CHƯƠNG 1 - CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ PHÂN TÍCH VÀ DỰ BÁO CẦU 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CẦU 1. Khái niệm cầu 1. Khái niệm cầu và luật cầu a.
Khái niệm cầu Theo Ngô Đình Giao (2006): “Cầu là số lượng hàng hóa hay dịch vụ mà người mua có khả năng và sẵn sàng mua ở các mức giá khác nhau trong một thời gian nhất định, giả sử cá nhân tố khác không đổi”. Qua khái niệm về cầu ta thấy, cầu về hàng hóa hay dịch vụ bao giờ cũng bao gồm hai nhân tố là khả năng mua và sự sẵn sàng mua của người tiêu dùng. Khi người tiêu dùng có khả năng mua một hộp sữa Sunny Mama nhưng chưa có sự sẵn sàng để mua sữa này, sẽ không tạo thành cầu về sữa Sunny Mama. Hay khi họ rất mong muốn sử dụng sữa Sunny Mama để đảm bảo sức khỏe cho các bà mẹ và thai nhi.
Nhưng nếu thu nhập của khách hàng quá thấp cũng không hình thành cầu về sữa này. Cần phân biệt sự khác nhau giữa cầu và lượng cầu. Lượng cầu là một lượng cụ thể của hàng hóa hay dịch vụ mà người mua mong muốn và có khả năng mua tại một mức giá nhất định, trong một giai đoạn nhất định với các yếu tố khác không đổi. Còn cầu là tập hợp của các lượng cầu ở các mức giá khác nhau.
Luật cầu Theo tác giả Ngô Đình Giao (2006), luật cầu được phát biểu là: “Lượng cầu hàng hóa hay dịch vụ được cầu trong một khoảng thời gian đã cho tăng lên khi giá của hàng hóa hoặc dịch vụ đó giảm xuống”. Luật cầu được giải thích rõ qua hiệu ứng thay thế và hiệu ứng thu nhập. Hiệu ứng thay thế nói lên hầu như các hàng hóa đều có sự thay thế cho nhau trong tiêu dùng. Khi đó, giá của hàng hóa này tăng thì lượng cầu về mặt hàng thay thế cho nó cũng tăng lên.
Do đó, làm cho cầu về hàng hóa đó giảm xuống và ngược lại. Hiệu ứng thu nhập được hiểu là khi giá của hàng hóa thay đổi làm cho thu nhập 15 thực tế của người tiêu dùng cũng thay đổi. Khi thu nhập thực tế tăng hay giảm đi làm cho lượng cầu về hàng hóa đó cũng tăng lên hoặc giảm đi (hàng hóa thông thường). Như vậy, khi giá của một hàng hóa tăng làm cho thu nhập thực tế của người tiêu dùng giảm do đó làm cho cầu về hàng hóa đó cũng giảm theo và ngược lại.
Đường cầu và hàm cầu a. Đường cầu Đường cầu là một đường mô tả hàng hóa hay dịch vụ mà người mua mong muốn và có khả năng mua. Nó là tập hợp tất cả các điểm phản ánh mối quan hệ giữa giá cả hàng hóa và lượng cầu tại mức giá nhất định. P Đường cầu sữa P1 A Sunny Mama B P2 D O Q1 Q2 Q Hình 1.1 Đồ thị đường cầu về sữa bột trẻ em Qua đồ thị ta thấy, đường cầu về sữa bột trẻ em (D) là một đường có dốc xuống, có độ dốc âm.
Nhìn vào đường cầu, ta càng nhận thấy rõ hơn về sự khác biệt của cầu và lượng cầu. Cầu là toàn bộ đường cầu nhưng lượng cầu được phản ánh thông qua 1 điểm cụ thể trên đường cầu như lượng cầu tại điểm A là Q1 hộp, tại B là Q2 hộp,… b. Hàm cầu Xét hàm cầu đơn giản chỉ có sự biến đổi của lượng cầu theo giá (giả thiết chỉ có giá biến đổi các yếu tố khác không đổi). Khi đó hàm cầu có dạng : QD = a –b*P.
16 a: Là hệ số chặn, nó phản ánh khi hàng hóa này được cho không (P = 0) thì lượng cầu sẽ đạt lớn nhất a đơn vị hàng hóa. b: Là hệ số chỉ sự nhạy cảm của lượng cầu phụ thuộc vào giá. Trước hệ b là dấu âm, như vậy hàm cầu đã phản ánh đúng theo luật cầu. Nếu P thay đổi (tăng) một đơn vị thì lượng cầu sẽ thay đổi (giảm) b đơn vị hàng hóa.
Độ co dãn của cầu Độ co dãn của cầu là một chỉ tiêu phản ánh phần trăm thay đổi của lượng cầu khi các nhân tố (giá của hàng hóa đó, thu nhập, giá của hàng hóa liên quan) thay đổi 1% (với điều kiện các nhân tố khác không đổi). Như vậy, tùy theo dạng của biến ảnh hưởng ta có các loại độ co dãn của cầu theo giá của bản thân hàng hóa đó ( E PD ), độ co dãn của cầu theo thu nhập ( E ID ), độ co dãn của cầu theo giá chéo ( E PD ). Y X Theo định nghĩa về độ co dãn của cầu theo giá ta có công thức tính E PD như sau : % Q E PD % P Trong đó: %Q là phần trăm thay đổi của lượng cầu. % P là phần trăm thay đổi của giá của hàng hóa đó.
Công thức tính E ID , E PD được xác định tương tự như E PD. Y X Nghiên cứu độ co dãn đặc biệt là độ co dãn của cầu theo giá là rất quan trọng. Vì nó là cơ sở cho việc định giá của một DN. Khi DN có độ lớn E PD > 1, muốn tối đa hóa doanh thu cần phải giảm giá hàng bán và ngược lại.
Vì điểm tối đa hóa doanh thu chính là điểm mà tại đó E PD = 1 (Chứng minh Phụ lục). Ngoài ra, nghiên cứu về E ID , E PD cũng đem lại cho DN những căn cứ cho việc Y X ra quyết định đúng đắn. Khi DN nghiên cứu về cầu được kết quả về E ID là một số dương tức là hàng hóa mà DN đang kinh doanh là hàng hóa thông thường. Vì vậy, nếu triển vọng thu nhập của người dân tăng lên, DN nên có kế hoạch cho việc tăng cung ứng mặt hàng mà mình kinh doanh, và ngược lại.
17 Bên cạnh đó, E PD cũng là một chỉ tiêu rất quan trọng cho DN. Vì trong nền kinh Y X tế thị trường hiện nay, hiếm khi có sản phẩm nào được tiêu dùng một cách độc lập. Nó thường có sự bổ sung, thay thế cho nhau trong tiêu dùng. Ví dụ, sản phẩm thay thế của Sunny Mama là XO Mum, sữa Humama,… Khi tính toán được chính xác E PD , doanh nghiệp có thể dự tính được chính xác hơn về Y X lượng cầu đối với mặt hàng mà mình đang kinh doanh.
Do đó, đảm bảo cho việc kinh doanh đạt hiệu quả cao hơn. Cầu cá nhân và cầu thị trường 1. Khái niệm cầu cá nhân Cầu cá nhân là lượng hàng hóa hay dịch vụ mà từng cá nhân riêng lẻ có khả năng mua và sẵn sàng mua ở các mức giá khác nhau trong một thời gian nhất định (giả thiết các nhân tố khác không thay đổi). Cầu cá nhân là yếu tố cơ bản để hình thành nên cầu thị trường về một loại hàng hóa.
Mỗi cá nhân khác nhau sẽ có sự lựa chọn chi tiêu, mức độ phản ứng với sự biến động của giá cả hàng hóa và các yếu tố khác là khác nhau. Do đó, đường cầu của các cá nhân khác nhau là khác nhau. Ví dụ, cầu về sữa Sunny Mama của hai cá nhân X, Y là khác nhau. Sự lựa chọn tiêu dùng tối ưu Sự lựa chọn tối ưu là quyết định lựa chọn tiêu dùng tập hợp hàng hóa mà đem lại lợi ích cao nhất cho người tiêu dùng với sự hạn chế về thu nhập.
Theo tác giả Ngô Đình Giao (2006) “Việc tiêu dùng tối ưu có nghĩa là chúng ta chọn một cơ cấu tiêu dùng hàng hóa tối đa hóa tổng lợi ích. Điều kiện để tối đa hóa tổng lợi ích là: Lợi ích cận biên tính trên một đồng của hàng hóa này bằng lợi ích cận biên tính trên một đồng của hàng hóa khác và bằng tổng lợi ích cận biên tính trên một đồng bất kỳ của một hàng hóa nào khác”. MU A MU B MU C MU N . PA PB PC PN Trong đó: A, B, C,…, N là các loại hàng hóa khác nhau., PN là giá của hàng hóa A, B, C,…, N.
Sự lựa chọn điểm tiêu dùng tối ưu của người tiêu dùng bị ràng buộc bởi hai yếu tố là sở thích (lợi ích) và ngân sách của họ. Điểm tiêu dùng 18 được coi là tối ưu khi nó thỏa mãn được cả hai điều kiện cần và đủ là: MU A MU B PA PB I a *P b * P A B Tức là, điểm tiêu dùng tối ưu này phải đảm bảo được mức lợi ích tối ưu của người tiêu dùng và phù hợp với ngân sách của họ (thỏa mãn phương trình đường ngân sách). Như chúng ta đã biết, đường bàng quan (U) là thể hiện những sự kết hợp trong việc lựa chọn hai hàng hóa hay tất cả những sự lựa chọn đó đều mang lại một một mức lợi ích như nhau đối với người tiêu dùng. Đường ngân sách (I), được hiểu là tập hợp các điểm mô tả các phương án kết hợp tối đa hàng hóa hay dịch vụ mà người tiêu dùng có thể mua được với mức ngân sách của mình và giá cả của hàng hóa là cho trước.
Như vậy, căn cứ vào điều kiện lựa chọn tiêu dùng tối ưu, ta có thể xác định điểm tiêu dùng tối ưu dựa trên đồ thị 1. Giả sử, người tiêu dùng chỉ mua sữa Sunny Mama (A) và sinh tố (B). Khi đó, qua đồ thị ta xác định được điểm tiêu dùng tối ưu của người tiêu dùng là tại điểm E (QB;QA). Điểm E là điểm tiếp xúc của hai đường bàng quan (U) và đường ngân sách (I).
Nó đã thể hiện được điểm tiêu dùng này mang lại lợi ích tối đa là (U). Ngoài ra, điểm tiêu dùng E cũng đã đáp ứng yêu cầu về ngân sách của người tiêu dùng, vì nó nằm trên đường ngân sách I. A Điểm lựa chọn tiêu dùng tối ưu E Q U I O Q B Hình 1.2 Lựa chọn tiêu dùng tối ưu của người mua sữa Sunny Mama, sinh tố 19 Như vậy có thể kết luận: Điểm tiêu dùng tối ưu là điểm tiếp xúc của hai đường bàng quan (U) và đường ngân sách (I). Xây dựng đường cầu cá nhân và cầu thị trường a.
Xây dựng đường cầu cá nhân Đường cầu cá nhân là một đường có độ dốc xuống. Chúng ta có thể xây dựng đường cầu cá nhân về một loại hàng hóa thông qua điểm tiêu dùng tối ưu như sau: Ví dụ, một người tiêu dùng có tập hợp hàng hóa tiêu dùng là sinh tố (A) và sữa Sunny Mama (B). Sự lựa chọn tiêu dùng tối ưu ban đầu được xác định là tại điểm E1 (QB1;QA1) điểm tiếp xúc giữa U1 và I1.