Chương 1, Trường đại học Ngoại Thương. TS Ngô Thế Chi, PGS. TS Nguyễn Trọng Cơ (2015), Giáo trình phân tích tài chính doanh nghiệp, tái bản lần thứ 3 SVTH: Lương Thị Hoàn Hiếu 5 Khóa luận tốt nghiệp GVHD: Th.S Đào Nguyên Phi Đối với nhà quản trị doanh nghiệp Mối quan tâm hàng đầu của các nhà quản trị doanh nghiệp là kết quả hoạt động kinh doanh, hiệu quả sử dụng nguồn lực bao gồm cả vật chất và con người, khả năng sinh lời,. và hầu như các nội dung này đều xoay quanh việc tạo ra lợi nhuận cho các cổ đông nói riêng và của doanh nghiệp nói chung.
Đối với các nhà quản trị thì việc phân tích tình hình tài chính là phân tích nội bộ. Việc phân tích tài chính đối với nhà quản trị có nhiều mục tiêu: - Đánh giá quá trình hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp trong quá khứ thông qua các con số trên các báo cáo tài chính và các báo cáo quản trị; - Giúp các nhà quản trị đưa ra các quyết định đầu tư, quyết định tài trợ và các quyết định trong phân chia cổ tức; - Đưa ra các định hướng cho doanh nghiệp trong từng giai đoạn cụ thể: ngắn hạn, trung hạn và dài hạn. Đồng thời đánh giá các rủi ro tiềm tàng có thể xảy ra đối với doanh nghiệp nhằm có các biện pháp dự phòng từ trước. Đối với nhà đầu tư Nhà đầu tư ở đây có thể là cá nhân hoặc tổ chức.
Khi quyết định rót vốn vào đầu tư vào bất kỳ một doanh nghiệp nào họ đều quan tâm đến khả năng sinh lời. Hay nói một cách cụ thể đó là tiền có tạo ra được tiền hay không; liệu rằng trong 3 năm, 5 năm hay 10 năm họ sẽ thu hồi được vốn đầu tư. Từ những vấn đề trên đã thúc đẩy các nhà đầu tư quan tâm nhiều hơn đến lợi nhuận, cổ tức, giá trị cổ phiếu của doanh nghiệp trên thị trường và triển vọng phát triển của doanh nghiệp trong tương lai. Tất cả những yếu tố kể trên buộc các doanh nghiệp phải có một báo cáo tài chính “đẹp” nếu muốn thu hút nhiều nhà đầu tư tiềm năng nói chung và một bản phân tích tình hình tài chính minh bạch đáng tin cậy.
Đối với nhà cung cấp tín dụng Các quyết định cấp hay không cấp tín dụng, cấp tín dụng ngắn hạn hay dài hạn, người cho vay đều quan tâm đến khả năng hoàn trả nợ vay và tình trạng tín dụng của khách hàng. Tuy nhiên, đứng trước các quyết định khác nhau, nội dung và kỹ thuật phân tích tài chính có thể khác nhau. Phân tích tài chính đối với những khoản vay dài hạn khác với những khoản vay ngắn hạn. Nếu trước quyết định cho vay ngắn hạn, SVTH: Lương Thị Hoàn Hiếu 6 Khóa luận tốt nghiệp GVHD: Th.S Đào Nguyên Phi người cho vay quan tâm đến khả năng thanh toán ngắn hạn của doanh nghiệp, thì trước quyết định cho vay dài hạn, người cho vay lại đặc biệt quan tâm đến khả năng sinh lời từ hoạt động kinh doanh, đầu tư của doanh nghiệp.
Tất cả các yếu tố trên đều được thể hiện thông qua bản phân tích tình hình tài chính doanh nghiệp. Đối với cơ quan chức năng của Nhà nước Đối với các cơ quan Nhà nước như cơ quan thuế, quản lý thị trường, cục hải quan, doanh nghiệp là đối tượng chịu sự quản lý của Nhà nước trong mọi hoạt động kinh doanh, quá trình luân chuyển dòng tiền bên trong ra bên ngoài và ngược lại từ bên ngoài vào trong doanh nghiệp đều phải diễn ra minh bạch và chính xác, đặc biệt là đối với các doanh nghiệp có vốn đầu tư của Nhà nước. Các cơ quan chức năng sẽ thông qua phân tích báo cáo tài chính nhằm đánh giá quá trình hoạt động trong doanh nghiệp cũng như theo dõi việc thực hiện các nghĩa vụ nộp thuế của doanh nghiệp đối với Nhà nước. Nội dung phân tích tình hình tài chính 1.
Phân tích quy mô và cấu trúc tài chính 1. Phân tích biến động về quy mô và cơ cấu tài sản Phân tích cơ cấu tài sản Đánh giá tỷ lệ giữa các loại tài sản thông qua tỷ trọng của từng loại tài sản trong tổng tài sản. Giá trị của từng bộ phận tài sản Tỷ trọng của từng bộ phận tài sản = × 100 Tổng giá trị tài sản Phân tích biến động quy mô tài sản Phương pháp phân tích theo chiều ngang được sử dụng để đánh giá sự biến động của tài sản bằng cách so sánh giá trị của năm sau so với năm trước. Nếu giá trị năm sau > giá trị năm trước: Phản ánh tài sản của doanh nghiệp tăng lên và có điều kiện mở rộng hoạt động sản xuất kinh doanh.
Nếu giá trị năm sau < giá trị năm trước: Phản ánh tài sản của doanh nghiệp giảm, do đó quy mô sản xuất của doanh nghiệp có thể bị thu hẹp.7 7 Nguyễn Hương Ly. Khóa luận tốt nghiệp đại học (2018). Phân tích tình hình tài chính Công ty cổ phần Bê tông và Xây dựng Thừa Thiên Huế. SVTH: Lương Thị Hoàn Hiếu 7 Khóa luận tốt nghiệp GVHD: Th.S Đào Nguyên Phi 1.
Phân tích biến động về quy mô và cơ cấu nguồn vốn Phân tích cơ cấu nguồn vốn Đánh giá tỷ lệ giữa các loại nguồn vốn thông qua tỷ trọng của từng loại nguồn vốn trong tổng nguồn vốn. Giá trị của từng bộ phận nguồn vốn Tỷ trọng của từng bộ phận nguồn vốn = × 100 Tổng giá trị nguồn vốn Nếu tỷ trọng nợ phải trả > tỷ trọng vốn chủ sở hữu: điều này phản ánh doanh nghiệp đang đi vay nhiều hơn số vốn hiện có và doanh nghiệp cần chú trọng nhiều hơn đến các khoản nợ. Nếu tỷ trọng nợ phải trả < tỷ trọng vốn chủ sở hữu: có nghĩa là doanh nghiệp hoạt động chủ yếu dựa vào tiềm lực bên trong và khả năng độc lập tài chính cao hơn. Phân tích biến động quy mô nguồn vốn Việc phân tích được tiến hành thông qua so sánh tổng nguồn vốn, từng loại nguồn vốn trên bảng cân đối kế toán giữa kỳ phân tích với kỳ gốc cả về số tương đối và số tuyệt đối.
Qua đó thấy được quy mô nguồn vốn và sự biến động về quy mô nguồn vốn huy động của doanh nghiệp trong kỳ. Nếu giá trị năm sau > giá trị năm trước: Phản ánh nguồn vốn của doanh nghiệp tăng lên và doanh nghiệp đang có kế hoạch mở rộng quy mô sản xuất. Nếu giá trị năm sau < giá trị năm trước: Phản ánh nguồn vốn của doanh nghiệp đang suy giảm, điều này sẽ ảnh hưởng đến khả năng sản xuất của doanh nghiệp cũng như nhu cầu vốn cho việc kinh doanh. Phân tích tình hình đảm bảo nguồn vốn cho hoạt động sản xuất kinh doanh Khóa luận tốt nghiệp này sẽ phân tích tình hình đảm bảo nguồn vốn cho hoạt động sản xuất kinh doanh theo tính ổn định của nguồn tài trợ.
Nguồn vốn của doanh nghiệp gồm hai loại là: nguồn vốn dài hạn (nguồn vốn thường xuyên) và nguồn vốn ngắn hạn (nguồn vốn tạm thời). Nguồn vốn dài hạn là nguồn cung cấp vốn cho doanh nghiệp hoạt động có thời gian hoàn trả vốn trên một năm. Nguồn vốn ngắn hạn là nguồn cung cấp vốn cho doanh nghiệp hoạt động có thời gian hoàn trả vốn trong một năm. Như vậy, nguồn vốn dài hạn bao gồm vốn chủ sở hữu và nợ dài hạn, còn nguồn vốn ngắn hạn chính là nợ ngắn hạn.
SVTH: Lương Thị Hoàn Hiếu 8 Khóa luận tốt nghiệp GVHD: Th.S Đào Nguyên Phi Theo lý thuyết thì nguồn vốn dài hạn sẽ tài trợ cho tài sản dài hạn và nguồn vốn ngắn hạn sẽ tài trợ cho tài sản ngắn hạn, đây được coi là trạng thái lý tưởng. Tuy nhiên trên thực tế lại hiếm khi xảy ra trường hợp như vậy, mà chủ yếu sẽ diễn ra theo 2 trường hợp sau đây: Trường hợp 1: Nguồn vốn dài hạn tài trợ một phần cho tài sản ngắn hạn. Nghĩa là một phần tài sản ngắn hạn sẽ được tài trợ bởi nguồn vốn dài hạn do nguồn vốn này chưa cần phải hoàn trả hay sử dụng trong thời gian ngắn. Điểm đáng lưu ý khi sử dụng nguồn vốn dài hạn là chi phí sử dụng vốn sẽ lớn hơn so với nguồn vốn ngắn hạn, do đó doanh nghiệp cần cân nhắc kỹ trước khi thực hiện (đặc biệt chi phí sử dụng vốn chủ sử hữu là lớn nhất trong tất cả các loại nguồn vốn).
Trường hợp 2: Nguồn vốn ngắn hạn tài trợ một phần cho tài sản dài hạn. Nguồn vốn ngắn hạn thường có thời gian hoàn trả vốn ngắn trong vòng 1 năm hoặc dưới một năm, điều ngày có thể gây ra áp lực thanh toán đối với doanh nghiệp. Song việc sử dụng nguồn vốn ngắn hạn cũng có những ưu điểm nhất định đó là chi phí sử dụng vốn thấp, sử dụng nguồn vốn linh hoạt và không yêu cầu các khoản thế chấp chặc chẽ như nguồn vốn dài hạn. Nguồn vốn dài hạn + Nguồn vốn ngắn hạn = Tài sản dài hạn + Tài sản ngắn hạn (1) Hay Nguồn vốn dài hạn − Tài sản dài hạn = Tài sản ngắn hạn − Nguồn vốn ngắn hạn (2) Giá trị chênh lệch trong phương trình (2) được gọi là vốn hoạt động thuần.
Vốn hoạt động thuần dương tức là dùng nguồn vốn dài hạn để tài trợ cho tài sản ngắn hạn. Vốn hoạt động thuần âm nghĩa là dùng nguồn vốn ngắn hạn để tài trợ tài sản dài hạn. Phân tích khả năng thanh toán 1. Phân tích khả năng thanh toán ngắn hạn Khả năng thanh toán ngắn hạn của doanh nghiệp trước tiên thể hiện ở tính cân đối giữa các tài sản có thể chuyển đổi thành tiền và khoản nợ doanh nghiệp có nghĩa vụ phải trả trong một chu kỳ kinh doanh (hay một năm).
Các chỉ tiêu thường sử dụng: Hệ số thanh toán ngắn hạn Hệ số này cho biết khả năng thanh toán của doanh nghiệp đối với toàn bộ các khoản nợ ngắn hạn mà doanh nghiệp có trách nhiệm phải thanh toán trong vòng 1 năm hoặc 1 chu kì kinh doanh. SVTH: Lương Thị Hoàn Hiếu 9 Khóa luận tốt nghiệp GVHD: Th.S Đào Nguyên Phi Tài sản ngắn hạn Hệ số thanh toán ngắn hạn = Nợ ngắn hạn Ý nghĩa: Mỗi đồng nợ ngắn hạn của doanh nghiệp có bao nhiêu đồng tài sản ngắn hạn có thể sử dụng để thanh toán. Chỉ số càng cao thể hiện doanh nghiệp luôn sẵn sàng trả các khoản nợ. Chỉ số này cao quá thì sẽ làm giảm hiệu quả hoạt động và phản ánh khả năng quản lý tài sản lưu động không hiệu quả.
Nếu hệ số >1: Doanh nghiệp có khả năng thanh toán các khoản nợ vay, tình hình tài chính được đánh giá tốt.