Chương 1: Giới thiệu chung 1.1 Ly do chon TT.2 Mục tiêu nghiên cứu, các vẫn đề nghiên cứu.2 Các vấn đề nghiên cứu.3 Bồ cục của đề tài. - 0 nTnnn ng Tn nu ra Chương 2: Phân tích ngành đồ uống 2.1 Lịch sử hình thành và quá trình phát triển của ngành.2 Phân tích đặc điểm của ngành đồ uống Rủi ro cao hay thấp?. - c1 H211 HH1 n1 t re re 7 2.3 Phân tích tiềm năng triển vọng & tốc độ tăng trưởng. Phân tích nguồn nguyên liệu của ngành đồ uống.5 Phân tích năng lực sản xuất của ngành đồ uống.6 Phân tích mức độ cạnh tranh của ngành đồ uống ¬ Chương 3: Phân tích tài chính công ty SABECO giai đoạn 2016 - 2020 3.1 Lịch sử hình thành và quá trình phát triển của công ty.2 Phân tích ngành nghè kinh doanh .3 Phân tích các thành tựu đạt được .- L LQ TQ TQ n ST TK Hà nen kế 3.4 Phân tích các dòng sản phẩm và nhãn hiệu nỗi tiếng .5 Phân tích hệ thống phân phối .6 Phân tích năng lực quản fTỊ.1 Trude khi ban c6 phan cho Thai Lat.2 Sau khi ban c6 phan cho Thai Lame.7 Phân tích chién luoe kinh doanh.1 Phân tích môi trường bên ngoài.-- ccc 1212221112 21215211 x Hy key 26 3.2 Phân tích môi trường nội bỘ.3 Chiến lược cấp công ty.- 5c s21 121121121211 121 1g nga 30 Chương 4: Phân tích kết quả kinh doanh và dòng tiền của doanh nghiệp 4.1 Phân tích kết quả kinh doanh của SABECO Bì:)890:0020)).0092)72)aạMIA44AỒŨIỔAỘỔiiiidaaẢẢẢ.2 Phân tích dòng tiền của SABECO Bì:)890:0020)).0092)72)aạMIA44AỒŨIỔAỘỔiiiidaaẢẢẢ.
43 Nhận xét chung. H cọ 0 TT cà TT cà 0 9 HH0 00 34 Tài liệu tham kh ảo. - «c << Họ Họ HH HH TH HH BH g0. 54 1H Chuong 1: Gidi thieu 1.1LY DO CHON DE TAI Trong nên kinh tế thị trường các nhà đầu tư, doanh nghiệp đóng góp một vai trò rất quan trọng thúc đây tăng trưởng kinh tế.
Các doanh nghiệp thương mại, sản xuất trong nước đang ngày càng khăng định vị trí của mình, đóng một vai trò ngày càng to lớn trong công cuộc xây dựng và phát triển kinh tế. Sự tồn tại và phát triển của các doanh nghiệp phụ thuộc vào rất nhiều nhân tô như môi trường kinh doanh, trình độ quản lý, đặc biệt là trình độ quản lý tài chính. Điều đó được thê hiện qua sự hiểu biết về tài chính, tức là không chỉ năm vững tình hình tài chính của công ty mà còn có khả năng xử lý các thông tin tài chính của thị trường. Vì vậy, phân tích tài chính đóng vai trò quan trọng.
Phân tích tài chính mang lại nguồn thông tin quan trọng không chỉ đối với bản thân người lãnh đạo doanh nghiệp mà còn là tài liệu cần thiết của chủ đầu tư, các tổ chức tín dụng.của bất kỳ ai quan tâm đến tình hình tài chính của doanh nghiệp. Phân tích tài chính là công việc cần thiết đề có thể cung cấp thông tin cho nhiều đối tượng với nhiều mục đích khác nhau. Phân tích tài chính là cơ sở để doanh nghiệp xem xét sự vững mạnh về mặt tài chính của doanh nghiệp cũng như xác định đầy đủ và chính xác nguyên nhân và mức độ ảnh hưởng của các nhân tố đến tinh hình tài chính của doanh nghiệp để từ đó những nhà lãnh đạo có thể đưa ra những quyết định đúng đắn và kịp thời để doanh nghiệp hoạt động cảng hiệu quả. Nhận thức được tầm quan trọng trên nên em đã lựa chọn đề tài “Phân tích tình hình tài chính của công ty SABECO giai đoạn 2016 đến 2020”.
Phân tích tài chính đối với công ty SABECO có vai trò quan trọng, giúp công ty đánh giá được những điểm mạnh và yêu kém trong công tác quản lý tài chính trong năm trước, đồng thời giúp công ty có những bước định hướng đúng đắn trong giai đoạn sắp tới. Cùng với sự phát triển va áp lực cạnh tranh ngày cảng gia tăng của tất cả các ngành, các lĩnh vực trong nền kinh tế thị trường, ngành lương thực nói riêng ngày nay không chỉ đảm bảo an ninh thực phẩm Quốc gia như vốn có, mà thay đôi theo xu hướng tích cực hơn, tham gia vào các khâu cung ứng nguyên liệu xuất khâu, đầu vào cho ngành rượu bia và các mặt hàng phụ trợ có liên quan, phù hợp với xu hướng nền kinh tế mở ngày nay. MỤC TIỂU NGHIÊN CỨU, CÁC VẤN ĐÈ NGHIÊN CỨU 1. Mục tiêu nghiên cứu Với nhiều nghiên cứu các công ty có quy mô khác nhau, lĩnh vực khác nhau, nhưng nhìn chung về mục đích nghiên cứu của các tác giả là góp phần hoàn thiện hệ thống lý luận phân tích tình hình tài chính, tiến tới hoàn thiện hệ thống chuẩn mực kế toán, công khai minh bạch thông tin.
Nhaén diện được thực trạng tài chính của công ty đang gặp phải, những rủi ro có thê xảy ra. Thông qua việc phân tích đó để thấy được tình hình tài chính từ đó đưa ra các đánh giá, nhận xét, rút ra được ưu điểm và hạn chế, làm cơ sở đề tìm hướng khắc phục, đưa ra các giải pháp và kiến nghị giúp công ty có thê hoạt động và cạnh tranh tốt hơn trên thị trường, thu hút được các nhà đầu tư chiến lược. Các vẫn đề nghiên cứu - Khái quát một số lý luận cơ bản về phân tích tài chính doanh nghiệp. - Khái quát được thực trạng hoạt động phân tích tài chính tại TONG CTY BIA RUGU NƯỚC GIẢI KHÁT SÀI GÒN (SABECO), từ đó rút ra những kết quả đạt được và hạn chế trong phân tích tài chính ở Công ty.
- Đề xuất được những giải pháp khả thi để góp phần hoàn thiện hoạt động phân tài chinh tai TONG CTY BIA RUGU NUGC GIAI KHAT SAI GON (SABECO) 1.3 PHUONG PHAP NGHIEN CUU Phương pháp phân tích định tính: phương pháp so sánh hàng ngang, so sánh tỉnh hình tài chính của công ty qua các năm, phân tích tỷ trọng 1.4 BÓ CỤC CỦA ĐÈ TÀI Chương l: CHới thiệu Chương 2: Phân tích ngành đồ uống Chương 3: Phân tích tình hình tài chính của công ty SABECO từ giai đoạn 2016 đến 2020 Chương 4: Kết luận và các khuyến nghị Chuwong 2: PHAN TICH NGANH DO UONG 2. LICH SU HINH THANH VA PHAT TRIEN CUA NGANH Theo dòng lịch sử loại nước giải khát không ga (không CO2) đầu tiên xuất hiện vào thế kỷ 17 với thành phần pha chế gồm nước lọc, chanh và một chút mật ong. Năm 1676, Công ty Compagnie de Limonadiers tại Paris (Pháp) độc quyền bán các loại nước chanh giải khát. Hồi đó, người bán mang các thùng đựng nước chanh trên lưng và đi bán dọc đường phố Paris.
Đến năm 1767, tién si Joseph Priestley — một nhà hóa học người Anh — đã pha chế thành công loại nước giải khát có ga. 3 năm sau, nhà hóa học Thụy Điển Torbern Bergman phát minh loại máy có thê chế tạo nước có ga từ đá vôi bằng cách sử dụng acid sulfric. Máy của Bergman cho phép sản xuất loại nước khoáng nhân tạo với sô lượng lớn. Năm 1810, bằng sáng chế Mỹ đầu tiên dành cho các loại máy sản xuất hàng loạt nước khoáng nhân tạo được trao cho Simons và Rundell ở Charleston thuộc Nam Carolina (Mỹ).
Tuy nhiên, mãi đến năm 1832 loại nước khoáng có ga mới trở nên phố biến nhờ sự ra đời hàng loạt của loại máy sản xuất nước có ga trên thị trường. Người Việt luôn sống gần gũi, hài hòa với thiên nhiên, do vậy ngay từ xa xưa thức uống giải khát hàng ngày đều từ thiên nhiên, cỏ cây mà có. Hàng trăm năm qua, với người Việt đồ uống giải khát đơn giản chỉ là bát nước mưa chứa trong bẻ, lu. Đi làm đồng về, vục bát vào lu nước uỗng một hơi là đủ tỉnh người.
Những năm dau thé ky 20, nước nụ vối, lá vôi, nước trà xanh, chè vằng rất được ưa chuộng để giải khát hàng ngày ở khắp các làng quê, phố thị Bắc bộ. Người miền núi còn dùng một số lá, rễ hay thân cây rừng đun lên hãm lấy nước uống. Quả rừng cũng được ngâm làm thức uống rất mát và tốt cho sức khỏe. Tại Nam bộ, thời kỳ này ngoài nước mưa, thức uống giải khát còn lại tại các hàng quán thường là trà xanh hoặc nước dừa tươi.
Đến giữa thế kỷ 20, ở Hà Nội có thêm nước gạo rang đề bồ sung vào danh sách thức uống giải khát ít ỏi. Song thứ nước thơm mùi thính này nhanh chóng mắt hút khi nước cam, chanh, chè đỗ đen hay sau nữa là nước si ro xuat hiền. Ở Sài Gòn, kỹ thuật cơ khí phát triển tạo ra máy móc làm nên nhiều loại nước giải khát tuy mới mà quen như nước mía, rau má, nước ép trái cây. Tất cả đều được “sản xuất” trên các máy ép tay và “đóng chai” bằng các bịch nilon treo trên xe đây bán rong khắp phố phường.
Trà đá, loại thức uống quen thuộc cho tới tận ngày nay có lẽ xuất hiện tại Sài Gòn vào thời điểm này. Đây là thức uống cho người bình dân và các phu xe giải khát bởi được làm từ trà xấu hoặc trà nước cuối pha cùng nước đá vụn. Giai đoạn này cũng ghi nhận nước giải khát đóng chai bắt đầu phố biến theo chân người Pháp, xong đổi với người dân thì nó vẫn là thứ “xa xi” và chỉ bùng nô từ thập niên 70 trở di với các loại nước ngọt Con Cọp (BGT) hay Coca Cola. Cũng từ đây, các loại nước ngọt có gas, nước pha chế từ đường hóa học, sử dụng màu công nghiệp bắt đầu nở rộ và phát triển không ngừng.
PHAN TICH DAC DIEM CUA NGANH DO UONG Theo nghiên cứu Toàn cảnh ngành thực pham - d6 uéng Viét Nam nam 2018 của Vietnam Report, nganh thực phâm và đồ uống hiện chiếm khoảng 15% GDP và có xu hướng tăng lên; đồng thời đang chiếm tỷ lệ cao nhất trong cơ cấu chỉ tiêu hàng tháng của người tiêu dùng (chiếm khoảng 35% mức chỉ tiêu). - Rủi ro về vốn, cơ sở hạ tầng: Ngành bia rượu Việt Nam có 36 lượng nhà máy khá lớn tuy nhiên trang thiết bị chưa đồng đều. Hầu hết các cơ sở sản xuất đều chưa có hệ thống thiết bị đồng bộ, đặc biệt là rượu. Số các cơ sở có đầy đủ hệ thống rửa chai, chiết chai, dán nhãn in ngày tháng tự động chỉ chiếm một tỷ lệ rất nhỏ.
Đối với các cơ sở sản xuất nhỏ, công suất bé trong toàn ngành bia rượu thì máy móc thiết bị đều không đầy đủ và không đảm bảo chất lượng. Số lượng cơ sở này lại rất lớn nên có thê nói vốn sản xuất vẫn còn là một điểm yếu của ngành. - Rủi ro về thuế suất: bia rượu là các sản phâm chịu thuế tiêu thụ đặc biệt.