Tổng quan luận án
Công trình nghiên cứu "Tội cướp tài sản dưới hình thức phạm tội có tổ chức theo pháp luật hình sự Việt Nam từ thực tiễn Thành phố Hồ Chí Minh" do nghiên cứu sinh Đoàn Trọng Chỉnh thực hiện dưới sự hướng dẫn khoa học của GS. Hồ Trọng Ngũ, thuộc chuyên ngành Luật Hình sự và Tố tụng hình sự (mã số 9.04) tại Học viện Khoa học Xã hội - Viện Hàn lâm Khoa học Xã hội Việt Nam.
Tính cấp thiết và khoảng trống nghiên cứu
Quá trình đổi mới đất nước, phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập kinh tế quốc tế sâu rộng đã thúc đẩy đô thị hóa nhanh chóng, song cũng làm phát sinh nhiều hiện tượng tiêu cực, điển hình là sự gia tăng của tình hình tội phạm xâm phạm sở hữu. Thành phố Hồ Chí Minh là trung tâm kinh tế trọng điểm với mật độ dân cư cao, biến động cơ học lớn, thành phần dân cư phức tạp, tạo điều kiện cho nhiều đối tượng hình sự lợi dụng trà trộn. Tình hình tội cướp tài sản dưới hình thức phạm tội có tổ chức tại đây diễn biến phức tạp, các đối tượng liên kết thành băng nhóm cơ động, hoạt động liên tỉnh, thường xuyên sử dụng vũ khí (đặc biệt là vũ khí nóng), gây hậu quả nghiêm trọng về tính mạng, sức khỏe, tài sản và trật tự an toàn xã hội.
Dữ liệu thống kê được phản ánh trong luận án cho thấy tính nghiêm trọng của loại tội phạm này tại địa bàn:
| Chỉ số thống kê (Giai đoạn 2011 - 2021) |
Giá trị ghi nhận |
| Tổng số bị cáo bị xét xử về tội cướp tài sản tại TP. Hồ Chí Minh |
1.618 bị cáo |
| Số vụ án xét xử trung bình mỗi năm |
156,2 vụ |
| Số bị cáo xét xử trung bình mỗi năm |
361,8 bị cáo |
| Tỷ lệ cướp tài sản có tổ chức trên tổng số vụ án cướp tài sản |
45,2% |
| Tỷ lệ cướp tài sản có tổ chức trên tổng số vụ phạm pháp hình sự |
2,4% |
Mặc dù diễn biến tội phạm rất phức tạp, công tác phòng ngừa và xử lý còn gặp nhiều bất cập xuất phát từ các khoảng trống nghiên cứu và thực tiễn pháp lý:
- Về mặt lý luận: Nhận thức về tiêu chí "câu kết chặt chẽ" trong phạm tội có tổ chức và mối tương quan trách nhiệm hình sự giữa những người đồng phạm chưa đạt được sự thống nhất giữa giới nghiên cứu luật học cũng như giữa các cơ quan, người tiến hành tố tụng ở các cấp, các ngành.
- Về quy định pháp luật: Các dấu hiệu định khung của tội cướp tài sản dưới hình thức phạm tội có tổ chức chưa thực sự cụ thể; văn bản hướng dẫn áp dụng của cơ quan có thẩm quyền ban hành đã lâu, không còn tương thích hoàn toàn với Bộ luật Hình sự (BLHS) hiện hành. Pháp luật chưa quy định cụ thể nguyên tắc lượng hình đối với từng vai trò của người đồng phạm (ngoài vai trò chủ mưu, cầm đầu, chỉ huy), dẫn đến nguy cơ áp dụng cảm tính. Đồng thời, BLHS hiện hành chưa phân định rõ ranh giới pháp lý giữa hành vi cướp tài sản do "tổ chức tội phạm" thực hiện với trường hợp "phạm tội có tổ chức", mà đều quy về tình tiết tăng nặng định khung "phạm tội có tổ chức".
- Về khoảng trống học thuật: Kể từ thời điểm sửa đổi Bộ luật Hình sự năm 2009 cho đến khi đề tài được triển khai, chưa có một luận án tiến sĩ luật học nào nghiên cứu trực tiếp, có hệ thống và toàn diện về tội cướp tài sản dưới hình thức phạm tội có tổ chức gắn với thực tiễn Thành phố Hồ Chí Minh.
Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu
Mục đích nghiên cứu của luận án là làm sáng tỏ những vấn đề lý luận, đánh giá thực trạng quy định pháp luật và thực tiễn áp dụng pháp luật hình sự về tội cướp tài sản dưới hình thức phạm tội có tổ chức tại Thành phố Hồ Chí Minh, từ đó đề xuất hệ thống giải pháp nâng cao chất lượng áp dụng pháp luật đối với tội danh này.
Để đạt được mục đích trên, luận án xác định 5 nhiệm vụ nghiên cứu cụ thể:
- Phân tích, đánh giá tổng quan tình hình nghiên cứu trong nước và ngoài nước liên quan đến đề tài, rút ra những khoảng trống tri thức cần tiếp tục giải quyết.
- Phân tích những vấn đề lý luận cơ bản về tội cướp tài sản dưới hình thức phạm tội có tổ chức.
- Phân tích các quy định của pháp luật hình sự Việt Nam và pháp luật hình sự một số quốc gia về tội cướp tài sản dưới hình thức phạm tội có tổ chức, so sánh nhằm tiếp thu những giá trị tiến bộ.
- Nghiên cứu, đánh giá thực trạng áp dụng pháp luật hình sự về tội cướp tài sản dưới hình thức phạm tội có tổ chức tại Thành phố Hồ Chí Minh; chỉ ra kết quả đạt được, hạn chế, bất cập và phân tích nguyên nhân của những tồn tại đó.
- Đề xuất hệ thống yêu cầu và giải pháp nâng cao chất lượng áp dụng quy định của pháp luật hình sự đối với tội cướp tài sản dưới hình thức phạm tội có tổ chức.
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: Tội cướp tài sản dưới hình thức phạm tội có tổ chức theo quy định của pháp luật hình sự Việt Nam; các quan điểm khoa học trong luật hình sự về đồng phạm, phạm tội có tổ chức; quy định pháp luật nước ngoài và thực tiễn áp dụng pháp luật tại Thành phố Hồ Chí Minh.
- Phạm vi nghiên cứu:
- Về chuyên ngành: Luật hình sự và tố tụng hình sự.
- Về phạm vi áp dụng thực tiễn: Tập trung vào hoạt động của Tòa án nhân dân với chủ thể là Thẩm phán và Hội thẩm (Hội đồng xét xử), giới hạn ở hai nội dung trọng tâm là định tội danh và quyết định hình phạt đối với người phạm tội cướp tài sản dưới hình thức phạm tội có tổ chức.
- Về thời gian: Thu thập và xử lý các số liệu xét xử, hồ sơ án điển hình từ năm 2011 đến hết năm 2021.
- Về không gian: Giới hạn trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh.
Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án
Luận án tiến hành phân loại và điểm luận có hệ thống các công trình nghiên cứu trong nước và quốc tế theo hai trục nội dung lớn: lý luận về đồng phạm/phạm tội có tổ chức và các nghiên cứu chuyên sâu về tội cướp tài sản.
Các công trình nghiên cứu ngoài nước
- Về chế định đồng phạm và phạm tội có tổ chức:
- Khoa học luật hình sự Liên bang Nga ghi nhận nhiều công trình phân tích chế định đồng phạm và các hình thức đồng phạm như: Giáo trình Luật hình sự (1998, Nhà xuất bản Dê-xa-lô Teid); Giáo trình Luật hình sự (1999, Nhà xuất bản Inphra); Giáo trình Luật hình sự do GS.TS. Borzenkop và GS.TS. Kanuixarop chủ biên (2002); các sách Bình luận khoa học BLHS Liên bang Nga của Xcuratov U. M (1997), GS. Radchenko (2000), Nhà xuất bản Inphra (2005). Các tài liệu này phân loại đồng phạm thành: nhóm người có bàn bạc, nhóm có tổ chức và tổ chức tội phạm.
- Tác phẩm chuyên khảo "Trách nhiệm hình sự trong đồng phạm" của P. Tennốv (1974, Mát-xcơ-va) điểm lại cuộc tranh luận lý luận giữa M. Sơnhâyđơ (cho rằng đồng phạm trong mọi trường hợp đều nguy hiểm hơn phạm tội đơn lẻ và phải chịu trách nhiệm hình sự cao hơn) và M.Đ. Sargôroxtki (cho rằng đồng phạm tự thân không làm thay đổi tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của tội phạm). Tác giả M. Malakhốp đi sâu phân tích vai trò cụ thể của người tổ chức, người thực hành, người xúi giục và người giúp sức.
- Giáo trình Luật hình sự Xô viết (phần chung, 1988) làm rõ khái niệm đồng phạm có thông mưu trước là sự thỏa thuận từ trước về hoạt động phạm tội chung.
- Về luật so sánh, tác giả chỉ ra sự khác biệt giữa hệ thống Anglo-Saxon (vương quốc Anh nhìn nhận đồng phạm mở rộng tới cả người có cảm tình, tỏ ý tán thành hành vi) và hệ thống luật lục địa (Cộng hòa Pháp phân biệt rõ chính phạm - Auteur principal và đồng phạm - Coauteur).
- Công trình "Tội xâm phạm sở hữu có tổ chức" của Stijn Van Daele (2008, Đại học Ghen, Bỉ) phân tích đặc điểm hoạt động băng nhóm, nhấn mạnh hai yếu tố lối sống lưu động và quốc tịch của tội phạm có tổ chức, đồng thời chỉ ra hạn chế trong chính sách hình sự của Bỉ khi chỉ đặt mục tiêu kìm hãm hoạt động thay vì loại trừ tội phạm.
- Về tội cướp tài sản:
- Các công trình luật hình sự tổng quát: "Luật hình sự" của Giăng Lacguyê (1994, Pháp); "Criminal Law" của Smith and Hogan (2005); "Criminal Law" của Storey Tony và Lidbury Alan (2007). Các tài liệu này nghiên cứu tội cướp trong hệ thống các tội phạm nên dung lượng còn hạn chế.
- Các công trình chuyên khảo thực nghiệm: Tác phẩm "Robbery Fact, Violent crimes against persons" của Chris E. (Carolina Academic Press) nghiên cứu các vụ cướp tại Mỹ giai đoạn 2006 - 2010, xác định tội cướp có tính bạo lực cao với tỷ lệ sử dụng súng là 42,2% và dùng dao là 8,6%. Cuốn "Criminal Investigation - A Method for Reconstructing the Past" của James O. Osterburg (2013) ghi nhận đặc trưng tội cướp có tổ chức tại Mỹ thường do nhóm 2-3 đối tượng thực hiện, cùng lứa tuổi, địa bàn hoạt động rộng, sử dụng súng, ô tô, mặt nạ và bố trí người canh chừng. Franklin E. Zimring và James Zuehl (1986) nghiên cứu so sánh các vụ cướp tài sản tại Chicago dưới góc độ tội phạm học và chính sách kiểm soát tội phạm. Bài viết của Deidre Joubert (2010) trên Tạp chí Khoa học và Nghệ thuật Quốc tế phân tích tội cướp trong luật Nam Phi và kiến nghị hoàn thiện pháp luật trước tình trạng Tòa án xét xử tùy tiện hành vi "cướp túi xách".
Các công trình nghiên cứu trong nước
- Về đồng phạm và phạm tội có tổ chức:
- Vấn đề tội phạm có tổ chức lần đầu tiên được đưa ra bàn thảo chính thức tại Hội thảo do Tạp chí Trật tự an toàn xã hội tổ chức vào tháng 3/1997 do Thiếu tướng Lê Thế Tiệm chủ trì.
- Tác phẩm chuyên khảo "Tội phạm có tổ chức - Lịch sử và vấn đề hôm nay" của GS. Hồ Trọng Ngũ (2000, NXB Công an nhân dân) là công trình nghiên cứu chuyên sâu đầu tiên xác định tội phạm có tổ chức là một hình thức đồng phạm đặc biệt - "đồng phạm có tổ chức".
- Sách "Luật hình sự so sánh" của PGS. Hồ Sỹ Sơn (2018) đối chiếu quy định về đồng phạm và phạm tội có tổ chức của Việt Nam với các nước (Nga, Pháp, Đức, Mỹ, Trung Quốc...).
- Sách "Tổ chức tội phạm ở Việt Nam - Những vấn đề lý luận và thực tiễn" do TS. Nguyễn Văn Hiển chủ biên (2016) tập trung phân định khái niệm "tổ chức tội phạm" và "phạm tội có tổ chức".
- Các luận án, luận văn: Luận án của TS. Trần Quang Tiệp (2000) về "Đồng phạm trong luật hình sự Việt Nam"; Luận án của TS. Nguyễn Trung Thành (2002) về "Phạm tội có tổ chức trong luật hình sự Việt Nam và việc đấu tranh phòng chống"; Luận văn của Nguyễn Minh Đức (trên cơ sở BLHS 1985), Nguyễn Thị Trang Liên (2009), Nguyễn Thị Thu Hòa (2011), Phí Thành Chung (2010 về quyết định hình phạt trong phạm tội có tổ chức). Ngoài ra có các bài báo khoa học của Lê Thị Sơn (1997), Dương Văn Tiến (1998), Trần Quang Tiệp (2003).
- Về tội cướp tài sản và tội xâm phạm sở hữu:
- Cấp độ luận án: Luận án của Nguyễn Văn Thanh (2016) về các tội xâm phạm sở hữu từ thực tiễn TP.HCM; Luận án của Đỗ Kim Tuyến (2001) về đấu tranh phòng chống tội cướp tài sản tại Hà Nội (góc độ tội phạm học); Luận án của Đoàn Công Viên (2018) về phòng ngừa tội xâm phạm sở hữu có tính chất chiếm đoạt tại TP.HCM; Luận án của Nguyễn Đức Thảo (2016) về phòng chống tội cướp tài sản tại TP.HCM.
- Cấp độ đề tài và luận văn: Đề tài cấp Bộ của TS. Lê Văn Hòe (2008) tại Trường Đại học Cảnh sát nhân dân; các luận văn thạc sĩ của Phạm Thị Hà Châu (2016, thực tiễn Quảng Ngãi), Đỗ Ngọc Lợi (2011, định tội danh theo BLHS 1999), Phạm Quốc Thuần (2008, yếu tố khách quan), Trần Văn Hiếu (2019), Nguyễn Thanh Dương (2008).
- Sách chuyên khảo và bình luận: Sách của Nguyễn Duy Thuần (1991), Mai Bộ (2010), Lê Đăng Doanh (2013); các sách bình luận khoa học BLHS của Trần Văn Luyện (2017), Nguyễn Đức Mai (2018), GS. Nguyễn Ngọc Hòa (2017), Trần Văn Biên và Đinh Thế Hưng (2017), Lê Quang Thành (2020).
Khoảng trống luận án lựa chọn giải quyết
Các công trình trước đây phần lớn tiếp cận tội cướp tài sản hoặc phạm tội có tổ chức dưới góc độ tội phạm học, điều tra tội phạm, hoặc chỉ nghiên cứu lý luận chung về đồng phạm. Nhiều công trình thực hiện trên nền tảng BLHS năm 1985 hoặc BLHS năm 1999, chưa cập nhật những sửa đổi căn bản của BLHS năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017). Luận án của Đoàn Trọng Chỉnh trực tiếp giải quyết khoảng trống: Nghiên cứu chuyên biệt tội cướp tài sản dưới hình thức phạm tội có tổ chức dưới góc độ khoa học luật hình sự thực định và tố tụng hình sự, đặt trọng tâm vào hoạt động định tội danh và quyết định hình phạt của Tòa án nhân dân tại địa bàn đặc thù là Thành phố Hồ Chí Minh trong giai đoạn 2011 - 2021.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Cơ sở lý thuyết và khung phân tích
Luận án vận dụng lý thuyết cấu thành tội phạm và lý thuyết đồng phạm trong khoa học luật hình sự:
- Khái niệm tội phạm tiếp cận theo nội dung: Dựa trên Điều 8 BLHS năm 2015, tội phạm được xác định là hành vi nguy hiểm cho xã hội, có lỗi, trái pháp luật hình sự và phải chịu hình phạt.
- Khái niệm tội cướp tài sản: Hành vi dùng vũ lực, đe dọa dùng vũ lực ngay tức khắc hoặc có hành vi khác làm cho người bị tấn công lâm vào tình trạng không thể chống cự được nhằm chiếm đoạt tài sản của người khác, do người có năng lực trách nhiệm hình sự và đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự thực hiện một cách cố ý, xâm phạm đồng thời quan hệ nhân thân và quan hệ sở hữu.
- Bốn đặc điểm pháp lý cơ bản của tội cướp tài sản: (1) Tính nguy hiểm cao cho xã hội do xâm phạm khách thể kép; (2) Chủ thể có năng lực trách nhiệm hình sự và đạt độ tuổi luật định; (3) Lỗi cố ý trực tiếp với mục đích tư lợi nhằm chiếm đoạt tài sản; (4) Tính trái pháp luật hình sự và tính phải chịu hình phạt.
- Khung lý thuyết về phạm tội có tổ chức: Căn cứ Khoản 2 Điều 17 BLHS năm 2015, phạm tội có tổ chức là hình thức đồng phạm có sự câu kết chặt chẽ giữa những người cùng thực hiện tội phạm. Luận án phân tích dấu hiệu bản chất thông qua hai thuộc tính:
- Mặt khách quan: Tính tổ chức chặt chẽ (liên kết thành băng, nhóm) và tính kế hoạch thống nhất (chuẩn bị công cụ, phân công nhiệm vụ, tính toán cách thức gây án và che giấu tội phạm).
- Mặt chủ quan: Đồng phạm có thông mưu trước ở mức độ cao, có sự thống nhất ý chí và ràng buộc chặt chẽ giữa các thành viên.
- Phân biệt các khái niệm giáp ranh: Phân định ranh giới giữa "phạm tội có tổ chức" (phương thức, tình tiết tăng nặng), "tội phạm có tổ chức" (hiện tượng, loại tội phạm), "tổ chức tội phạm" (tập hợp người bền vững, có cấu trúc chặt chẽ nhằm thực hiện tội phạm rất nghiêm trọng hoặc đặc biệt nghiêm trọng) và đối chiếu với định nghĩa "nhóm tội phạm có tổ chức" trong Công ước Liên Hợp Quốc về chống tội phạm có tổ chức xuyên quốc gia (UNTOC).
Phương pháp nghiên cứu
Luận án được triển khai dựa trên phương pháp luận duy vật biện chứng và duy vật lịch sử của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và quan điểm, chính sách hình sự của Đảng và Nhà nước Việt Nam.
Hệ thống phương pháp nghiên cứu cụ thể gồm:
- Phương pháp phân tích và tổng hợp: Sử dụng xuyên suốt các chương để mổ xẻ các học thuyết pháp lý, dấu hiệu pháp lý cấu thành tội phạm, các quy phạm pháp luật thực định và đánh giá các quan điểm lập pháp.
- Phương pháp thống kê: Ứng dụng chủ yếu tại Chương 3 để thu thập, phân loại, lượng hóa số liệu xét xử thực tế về các vụ án cướp tài sản có tổ chức tại TP.HCM giai đoạn 2011 - 2021; tổng hợp kết quả điều tra xã hội học và khảo sát ý kiến chuyên gia.
- Phương pháp kết hợp lý luận với thực tiễn: Đối chiếu các chuẩn mực lý luận về định tội và lượng hình với các bản án thực tế để rút ra vướng mắc, sai lầm và nguyên nhân.
- Phương pháp so sánh: Sử dụng tại Chương 2 và Chương 4 để đối chiếu các quy định của BLHS Việt Nam qua các thời kỳ lịch sử; so sánh quy định của Việt Nam với BLHS một số nước (Nga, Pháp, Đức, Bỉ, Mỹ...) và các điều ước quốc tế (Công ước Palermo).
- Phương pháp nghiên cứu án điển hình: Phân tích sâu các vụ án thực tế đã xét xử tại TP.HCM nhằm minh chứng cho những sai lầm trong định danh tội phạm và áp dụng hình phạt.
Nguồn tư liệu và dữ liệu
Nguồn dữ liệu bao gồm: Các văn bản quy phạm pháp luật hình sự Việt Nam (BLHS 1985, BLHS 1999 sửa đổi 2009, BLHS 2015 sửa đổi 2017) và các văn bản hướng dẫn áp dụng; báo cáo tổng kết xét xử và hồ sơ bản án hình sự sơ thẩm, phúc thẩm của Tòa án nhân dân tại Thành phố Hồ Chí Minh giai đoạn 2011 - 2021; số liệu khảo sát ý kiến chuyên gia (Thẩm phán, Kiểm sát viên, Điều tra viên); các công trình nghiên cứu khoa học, giáo trình, chuyên khảo và bài báo chuyên ngành trong và ngoài nước.
Nội dung chính theo từng chương
| Chương |
Tên chương |
Trọng tâm nội dung và luận điểm |
| Chương 1 |
Tổng quan tình hình nghiên cứu |
Điểm luận các công trình trong và ngoài nước; phân tích các khoảng trống học thuật; xác định nhiệm vụ nghiên cứu của luận án. |
| Chương 2 |
Những vấn đề lý luận và pháp luật hình sự về tội cướp tài sản dưới hình thức phạm tội có tổ chức |
Xây dựng khái niệm, đặc điểm; phân tích các yếu tố cấu thành; so sánh pháp luật quốc tế và Công ước Palermo; phân biệt với các khái niệm giáp ranh. |
| Chương 3 |
Thực tiễn áp dụng các quy định của pháp luật hình sự về tội cướp tài sản dưới hình thức phạm tội có tổ chức tại Thành phố Hồ Chí Minh |
Khái quát diễn biến tội phạm 2011 - 2021; phân tích thực tiễn định tội danh và lượng hình; chỉ ra các sai lầm, bất cập và nguyên nhân. |
| Chương 4 |
Yêu cầu và giải pháp nâng cao chất lượng áp dụng quy định của pháp luật hình sự về tội cướp tài sản dưới hình thức phạm tội có tổ chức |
Xác định các yêu cầu nâng cao chất lượng áp dụng pháp luật; đề xuất các giải pháp hoàn thiện lập pháp và nâng cao hiệu quả tư pháp. |
Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu
Chương này tập trung hệ thống hóa toàn diện các tài liệu nghiên cứu liên quan đến đề tài ở cả phạm vi quốc tế và trong nước:
- Phân tích sâu các khuynh hướng nghiên cứu lý luận hình sự về đồng phạm và phạm tội có tổ chức tại Liên bang Nga, các nước theo hệ thống Thông luật (Anh, Mỹ), hệ thống Dân luật (Pháp, Bỉ).
- Tổng hợp các công trình nghiên cứu trong nước về chế định đồng phạm, tổ chức tội phạm và nhóm tội xâm phạm sở hữu.
- Đánh giá những kết quả khoa học đã đạt được và khẳng định những vấn đề còn bỏ ngỏ: Thiếu công trình nghiên cứu chuyên sâu cấp tiến sĩ kết hợp giữa lý luận định tội danh, quyết định hình phạt đối với tội cướp tài sản có tổ chức với thực tiễn xét xử tại địa bàn trọng điểm TP.HCM theo tinh thần BLHS năm 2015.
Chương 2: Những vấn đề lý luận và pháp luật hình sự về tội cướp tài sản dưới hình thức phạm tội có tổ chức
Chương 2 làm rõ bản chất pháp lý của đối tượng nghiên cứu:
- Xây dựng khái niệm tội cướp tài sản dưới hình thức phạm tội có tổ chức: Khẳng định đây không phải là tội danh độc lập mà là trường hợp phạm tội cướp tài sản được thực hiện dưới hình thức đồng phạm phức tạp có sự câu kết chặt chẽ.
- Luận giải các đặc điểm cấu thành pháp lý:
- Về khách thể: Đồng thời xâm phạm quyền sở hữu tài sản và quyền nhân thân (tính mạng, sức khỏe).
- Về mặt khách quan: Thể hiện qua các hành vi dùng vũ lực, đe dọa dùng vũ lực ngay tức khắc, hoặc hành vi khác làm cho người bị tấn công lâm vào tình trạng không thể chống cự; hành vi có sự phân hóa vai trò và tính tổ chức, kế hoạch thống nhất.
- Về chủ thể: Cá nhân có năng lực trách nhiệm hình sự, đạt độ tuổi chịu trách nhiệm hình sự, liên kết từ 2 người trở lên.
- Về mặt chủ quan: Lỗi cố ý trực tiếp, có mục đích chiếm đoạt tài sản; có sự thông mưu trước ở cấp độ cao.
- Phân định các khái niệm giáp ranh: Tác giả làm rõ sự khác biệt giữa "phạm tội có tổ chức" (phương thức thực hiện hành vi, tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự) với "tổ chức tội phạm" (chủ thể xã hội đặc biệt, có cấu trúc chặt chẽ, hoạt động bền vững nhằm thực hiện các tội phạm rất nghiêm trọng hoặc đặc biệt nghiêm trọng). Đồng thời, đối chiếu khái niệm "nhóm tội phạm có tổ chức" của Công ước Liên Hợp Quốc về chống tội phạm có tổ chức xuyên quốc gia (nhóm có cơ cấu từ 3 người trở lên, tồn tại trong một thời gian, nhằm thu lợi bất chính) để tìm kiếm các giá trị có thể nội luật hóa.
- Phân tích quy định trong lịch sử lập pháp Việt Nam và luật hình sự một số nước trên thế giới (Nga, Đức, Pháp...), rút ra kinh nghiệm hoàn thiện quy định về phân hóa trách nhiệm hình sự.
Chương 3: Thực tiễn áp dụng các quy định của pháp luật hình sự về tội cướp tài sản dưới hình thức phạm tội có tổ chức tại Thành phố Hồ Chí Minh
Chương 3 trình bày các kết quả khảo sát thực chứng trong giai đoạn 2011 - 2021:
- Khái quát tình hình tội phạm: Trong 10 năm, Tòa án tại TP.HCM đã xét xử 1.618 bị cáo về tội cướp tài sản; số vụ cướp tài sản có tổ chức chiếm tỷ lệ 45,2%. Các băng nhóm hoạt động manh động, cơ động cao, sử dụng vũ khí nóng và có sự câu kết liên vùng.
- Thực tiễn định tội danh: Đánh giá hoạt động áp dụng pháp luật của Thẩm phán và Hội đồng xét xử. Phân tích các trường hợp định tội đúng, đồng thời mổ xẻ các vụ án điển hình có sai sót: Nhầm lẫn giữa đồng phạm giản đơn có bàn bạc trước với phạm tội có tổ chức; nhầm lẫn giữa tội cướp tài sản với tội cướp giật tài sản hoặc tội cưỡng đoạt tài sản trong các tình huống sử dụng vũ lực.
- Thực tiễn quyết định hình phạt: Phân tích việc áp dụng các nguyên tắc phân hóa trách nhiệm hình sự, cân nhắc tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ và vai trò cụ thể của từng bị cáo (người tổ chức, người thực hành, xúi giục, giúp sức). Chỉ ra thực trạng áp dụng hình phạt đôi khi còn thiếu nhất quán hoặc mang tính cảm tính.
- Xác định nguyên nhân của các vướng mắc, sai lầm:
- Nguyên nhân từ hệ thống pháp luật: Khái niệm "câu kết chặt chẽ" chưa được lượng hóa; thiếu văn bản giải thích áp dụng pháp luật kịp thời từ Hội đồng Thẩm phán TAND Tối cao; BLHS chưa tách bạch chế tài giữa "phạm tội có tổ chức" và hành vi của "tổ chức tội phạm".
- Nguyên nhân từ phía cơ quan và người tiến hành tố tụng: Trình độ nghiệp vụ của một bộ phận Thẩm phán, Kiểm sát viên còn hạn chế; công tác điều tra thu thập chứng cứ chứng minh tính câu kết chưa triệt để.
Chương 4: Yêu cầu và giải pháp nâng cao chất lượng áp dụng quy định của pháp luật hình sự về tội cướp tài sản dưới hình thức phạm tội có tổ chức
Chương 4 đưa ra phương hướng và các nhóm giải pháp xuất phát từ đòi hỏi thực tiễn:
- Xác định các yêu cầu nâng cao chất lượng áp dụng pháp luật: Đảm bảo nguyên tắc pháp chế xã hội chủ nghĩa; bảo đảm tính công bằng, phân hóa trách nhiệm hình sự và cá thể hóa hình phạt; bảo đảm quyền con người, quyền công dân; đáp ứng yêu cầu đấu tranh phòng chống tội phạm trong bối cảnh phát triển đô thị.
- Nhóm giải pháp hoàn thiện pháp luật hình sự:
- Kiến nghị sửa đổi, bổ sung quy định của BLHS: Cụ thể hóa tiêu chí định lượng và định tính của dấu hiệu "câu kết chặt chẽ"; nghiên cứu bổ sung quy định riêng biệt để xử lý nghiêm khắc hơn đối với trường hợp phạm tội do "tổ chức tội phạm" thực hiện.
- Đề xuất Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao ban hành Nghị quyết hướng dẫn áp dụng thống nhất các tình tiết định khung về phạm tội có tổ chức và nguyên tắc lượng hình đối với các vai trò đồng phạm.
- Nhóm giải pháp về áp dụng pháp luật và tổ chức thực hiện:
- Nâng cao năng lực chuyên môn và đạo đức nghề nghiệp cho Thẩm phán, Hội thẩm và cán bộ tiến hành tố tụng.
- Tăng cường sự phối hợp liên ngành giữa Công an, Viện kiểm sát và Tòa án trong việc điều tra, truy tố, xét xử các vụ án cướp tài sản có tổ chức.
- Tăng cường thanh tra, kiểm tra nghiệp vụ và rút kinh nghiệm xét xử các vụ án bị hủy, sửa do sai lầm trong định tội danh hoặc quyết định hình phạt.
Kết quả và những đóng góp mới
Đóng góp mới về mặt khoa học
Luận án tự xác định 4 đóng góp khoa học chính:
- Xây dựng khái niệm tội cướp tài sản dưới hình thức phạm tội có tổ chức và hệ thống hóa các dấu hiệu đặc trưng pháp lý, làm rõ tính chất của sự câu kết chặt chẽ và tính kế hoạch thống nhất.
- Phân tích, làm sáng tỏ nội dung các quy định của pháp luật hình sự Việt Nam về tội cướp tài sản dưới hình thức phạm tội có tổ chức trong sự đối sánh với lịch sử lập pháp và luật pháp quốc tế.
- Làm rõ thực tiễn áp dụng pháp luật hình sự về tội danh này tại Thành phố Hồ Chí Minh giai đoạn 2011 - 2020 (và số liệu cập nhật đến năm 2021); đánh giá khách quan kết quả đạt được trong định tội danh và quyết định hình phạt thông qua các vụ án cụ thể, chỉ rõ các sai lầm, vi phạm cùng nguyên nhân cụ thể.
- Xác định hệ thống các yêu cầu khách quan và đề xuất nhóm giải pháp khả thi nhằm nâng cao chất lượng áp dụng quy định của pháp luật hình sự về tội cướp tài sản dưới hình thức phạm tội có tổ chức trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh cũng như trên phạm vi toàn quốc.
Ý nghĩa lý luận và thực tiễn
- Ý nghĩa lý luận: Hệ thống hóa một cách khoa học các luận điểm về tội cướp tài sản, đồng phạm, phạm tội có tổ chức và tổ chức tội phạm; bổ sung cơ sở lý luận cho việc hoàn thiện chính sách hình sự và chế định đồng phạm trong luật hình sự Việt Nam.
- Ý nghĩa thực tiễn: Kết quả nghiên cứu cung cấp cơ sở thực tiễn phục vụ việc sửa đổi, bổ sung BLHS và ban hành các văn bản hướng dẫn áp dụng pháp luật; hỗ trợ các cơ quan tiến hành tố tụng trong công tác định tội danh và quyết định hình phạt chính xác; làm tài liệu tham khảo cho công tác đào tạo, nghiên cứu luật học.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
Hạn chế nghiên cứu
- Phạm vi chủ thể áp dụng pháp luật trong luận án chỉ giới hạn ở Tòa án và người tiến hành tố tụng là Thẩm phán, Hội thẩm nhân dân (Hội đồng xét xử); chưa đi sâu phân tích toàn diện hoạt động của Cơ quan điều tra và Viện kiểm sát.
- Nội dung áp dụng pháp luật chỉ tập trung vào hai khâu là định tội danh và quyết định hình phạt, không bao quát các khía cạnh khác như miễn trách nhiệm hình sự, miễn hình phạt hoặc giảm mức hình phạt đã tuyên.
- Dữ liệu thực nghiệm chỉ giới hạn trong phạm vi không gian Thành phố Hồ Chí Minh và khung thời gian từ năm 2011 đến hết năm 2021.
Hướng nghiên cứu tiếp
- Mở rộng phạm vi nghiên cứu thực tiễn áp dụng pháp luật sang giai đoạn điều tra, truy tố của lực lượng Cảnh sát điều tra và Viện kiểm sát nhân dân đối với các vụ án cướp tài sản có tổ chức.
- Mở rộng không gian nghiên cứu so sánh thực tiễn xét xử giữa các đô thị lớn (như Hà Nội, Đà Nẵng, Hải Phòng) với Thành phố Hồ Chí Minh.
- Tiếp tục nghiên cứu sâu việc nội luật hóa toàn diện các quy định của Công ước Liên Hợp Quốc về chống tội phạm có tổ chức xuyên quốc gia (UNTOC) vào pháp luật hình sự thực định Việt Nam đối với các tội danh xâm phạm sở hữu có tổ chức.
Giá trị tham khảo
Luận án là tài liệu tham khảo chuyên khảo có giá trị đối với nhiều nhóm đối tượng:
- Cơ quan lập pháp và cơ quan hướng dẫn áp dụng pháp luật: Các cơ quan của Quốc hội, Tòa án nhân dân Tối cao có thể tham khảo các lập luận lý luận và kiến nghị sửa đổi BLHS, xây dựng Nghị quyết hướng dẫn tình tiết "phạm tội có tổ chức".
- Thẩm phán, Kiểm sát viên, Điều tra viên: Cán bộ thực tiễn tại các cơ quan tiến hành tố tụng, đặc biệt tại Thành phố Hồ Chí Minh và các đô thị lớn, có thể tham khảo các phân tích thực tiễn, các sai lầm cần tránh trong định tội danh và lượng hình đối với các vụ án cướp tài sản có đồng phạm phức tạp.
- Giảng viên, nghiên cứu sinh và học viên chuyên ngành Luật: Cung cấp nguồn tư liệu học thuật hệ thống về chế định đồng phạm, các tội xâm phạm sở hữu và kỹ năng phân tích thực tiễn xét xử hình sự phục vụ công tác giảng dạy, học tập và nghiên cứu.
Câu hỏi thường gặp
1. Luận án phân biệt "phạm tội có tổ chức" và "tổ chức tội phạm" dựa trên những tiêu chí pháp lý nào?
Luận án chỉ ra "phạm tội có tổ chức" là thuật ngữ chỉ phương thức, trạng thái thực hiện tội phạm và là hình thức đồng phạm đặc biệt (tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự theo Điều 52 hoặc tình tiết định khung theo Điều 168 BLHS); sự phân công vai trò có thể rõ ràng hoặc chưa dứt khoát. Ngược lại, "tổ chức tội phạm" là danh từ chỉ một tập hợp người bền vững, có cấu trúc chặt chẽ, có nhóm thủ lĩnh chỉ huy, tính kỷ luật cao và được thành lập nhằm mục đích thực hiện các tội phạm rất nghiêm trọng hoặc đặc biệt nghiêm trọng.
2. Tình hình tội cướp tài sản có tổ chức tại Thành phố Hồ Chí Minh giai đoạn 2011 - 2021 có những con số thống kê nổi bật nào?
Trong giai đoạn 10 năm này, Tòa án tại TP.HCM đã xét xử 1.618 bị cáo về tội cướp tài sản, trung bình mỗi năm có 156,2 vụ với 361,8 bị cáo. Đáng chú ý, các vụ cướp tài sản dưới hình thức phạm tội có tổ chức chiếm tỷ lệ 45,2% trên tổng số các vụ cướp tài sản và chiếm 2,4% tổng số các vụ phạm pháp hình sự được phát hiện, điều tra, truy tố, xét xử trên địa bàn.
3. Dấu hiệu bản chất nào chứng minh tính "câu kết chặt chẽ" trong tội cướp tài sản có tổ chức?
Theo luận án, sự câu kết chặt chẽ được thể hiện qua hai phương diện:
- Về khách quan: Tính tổ chức chặt chẽ (sự liên kết, tập hợp thành băng nhóm) và tính kế hoạch thống nhất (sự tính toán, chuẩn bị kỹ lưỡng công cụ, phương tiện, phân công vai trò và phương thức che giấu tội phạm).
- Về chủ quan: Là hình thức đồng phạm có thông mưu trước ở mức độ cao, các đối tượng có sự liên kết ý thức chặt chẽ, cùng hướng tới mục đích phạm tội chung.
4. Bất cập lớn nhất trong quy định của Bộ luật Hình sự hiện hành đối với trường hợp phạm tội này là gì?
BLHS hiện hành áp dụng chung tình tiết tăng nặng định khung "phạm tội có tổ chức" cho cả hai trường hợp: phạm tội có tổ chức thông thường và hành vi cướp tài sản do các "tổ chức tội phạm" thực hiện. Điều này chưa phản ánh đúng tính chất và mức độ nguy hiểm xã hội cao hơn hẳn của tổ chức tội phạm, làm giảm tính phân hóa trách nhiệm hình sự và tính cá thể hóa hình phạt.
Kết luận
Luận án tiến sĩ luật học của nghiên cứu sinh Đoàn Trọng Chỉnh là công trình nghiên cứu chuyên sâu, kết hợp giữa lý luận luật hình sự với thực tiễn xét xử tội cướp tài sản dưới hình thức phạm tội có tổ chức tại địa bàn trọng điểm Thành phố Hồ Chí Minh giai đoạn 2011 - 2021. Tác giả đã làm rõ các tiêu chí cấu thành của sự câu kết chặt chẽ, phân định các khái niệm giáp ranh và chỉ ra những hạn chế, sai lầm cụ thể trong hoạt động định tội danh và quyết định hình phạt của Tòa án. Trên cơ sở đó, luận án xác lập hệ thống giải pháp lập pháp và áp dụng pháp luật có giá trị thực tiễn, đóng góp thiết thực cho công tác hoàn thiện thể chế tư pháp hình sự và nâng cao hiệu quả xét xử tội phạm có tổ chức tại Việt Nam.