Chương 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ XÉT XỬ PHÚC THẨM VỤ ÁN HÌNH SỰ 1. Khái niệm, tính chất của xét xử phúc thẩm vụ án hình sự 1. Khái niệm Sự ra đời của Tòa án gắn liền với hoạt động xét xử và xét xử trở thành đặc điểm quan trọng nhất khi nói đến Tòa án. Xét xử luôn được xác định là chức năng có tính đặc hữu, đặc quyền của Tòa án.
Xét xử cũng là một thủ tục đặc biệt nhất của tòa án tư pháp mà không có cơ quan nào của nhà nước có được. Hiến pháp năm 2013 ghi nhận“Tòa án nhân dân là cơ quan xét xử của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, thực hiện quyền tư pháp”[26]. Quy định này khẳng định quyền tư pháp là quyền được giao cho Tòa án. Thông qua hoạt động xét xử, Tòa án xem xét, đánh giá bản chất pháp lý của vụ án hình sự, dân sự, hành chính, nhân danh Nhà nước đưa ra một phán quyết phù hợp với tính chất mức độ của hành vi vi phạm pháp luật, tội phạm.
Là cơ quan thực hiện quyền tư pháp, tòa án có những điểm đặc thù so với các cơ quan khác trong hệ thống cơ quan nhà nước, khác với cơ quan lập pháp và hành pháp ở chỗ không giải quyết các vấn đề ở tầm vĩ mô, không hoạch định chính sách kinh tế - xã hội mà có chức năng giải quyết các vấn đề cụ thể, từng tình huống, từng sự kiện cụ thể trong đời sống xã hội, có nhiệm vụ bảo vệ công lý, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của cá nhân, tổ chức. Cách thức tổ chức và hoạt động của tòa án cũng rất khác so với cơ quan lập pháp và hành pháp. Thông qua việc thực hiện quyền lực tư pháp mà pháp luật tác động đến những quan hệ xã hội, công lý và trật tự xã hội được bảo đảm. Với đặc thù đó, về nguyên tắc tòa án không tổ chức theo đơn vị hành chính như cơ quan hành pháp hoặc cơ quan dân cử mà tổ chức theo cấp (thẩm quyền) xét xử.
Giữa các cấp tòa án không có quan hệ mệnh lệnh, hành chính mà chủ yếu là quan hệ tố 6 Luan van tụng; mỗi cấp tòa án độc lập theo chiều dọc. Để có thể đạt được công lý, việc xét xử cần phải độc lập, không áp đặt mệnh lệnh hành chính. Nếu ở cấp thứ nhất (sơ thẩm) giải quyết vụ án hình sự mà cá nhân, tổ chức không đồng tình thì có quyền kháng cáo, kháng nghị và cấp thứ hai (phúc thẩm) bất luận trong trường hợp nào cũng phải mở phiên tòa xét xử với hội đồng xét xử hoàn toàn khác, mặc dù cả 2 cấp đều xét xử vụ án về nội dung. Đây là nguyên tắc tiến bộ, nhân văn, lần đầu tiên được đề xướng và áp dụng trong tổ chức và hoạt động của hệ thống tòa án sau cách mạng tư sản cuối thế kỷ XVIII [24, tr.
Nguyên tắc xét xử hai cấp sơ thẩm và phúc thẩm được ghi nhận trong Hiến pháp của nhiều một số quốc gia. Điều 176 Hiến Cộng hòa Ba Lan năm 1997 quy định: các vụ việc tại tòa án phải qua ít nhất 2 cấp xét xử [16]; Điều 166, 168, 169 Hiến pháp Cộng hòa Nam Phi 1996 quy định về thẩm quyền xét xử phúc thẩm (cấp thứ hai) của tòa án cấp phúc thẩm và Tòa án cấp cao [16]. Điều 50 Hiến pháp Liên bang Nga năm 1993 quy định người bị kết án có quyền được xem xét lại bản án bởi Tòa án cấp cao hơn theo trình tự do pháp luật liên bang quy định [16]. Bộ luật Tố tụng hình sự nhiều quốc gia đều quy định thủ tục xét xử này.
Cũng như trong tụng dân sự và tố tụng hành chính, tất cả vụ án hình sự đều phải được xét xử lần đầu tiên tại cấp xét xử sở thẩm. Đó là thủ tục bắt buộc, là cấp xét xử đầu tiên trong hoạt động xét xử của Tòa án khi giải quyết vụ án hình sự. Tòa án quyết định đưa vụ án ra xét xử khi có cáo trạng truy tố của Viện kiểm sát. Trình tự thủ tục xét xử sơ thẩm được thực hiên theo quy định của BLTTHS.
Qua đó, Tòa án xem xét đánh giá chứng cứ, đánh giá toàn bộ vụ án, những chứng cứ buộc tội cũng như chứng cứ gỡ tội, toàn bộ các tình tiết liên quan có ý nghĩa đối với việc giải quyết vụ án, thông qua kết quả tranh tụng tại phiên tòa để đưa ra bản án, quyết định cần thiết. Bản án, quyết định sơ thẩm chỉ có hiệu lực nếu không bị kháng cáo, kháng nghị trong thời hạn luật định. Khi bản án có hiệu lực sẽ được thi hành và Tòa án sẽ không xét xử 7 Luan van lại vụ án đó nữa (trừ trường hợp nếu có căn cứ có thể xét lại bản án, quyết định theo thủ tục giám đốc thẩm, tái thẩm). Với đặc trưng của hoạt động tư pháp bản án, quyết định sơ thẩm có thể bị kháng cáo, kháng nghị trong thời hạn luật định và khi đó chưa có hiệu lực thi hành.
Theo quy định của pháp luật thì tất cả các bản án, quyết định sơ thẩm đều có thể bị kháng cáo, kháng nghị không loại trừ bất kỳ trường hợp nào, miễn là được thực hiện theo đúng quy định. Lúc này, Tòa án cấp trên trực tiếp xét xử lại vụ án theo thủ tục phúc thẩm trên cơ sở của nguyên tắc hiến định là xét xử hai cấp. Tòa án cấp trên sẽ trực tiếp xét xử lại vụ án mà bản án, quyết định sơ thẩm chưa có hiệu lực pháp luật bị kháng cáo hoặc kháng nghị và được tiến hành theo trình tự, thủ tục do BLTTHS, đó chính là thủ tục phúc thẩm. Trong hoạt động xét xử của tòa án, để bảo đảm tính khách quan, thận trọng, chính xác, việc xét xử lại đối với vụ án được đặt ra ngay từ thời xa xưa cho đến thời hiện đại.
Pháp luật các quốc gia trên thế giới và trong các quy chế về các thiết chế tư pháp quốc tế. Công ước quốc tế về các quyền dân sự và chính trị năm 1966 ghi nhận một nguyên tắc rất quan trọng “Bất cứ người nào bị kết án là phạm tội đều có quyền yêu cầu toà án cấp cao hơn xem xét lại bản án và hình phạt đối với mình theo quy định của pháp luật” (Điểm 5, Điều 14). Tuy nhiên, với quan niệm “công lý cũng phải có điểm dừng” nên đối với vụ án xét xử ở cấp sơ thẩm và cấp phúc thẩm mang tính bắt buộc và trở thành nguyên tắc pháp luật, được ghi nhận trong đạo luật cơ bản (Hiến pháp) của nhiều quốc gia. Chức năng xét xử sơ thẩm, phúc thẩm được giao cho những tòa án khác nhau đảm nhiệm, tòa án đã xét xử sơ thẩm không được phúc thẩm bản án sơ thẩm do mình đã xét xử mà phải do Tòa án khác đảm nhận.
Có hai cách để phân định thẩm quyền cho các Tòa án thực hiện chức năng xét xử sơ thẩm và phúc thẩm là: (1) Ở những nước tổ chức hệ thống Tòa án theo tiêu chí lãnh thổ (địa giới hành chính) kết hợp với thẩm quyền như Việt Nam đã hình thành quan niệm Tòa án cấp dưới và Tòa án cấp trên thì 8 Luan van thường là luật quy định Tòa án cấp trên phúc thẩm bản án sơ thẩm của cấp dưới nếu có kháng cáo, kháng nghị; (2) Những nước tổ chức hệ thống Tòa án theo tiêu chí thẩm quyền thì hình thành những Tòa án chỉ có chức năng xét xử sơ thẩm hoặc tòa án chỉ có chức năng xét xử phúc thẩm với tên gọi “tòa sơ thẩm” hoặc tòa “phúc thẩm” nên không tồn tại quan niệm “tòa án cấp trên”, “tòa án cấp dưới”, xóa bỏ được quan hệ hành chính giữa các tòa án do đó tạo điều kiện để bảo đảm nguyên tắc độc lập trong tổ chức và hoạt động của tòa án. Như vậy, nguyên tắc xét xử hai cấp (sơ thẩm và phúc thẩm) thể hiện những chức năng xét xử cụ thể và những chức năng này do những tòa án khác nhau đảm nhiệm. Để đưa ra khái niệm xét xử phúc thẩm vụ án hình sự, trước hết cần làm rõ làm rõ từng khái niệm thành phần. Ở đây có hai khái niệm thành phần cần làm rõ là khái niệm xét xử phúc thẩm và khái niệm vụ án hình sự.
Khái niệm phúc thẩm và xét xử phúc thẩm có nhiều cách hiểu khác nhau. Theo từ điển Hán - Việt thì không có khái niệm phúc thẩm nguyên nghĩa, mà phúc thẩm được ghép lại bởi hai từ “phúc” và “thẩm” với hai nghĩa khác nhau, trong đó từ “phúc” có nghĩa là “lật lại” hoặc “xét kỹ”, còn từ “thẩm” mang nghĩa “xử đoán”. Như vậy theo từ điển Hán - Việt thì muốn hiểu thế nào là phúc thẩm thì phải ghép nghĩa của hai từ “phúc” và từ “thẩm” với nghĩa nêu trên [2]. Khác với từ điển Hán - Việt, từ điển Tiếng Việt đã nêu khái niệm về phúc thẩm, theo đó phúc thẩm có nghĩa là Tòa án cấp trên xét xử lại một vụ án mà có chống án do Tòa án cấp dưới đã xét xử sơ thẩm [46].
Từ điển Luật học giải thích phúc thẩm là “xét lại vụ án, quyết định đã được tòa án cấp dưới xét xử sơ thẩm nhưng chưa có hiệu lực pháp luật mà bị kháng cáo hoặc kháng nghị” [6, tr. Do các vụ việc có tính chất đặc thù khác nhau nên pháp luật quy định các thủ tục tố tụng khác nhau tương ứng, bao gồm thủ tục tố tụng hình sự, thủ tục tố tụng dân sự, thủ tục tố tụng hành chính, trong đó thủ tục tố tụng hình sự 9 Luan van được quy định áp dụng cho việc giải quyết các vụ án hình sự như khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử và thi hành án. Theo Từ điển luật học thì vụ án hình sự là “Vụ việc phạm pháp có dấu hiệu là tội phạm đã được quy định trong Bộ luật hình sự đã được cơ quan điều tra ra lệnh khởi tố về hình sự để tiến hành điều tra, truy tố, xét xử theo các trình tự, thủ tục đã được quy định ở Bộ luật hình sự tố tụng. Như vậy, khi có dấu hiệu tội phạm thì Cơ quan có thẩm quyền ra quyết định khởi tố vụ án hình sự để tiến hành điều tra, truy tố, xét xử theo các quy định của Bộ luật TTHS.