c gia khác. Về bản chất, xuất khẩu hàng hóa không phải là một hoạt động kinh doanh đơn lẻ mà là một hệ thống các hoạt động kinh doanh có tổ chức. Có rất nhiề u cách hiể u về xuấ t khẩ u hàng hóa, tuy nhiên hiể u một cách khái quát nhấ t thì xuấ t khẩ u hàng hóa là hàng hóa đươc̣ sản xuấ t ở một quố c gia và bán cho người mua ở một quố c gia khác. Hoa ̣t động xuấ t khẩ u hàng hóa là một hình thức cơ bản của thương ma ̣i quố c tế đã có từ lâu đời và phát triể n đế n giai đoa ̣n hiện nay.
Cơ sở của xuấ t khẩ u hàng hóa là hoa ̣t động mua bán và trao đổ i hàng hóa trong đó có hàng hóa vô hình và hàng hoá hữu hình của một nước. Cho tới khi sản xuấ t phát triể n và việc trao đổ i hàng hóa giữa các quố c gia đề u có lơị , hoa ̣t động này mở rộng pha ̣m vi ra ngoài biên giới của các quố c gia. Tóm lại từ các khái niệm trên, có thể hiể u xuấ t khẩ u hàng hóa chính là hoạt động kinh doanh và phân phối các mặt hàng trong nước ra nước ngoài, với mục đích tối ưu hóa lợi nhuận, thúc đẩy gia tăng ngoại tệ, bổ sung thêm nguồn thu vào ngân sách quốc gia, kích thích hoạt động đầu tư kinh doanh phát triển và bình ổn nền kinh tế nước nhà. Các hình thức xuất khẩu chủ yếu Theo Phạm Thị Hồng Yến (2012) các hình thức xuất khẩu hiện nay gồm có: 1.
Xuất khẩu trực tiếp Là hình thức xuất khẩu được thực hiện trực tiếp giữa bên bán và bên mua. Bên bán xuất khẩu hàng hoá và dịch vụ do chính doanh nghiệp sản xuất ra hoặc thu mua từ các đơn vị sản xuất trong nước đến khách hàng nước ngoài. Trong trường hợp, doanh nghiệp 1 xuất khẩu không tự sản xuất ra sản phẩm (gọi là doanh nghiệp thương mại) thì việc xuất khẩu phải trải qua công đoạn thu mua nguồn hàng từ các đơn vị sản xuất trong nước, sau đó đàm phán và ký kết với doanh nghiệp nước ngoài trước khi xuất khẩu. Xuất khẩu theo hình thức trực tiếp thông thường có hiệu quả kinh doanh cao hơn các hình thức xuất khẩu khác, khả năng kiểm soát quá trình xuất khẩu lớn hơn và mối quan hệ với khách hàng và thị trường nước ngoài gần gũi hơn.
Bởi vì các doanh nghiệp có thể mua được những hàng hóa có chất lượng cao, phù hợp với nhu cầu của mình cũng như của khách hàng với giá cả thấp hơn. Tuy nhiên, đây là hình thức xuất khẩu có độ rủi ro lớn, hàng hóa có thể không bán được do những thay đổi bất ngờ của khách hàng, của thị trường dẫn đến ứ đọng vốn khi bị thất thoát hàng hóa. Ngoài ra nhà xuất khẩu phải dành nhiều hơn thời gian, nguồn nhân lực và các nguồn lực khác của doanh nghiệp để phát triển và quản lý các hoạt động xuất khẩu. Xuất khẩu gián tiếp Là hình thức xuất khẩu trong đó doanh nghiệp ký hợp đồng với trung gian ở thị trường nội địa.
Các doanh nghiệp xuất khẩu nhỏ, hoặc mới tham gia thương mại quốc tế thường thuê một công ty quản lý xuất khẩu (EMC) hoặc một công ty thương mại có trụ sở tại nước của mình. Những kênh trung gian này đảm nhiệm việc tìm kiếm khách hàng nước ngoài, vận chuyển sản phẩm và thu tiền hàng. Các trung gian mua bán chủ yếu trong xuất khẩu gián tiếp là: đại lí, công ty quản lí xuất nhập khẩu và công ty kinh doanh xuất nhập khẩu. Đối với hầu hết các doanh nghiệp thì lợi thế chủ yếu mà xuất khẩu gián tiếp mang lại cho họ là có thể bước vào thị trường nước ngoài mà không gặp những phức tạp và rủi ro như đối với xuất khẩu trực tiếp.
Doanh nghiệp quốc tế mới có thể bắt đầu xuất khẩu mà không phải tăng đầu tư vào vốn cố định, với chi phí khởi đầu thấp và ít rủi ro mà vẫn có thể tăng doanh số. Xuất khẩu gián tiếp được áp dụng trong trường hợp doanh nghiệp không được phép kinh doanh xuất khẩu trực tiếp hoặc không có điều kiện xuất khẩu trực tiếp, uỷ thác cho doanh nghiệp kinh doanh xuất khẩu làm đơn vị xuất khẩu hàng hoá cho mình, bên nhận trung gian được nhận một khoản thù lao gọi là phí uỷ thác. Mua bán đối lưu Mua bán đối lưu là phương thức giao dịch trao đổi hàng hóa đặc biệt, trong đó người xuất khẩu cũng chính là người nhập khẩu, người bán chính là người mua, hàng hóa trong phương thức này vừa là phương tiện vừa là mục tiêu của hoạt động trao đổi. Phương thức này có những đặc điểm chính sau đây: - Người bán cũng chính là người mua - Hàng hóa trao đổi có trị giá tương đương - Đồng tiền chủ yếu làm thước đo giá trị 2 - Tuân thủ yêu cầu cân bằng chặt chẽ Khi mua bán theo phương thức này các bên cần đảm bảo các yêu cầu cân bằng về giá trị của hàng hóa; giá cả; tổng trị giá và các điều kiện giao hàng.
Trong thương mại quốc tế có các loại hình mua bán đối lưu như đổi hàng, bù trừ, mua đối lưu, chuyển nợ, giao dịch bồi hoàn, mua lại sản phẩm. Khi giao dịch buôn bán đối lưu các bên phải lưu ý các biện pháp bảo đảm thực hiện hợp đồng sau: dùng thư tín dụng đối ứng; dùng bên thứ ba khống chế hàng hóa hay chứng từ sở hữu hàng hóa; sử dụng tài khoản đặc biệt tại ngân hàng hoặc phạt bằng ngoại tệ mạnh. Xuấ t khẩu tại chỗ Là hình thức hàng hóa của một doanh nghiệp sản xuấ t nội đia,̣ tiế n hành bán cho thương nhân, doanh nghiệp nước ngoài nhưng la ̣i giao tấ t cả số hàng hóa nhận đươc̣ cho một doanh nghiệp đươc̣ chỉ đinḥ khác trong nước. Theo cách thức này, doanh nghiệp sẽ trực tiếp đảm nhận các nhiệm vụ quan chính ở thị trường nước ngoài như tham gia vào các hội chợ thương mại, thực hiện nghiên cứu thị trường, tìm kiếm các nhà phân phối và phục vụ khách hàng.
Phương thức xuất khẩu tại chỗ tiết kiệm nhiều chi phí cho doanh nghiệp, đồng thời cũng tiết kiệm thời gian vận chuyển và được hưởng nhiều ưu đãi về thuế suất. Hình thức kinh doanh này còn khá mới mẻ nhưng đang ngày một phát triển rộng rãi do những điểm ưu điểm mà nó đem lại: - Thứ nhất, vẫn đề chi phí được tối ưu hóa một cách đáng kể. - Thứ hai, tiết kiệm thời gian vận chuyển, tốc độ giao hàng nhanh và đảm bảo hàng hóa được an toàn, từ đó tiến độ công việc cũng sẽ nhanh hơn. - Thứ ba, chủ doanh nghiệp sẽ được hưởng nhiều ưu đãi về thuế suất.
Gia công xuất khẩu Gia công xuất khẩu là hoạt động trong đó một bên gọi là bên đặt hàng, sẽ giao nguyên vật liệu, bán thành phẩm, máy móc, thiết bị và chuyên gia cho bên kia, gọi là bên nhận gia công, để sản xuất một mặt hàng mới theo yêu cầu của bên đặt hàng. Sau khi sản xuất xong, bên đặt hàng nhận hàng hoá đó từ bên nhận gia công và trả tiền công cho bên làm hàng gọi là hoạt động gia công. Khi hoạt động gia công vượt ra khỏi phạm vi biên giới quốc gia thì gọi là gia công xuất khẩu. Do đó, gia công xuất khẩu là đưa các yếu tố sản xuất (chủ yếu là nguyên liệu) từ nước ngoài về để sản xuất hàng hoá, nhưng không phải để tiêu dùng trong nước mà để xuất khẩu thu ngoại tệ chênh lệch do tiền công đem lại.
Vì vậy, gia công xuất khẩu là hình thức xuất khẩu lao động, nhưng là loại lao động dưới dạng được sử dụng (được thể 3 hiện trong hàng hoá), chứ không phải dưới dạng xuất khẩu nhân công ra nước ngoài. Có 2 loại quan hệ gia công quốc tế: - Một là, bên đặt gia công cung cấp nguyên liệu hoặc bán thành phẩm cho bên nhận gia công ở nước ngoài để thực hiện chế biến, lắp ráp sản phẩm. Sau khi chế biến xong, sản phẩm hoàn chỉnh được xuất khẩu trở lại cho bên đặt gia công. Hình thức này giúp bên đặt gia công kiểm soát chặt chẽ nguồn nguyên liệu và quá trình sản xuất.
- Hai là, bên đặt gia công cung cấp đơn đặt hàng hoặc yêu cầu về sản phẩm cho bên nhận gia công ở nước ngoài, đồng thời cho phép bên nhận gia công tự chủ trong việc tìm kiếm nguồn nguyên liệu và bán thành phẩm phù hợp với yêu cầu của đơn hàng. Sau khi chế biến hoàn tất, sản phẩm được xuất khẩu trở lại bên đặt gia công. Hình thức này có thể linh hoạt hơn cho bên nhận gia công trong việc tối ưu hóa nguồn nguyên liệu và chi phí sản xuất. Giao dịch tái xuất Kinh doanh tái xuất là việc xuất khẩu hàng hoá đã nhập khẩu trước đây mà chưa qua khâu chế biến nào tại nước tái xuất nhằm mục đích thu về một lượng ngoại tệ lớn hơn chi phí nhập khẩu.
Thực hiện giao dịch này, nhà kinh doanh tái xuất phải thực hiện hai hoạt động nhập khẩu và xuất khẩu trên cơ sở hai hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế.