CHƯƠNG I. CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA VĂN HÓA DOANH NGHIỆP 1.1 Các khái niệm cơ bản 1.1 Khái niệm văn hóa Có nhiều định nghĩa khác nhau về văn hóa. Văn hóa là khái niệm có phạm vi rất rộng, bao gồm nhiều phương diện, tính chất và hình thức biểu hiện khác nhau. Tùy vào cách hiểu và suy nghĩ của nhà nghiên cứu thì khái niệm văn hóa có thể tồn tại dưới nhiều góc độ khác nhau.
Song vì vậy mà chưa có một khái niệm văn hóa nào là thống nhất và chính xác đầy đủ, có rất nhiều khái niệm về văn hóa cùng tồn tại với nhau làm cho vấn đề trở nên phong phú và đa dạng hơn. Tuy nhiên, dù được tiếp cận ở góc độ nào, khái niệm văn hóa cũng đều được thể hiện một cách trực tiếp hoặc gián tiếp những đặc trưng về con người và đời sống của con người. Qua đó, ta có thể hiểu văn hóa là một khía cạnh hiện thực giữa mối quan hệ bên trong và bên ngoài con người. Trong suốt quá trình hình thành và phát triển con người luôn là nhân tố tạo ra văn hóa, ở đâu có con người, ở đó có dấu vết của một nền văn hóa và họ không ngừng nỗ lực, sáng tạo ra các giá trị văn hóa ấy.
Một trong những định nghĩa đầu tiên được chấp nhận rộng rãi do nhà nhân chủng học (Edward Bernett Tylor, 1870) đưa ra: “Văn hoá hay Văn minh là cái toàn thể phức hợp bao gồm tri thức, tín ngưỡng, nghệ thuật, đạo đức, luật pháp, phong tục và bất kỳ một khả năng, tập quán nào khác mà con người thu nhận được trong tư cách là thành viên của xã hội. Một định nghĩa khác được sử dụng khá phổ biến tiệm cận gần hơn với bản chất văn hoá, do ông Frederico Mayor, Tổng giám đốc UNESCO cho rằng: Văn hóa nên được đề cập như một tập hợp của những đặc trưng về tâm hồn, vật chất, tri thức và xúc cảm của một xã hội hay một nhóm người trong xã hội và nó chứa đựng, ngoài văn học và nghệ thuật, cả cách sống, phương thức chung sống, hệ thống giá trị, truyền thống và đức tin” (Đăng Dương, 2019). Hay theo (Trần Ngọc Thêm, 1991) cho rằng: “Văn hóa là một hệ thống hữu cơ các giá trị vật chất và tinh thần của con người sáng tạo và tích lũy qua quá trình hoạt động thực tiễn, trong sự tương tác giữa con người với môi trường tự nhiên và xã 5 hội”. Như vậy, nói tới văn hóa là nói tới con người, nói tới việc phát huy những năng lực, giá trị của con người nhằm hoàn thiện con người bao gồm văn hóa vật chất và văn hóa tinh thần.
Văn hóa vật chất là năng lực sáng tạo của con người được thể hiện và kết tinh trong sản phẩm vật chất, văn hóa tinh thần là tổng thể các tư tưởng, lý luận và giá trị được sáng tạo ra trong đời sống tinh thần và hoạt động tinh thần của con người. Do đó, văn hóa có mặt trong mọi hoạt động của con người, trên mọi lĩnh vực kinh tế - xã hội.2 Khái niệm văn hóa doanh nghiệp Mỗi doanh nghiệp đều tồn tại một nền văn hóa riêng biệt và mang nét đặc trưng tiêu biểu của doanh nghiệp đó. Có thể hiểu văn hóa doanh nghiệp (VHDN) bao gồm các hệ thống giá trị đặc trưng, phong cách cũng như hành vi chuẩn mực được doanh nghiệp tôn trọng và được truyền từ đời này sang đời khác, thế hệ này sang thế hệ khác, trở thành thước đo, phong tục tập quán ăn sâu vào hoạt động của doanh nghiệp đó. Khái niệm văn hóa doanh nghiệp tồn tại dưới nhiều góc độ khác nhau, nhìn chung đều nói về các khía cạnh và thói quen của một tổ chức.
TS Trần Văn Miều - Hội Khoa học tâm lý giáo dục VN cho rằng: “Văn hoá doanh nghiệp là tổng thể những giá trị vật chất và tinh thần do doanh nghiệp sáng tạo ra trong quá trình hình thành và phát triển. Trở thành các giá trị, quan niệm và tập quán, truyền thống ăn sâu vào hoạt động của doanh nghiệp, chi phối tình cảm, suy nghĩ và hành vi của mọi thành viên trong doanh nghiệp” (Cẩm Hà, 2009). Hay theo (Edward Schein, 2004) cho rằng: “Văn hóa doanh nghiệp gắn với văn hóa xã hội, là một bước tiến của văn hóa xã hội, là tầng sâu của văn hóa xã hội. Nói rộng ra, nếu toàn bộ nền sản xuất đều được xây dựng trên một nền văn hóa doanh nghiệp có trình độ cao, nền sản xuất sẽ vừa mang bản sắc dân tộc, vừa thích ứng với thời đại hiện nay”.
Một định nghĩa khác cũng khá phổ biến, vừa ngắn gọn vừa phản ánh cả bản chất lẫn quá trình hình thành của văn hoá doanh nghiệp đó là của (Ngô Minh Khôi, 2002) cho rằng: “Văn hoá doanh nghiệp (hay bản sắc doanh nghiệp) là toàn bộ hệ thống các chuẩn mực về tinh thần và hành vi ứng xử của tất cả các thành viên trong 6 doanh nghiệp, hướng tới những giá trị tốt đẹp nhất, tạo ra nét độc đáo riêng biệt đồng thời là sức mạnh lâu bền của doanh nghiệp trên thương trường”. Từ những khái niệm trên ta có thể hiểu văn hóa doanh nghiệp là tổng thể những giá trị hình thành nên sự phát triển của xã hội. Một văn hóa doanh nghiệp mạnh sẽ tạo nên một văn hóa xã hội mạnh. Hay nói cách khác một doanh nghiệp thành công khi nó xây dựng được cho mình một hệ thống doanh nghiệp đặc trưng với đội ngũ nhân viên là yếu tố nòng cốt.
Ngoài ra, nó còn được xem như là thước đo chuẩn mực các hành vi, nguyên tắc được mọi thành viên của một tổ chức đồng thuận và có ảnh hưởng ở phạm vi rộng đến cách thức hành động của các thành viên. Điều đó có nghĩa là trong doanh nghiệp tất cả các thành viên đều gắn bó với nhau bởi những tiêu chí chung trong hoạt động kinh doanh. Văn hóa doanh nghiệp thể hiện được những nhu cầu, mục đích và phương hướng hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp, tạo cho doanh nghiệp có được màu sắc riêng, đồng thời chi phối kết quả kinh doanh của doanh nghiệp. Chính vì vậy một doanh nghiệp thành công hay thất bại là dựa vào việc nó có xây dựng được một nền văn hóa doanh nghiệp đặc trưng hay không, xét theo đúng nghĩa của khái niệm này.2 Thành phần của văn hóa doanh nghiệp Có thể nói văn hóa doanh nghiệp là hệ thống ý nghĩa, giá trị, niềm tin chủ đạo, nhận thức và tư duy được tất cả thành viên của một tổ chức đồng thuận và có ảnh hưởng ở phạm vi rộng đến cách thức hành động của họ.
Những tính chất của văn hoá doanh nghiệp được thể hiện dưới nhiều hình thức khác nhau nhưng thường tập hợp thành các khuôn mẫu hành vi được áp dụng đối với các mối quan hệ xã hội trong tổ chức. Đối với văn hóa ở bề nổi là các biểu trưng trực quan là những gì mọi người có thể dễ dàng nhìn thấy, nghe thấy, sờ thấy ví dụ như phong cách, màu sắc, kiểu dáng kiến trúc, thiết kế, hành vi, trang phục, biểu tượng, lễ nghi, ngôn ngữ. Các biểu trưng phi trực quan bao gồm lý tưởng, niềm tin, bản chất mối quan hệ con người, thái độ và phương pháp tư duy (Nguyễn Văn Tiến, Hồ Thiện Thông Minh và Hà Văn Dũng, 2020).Schein, ông đã chia văn hoá doanh nghiệp thành các cấp độ khác nhau nhằm làm rõ văn hoá doanh nghiệp ảnh hưởng đến hai nhân tố chính đó là khách hàng và doanh nghiệp. Việc phân loại như vậy sẽ giúp chúng ta hiểu rõ bản chất của văn hoá doanh nghiệp từ đó đưa ra được các giải pháp để hoàn thiện và phát triển văn hóa doanh nghiệp.
Mô hình văn hóa của Edgar Schein chia thành ba cấp độ khác nhau bao gồm: Những quá trình và cấu trúc hữu hình của văn hóa doanh nghiệp; những giá trị được tuyên bố/chấp nhận; những quan niệm chung.1 Cấp độ thứ nhất: Những quá trình và cấu trúc hữu hình của văn hóa doanh nghiệp Đây là cấp độ rõ ràng nhất và dễ thấy nhất của văn hóa doanh nghiệp. Cấp độ này bao gồm tất cả những sự vật hiện tượng mà chúng ta có thể nhìn thấy, nghe thấy và cảm thấy khi tiếp xúc với một nền văn hóa xa lạ. Những quá trình và cấu trúc hữu hình của văn hóa doanh nghiệp bao gồm 5 nhóm yếu tố: * Kiến trúc của doanh nghiệp Kiến trúc đặc trưng bao gồm kiến trúc ngoại thất và kiến trúc nội thất được sử dụng ở công sở để làm nổi bật những hình ảnh và biểu tượng về doanh nghiệp tạo được ấn tượng sâu sắc và thiện cảm trong mắt của khách hàng. Kiến trúc ngoại thất bao gồm kiến trúc cổng, mặt tiền, trụ sở công ty, bố cục các bộ phận,.Phần lớn các doanh nghiệp thành công đều rất chú trọng đến biểu tượng và hình ảnh của tổ chức mình, sự đồ sộ và các kiến trúc đặc trưng phần nào thể hiện sự lớn mạnh và độc đáo của doanh nghiệp đó.
Bên cạnh đó, những thiết kế nội thất cũng rất được các công ty, tổ chức quan tâm. Từ những vấn đề lớn như tiêu chuẩn hoá về màu sắc, kiểu dáng của bao bì đặc trưng, thiết kế nội thất như mặt bằng, quầy, bàn ghế, phòng, giá để hàng, lối đi, loại dịch vụ, trang phục,…đến những chi tiết nhỏ nhặt như vị trí công tắc điện, thiết bị và vị trí của chúng trong các phòng…Tất cả đều được sử dụng để tạo ấn tượng thân quen, thiện chí và được quan tâm. 8 Thiết kế kiến trúc thường được các tổ chức rất quan tâm là vì nó có có ảnh hưởng quan trọng đến hành vi con người về phương diện cách thức giao tiếp, phản ứng và thực hiện công việc. Công trình kiến trúc có thể được coi là một linh vật, biểu thị một ý nghĩa, giá trị nào đó của một tổ chức, xã hội.
* Các nghi lễ Đây là cấu thành văn hoá bề nổi, phản ánh đời sống, sinh hoạt của công ty. Nghi lễ hay các lễ hội là những hoạt động được dự kiến từ trước và chuẩn bị kỹ lưỡng dưới hình thức các sự kiện văn hóa – xã hội chính thức, nghiêm trang và tình cảm được tổ chức định kì hoặc bất thường nhằm thắt chặt mối quan hệ của tổ chức và thường vì lợi ích của những người tham dự. Nghi lễ thường được tiến hành theo một cách thức nhất định, các nghi thức thường được thiết kế một cách kỹ lưỡng và sử dụng như những hình thức chính thức để thực hiện nghi lễ.