MỞ ĐẦU 1.1 Lý do chọn đề tài Nước ta là nước đang phát triển, không gian kinh tế đang được mở rộng, cả về chiều rộng lẫn chiều sâu, đây là những cơ hội rất lớn cho ngành ngân hàng phát triển, thị trường tiền tệ bước đầu phát triển hòa nhập với khu vực và quốc tế, hoạt động ngân hàng thương mại cũng đang được đổi mới từng bước bắt kịp sự phát triển công nghệ Ngân hàng thế giới. Lĩnh vực hoạt động của ngân hàng thương mại đóng vai trò quan trọng không thể thiếu trong công cuộc phát triển nền kinh tế đất nước. Ngân hàng là trung gian trong việc lưu thông tiền tệ trong nền kinh tế, điều tiết khối lượng tiền tệ trong lưu thông, kiềm chế và đẩy lùi lạm phát, ổn định giá cả, thực hiện chức năng “Đi vay và cho vay” đáp ứng kịp thời nhu cầu vốn cho nền kinh tế địa phương trên cơ sở đảm bảo an toàn và hiệu quả. Trong hoạt động của Ngân hàng thì hoạt động tín dụng là một trong những hoạt động tạo ra giá trị cho Ngân hàng.
Hoạt động tín dụng là nghiệp vụ chủ yếu của hệ thống ngân hàng Việt Nam, nó mang lại 80-90% thu nhập cho Ngân hàng, song rủi ro của nó cũng không nhỏ. Rủi ro tín dụng cao quá mức sẽ hủy hoại giá trị của Ngân hàng và có thể dẫn đến phá sản. Vì vậy cần có một chiến lược huy động và cho vay hiệu quả. Trong cơ cấu kinh tế của nước ta, nông nghiệp luôn là thế mạnh, cùng với các ngành kinh tế khác, nông nghiệp và nông thôn đang có những bước tiến vượt bậc.
Với khát vọng làm giàu chính đáng của mình, người nông dân đã và đang khai thác những tiềm năng kinh tế của địa phương kết hợp với kinh nghiệm và sức lao động của bản thân, áp dụng kỹ thuật mới vào sản xuất, đầu tư phát triển nhiều ngành nghề, làm giàu cho chính mình và tạo nhiều của cải vật chất cho xã hội. Để thực hiện được mục tiêu đó đòi hỏi phải có một nguồn vốn rất lớn, nếu chỉ dựa vào nguồn vốn sẵn có của các nông hộ và nhà kinh doanh sẽ không đủ. Vì vậy, đáp ứng nhu cầu về vốn cho việc phát triển nông nghiệp nông thôn là mục tiêu ưu tiên hàng đầu được Nhà nước đặc biệt quan tâm. Ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn (NHNo&PTNT) huyện Giồng Riềng là một Ngân hàng thương mại thuộc sở hữu Nhà nước đã giữ vai trò chủ đạo, phối hợp với nhiều tổ chức, chính trị, xã hội như: Hội nông dân, Hội GVHD: Trương Thị Bích Liên 12 SVTH: Cao Thị Diệu Linh Phân tích hoạt động tín dụng đối với nông hộ tại NHNo&PTNT chi nhánh huyện Giồng Riềng, phụ nữ, Hội cựu chiến binh,… để chuyển tải đồng vốn xuống cho các ngành kinh tế, đáp ứng tích cực và kịp thời vốn cho nhu cầu sản xuất, kinh doanh và chuyển dịch cơ cấu, cây trồng, vật nuôi.
Mặc dù đạt được những thành tích trong hoạt động tín dụng nhưng cũng còn bộc lộ những hạn chế kể cả khách quan và chủ quan của cả ngân hàng cũng như hộ vay vốn: địa bàn hoạt động rộng, dân cư ở không tập trung, đất đai manh mún, thuỷ lợi nội đồng, giao thông nông thôn đi lại khó khăn, đối tượng đầu tư thường gặp rủi ro cao, lúc được mùa thì lại rớt giá… Với mong muốn tìm hiểu vấn đề, trong thời gian thực tập tại chi nhánh NHNo&PTNT huyện Giồng Riềng là cơ hội để em nhìn nhận vấn đề một cách thực tế hơn. Vì vậy, em đã chọn đề tài “Phân tích hoạt động tín dụng đối với nông hộ tại ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn chi nhánh huyện Giồng Riềng, tỉnh Kiên Giang” làm đề tài tốt nghiệp.2 Mục tiêu nghiên cứu 1.1 Mục tiêu chung Phân tích tình hình tín dụng đối với nông hộ qua 3 năm (2008-2010). Từ đó đề xuất giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động tín dụng tại chi nhánh NHNo&PTNT Huyện Giồng Riềng.2 Mục tiêu cụ thể − Phân tích thực trạng và hiệu quả hoạt động kinh doanh tại Ngân hàng để có chiến lược kinh doanh hợp lý trong thời gian tới. − Xác định nhu cầu về vốn của nông dân và khả năng đáp ứng của Ngân hàng.
− Giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động tín dụng tại Ngân hàng.3 Phạm vi nghiên cứu − Về không gian: luận văn được thực hiện trên số liệu tại chi nhánh NHNo&PTNT huyện Giồng Riềng. − Về thời gian: thu thập và xử lý số liệu trong 3 năm (2008-2010), thời gian thực hiện đề tài từ 27/01/2011. GVHD: Trương Thị Bích Liên 13 SVTH: Cao Thị Diệu Linh Phân tích hoạt động tín dụng đối với nông hộ tại NHNo&PTNT chi nhánh huyện Giồng Riềng, CHƯƠNG 2 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ PHƯƠNG PHÁP LUẬN 2.1 Bản chất và chức năng của tín dụng 2.1 Khái niệm Tín dụng là quan hệ kinh tế được biểu hiện dưới hình thái tiền tệ hay hiện vật, trong đó người đi vay phải trả cho người cho vay cả gốc và lãi sau một thời gian nhất định.2 Bản chất của tín dụng − Chỉ thay đổi quyền sử dụng mà không thay đổi quyền sở hữu vốn tín dụng. − Có thời hạn tín dụng xác lập do thỏa thuận giữa người đi vay và người cho vay.
− Người sử hữu vốn tín dụng được nhận một phần thu nhập dưới hình thức lợi tức.3 Chức năng của tín dụng 2.1 Chức năng tập trung và phân phối lại vốn tiền tệ Đây là chức năng cơ bản của vốn tín dụng, nhờ chức năng này của tín dụng mà các nguồn vốn tiền tệ trong xã hội được điều hòa từ nơi thừa đến nơi thiếu để sử dụng nhằm phát triển kinh tế. Tập trung và phân phối lại vốn tiền tệ là hai mặt hợp thành chức năng cốt lõi của tín dụng. Tập trung vốn tiền tệ: nhờ sự hoạt động của hệ thống tín dụng mà các nguồn tiền nhàn rỗi được tập trung lại, bao gồm tiền nhàn rỗi của dân chúng, vốn bằng tiền của các doanh nghiệp, vốn bằng tiền của các đoàn thể xã hội,…. Phân phối lại vốn tiền tệ: đây là mặt cơ bản của chức năng này – đó là chuyển hóa để sử dụng các nguồn vốn đã tập trung được để đáp ứng nhu cầu sản xuất lưu thông hàng hóa cũng như nhu cầu tiêu dùng tiêu dùng trong toàn xã hội.
Cả hai mặt tập trung và phân phối lại vốn đều được thực hiện theo nguyên tắc hoàn trả vì vậy tín dụng có ưu thế rõ rệt, nó kích thích mặt tập trung vốn, nó thúc đẩy việc sử dụng vốn có hiệu quả. GVHD: Trương Thị Bích Liên 14 SVTH: Cao Thị Diệu Linh Phân tích hoạt động tín dụng đối với nông hộ tại NHNo&PTNT chi nhánh huyện Giồng Riềng, 2.2 Chức năng tiết kiệm tiền mặt và chi phí lưu thông cho xã hội Hoạt động tín dụng, trước hết tạo điều kiện thuận lợi cho sự ra đời của các công cụ lưu thông như tín dụng thương phiếu, kỳ phiếu ngân hàng, các loại sec, thẻ thanh toán…cho phép thay thế một số lượng lớn tiền mặt lưu hành nhờ đó giảm được chi phí có liên quan đến đúc tiền, in tiền… Với sự hoạt động của tín dụng, đặc biệt là tín dụng ngân hàng đã mở ra khả năng lớn trong việc mở tài khoản và giao dịch thanh toán thông qua ngân hàng dưới các hình thức chuyển khoản hoặc bù trừ cho nhau. Đồng thời hệ thống thanh toán qua ngân hàng ngày càng được mở rộng vừa cho phép giải quyết các mối quan hệ kinh tế vừa thúc đẩy quá trình đó tạo điều kiện cho nền kinh tế xã hội phát triển. Nhờ hoạt động tín dụng, các nguồn vốn đang nằm trong xã hội được huy động để sử dụng cho các nhu cầu của sản xuất và lưu thông hàng hóa sẽ có tác dụng tăng tốc độ chu chuyển vốn trong phạm vi toàn xã hội.3 Chức năng phản ánh và kiểm soát các hoạt động kinh tế Đây là chức năng phát sinh, hệ quả của hai chức năng nói trên.
Sự vận động của vốn tín dụng phần lớn là sự vận động gắn liền với sự vận động của vật tư, hàng hóa, chi phí, vì vậy tín dụng không những là tấm gương phản ánh hoạt động kinh tế của doanh nghiệp mà thông qua đó còn thực hiện việc kiểm soát các hoạt động đó nhằm ngăn chặn các hiện tượng tiêu cực lãng phí, vi phạm pháp luật,…trong hoạt động sản xuất kinh doanh (SXKD) của doanh nghiệp.2 Các hình thức tín dụng 2.1 Tín dụng thương mại 2.1 Khái niệm Tín dụng thương mại là quan hệ tín dụng giữa các công ty, xí nghiệp, các tổ chức kinh tế với nhau được thực hiện dưới hình thức mua bán chịu hàng hóa.2 Đặc điểm Tín dụng thương mại là tín dụng của những người SXKD, tuy là hình thức tín dụng phát triển rộng rãi nhưng không phải là một loại hình tín dụng chuyên nghiệp, sự tồn tại và phát triển của nó dựa trên sự tín nhiệm cũng như mối quan hệ về cung cấp hàng hóa dịch vụ giữa những người sản xuất kinh doanh. Đối tượng tín dụng thương mại là hàng hóa, không phải là tiền tệ. GVHD: Trương Thị Bích Liên 15 SVTH: Cao Thị Diệu Linh Phân tích hoạt động tín dụng đối với nông hộ tại NHNo&PTNT chi nhánh huyện Giồng Riềng, Sự vận động và phát triển của tín dụng thương mại bao giờ cũng phù hợp với sự phát triển của nền sản xuất và trao đổi hàng hóa, khi sản xuất hàng hóa phát triển mở rộng thì tín dụng thương mại cũng mở rộng và ngược lại.3 Công cụ Để đảm bảo hành vi mua bán chịu được thực hiện chắc chắn thì nhất thiết phải có công cụ của nó là thương phiếu (Commercial Bill) còn gọi là kỳ phiếu thương mại.4 Tác dụng Tín dụng thương mại thúc đẩy quá trình lưu thông hàng hóa, nhờ đó sản phẩm hàng hóa được vận động từ nơi sản xuất đến nơi tiêu dùng để đáp ứng các nhu cầu của nền kinh tế, với ý nghĩa đó tín dụng thương mại còn có tác dụng là thúc đẩy sự phát triển của nền kinh tế. Tín dụng thương mại góp phần giải quyết các nhu cầu về vốn cho nền kinh tế (vốn bằng hiện vật) nhờ đó đảm bảo sản xuất kinh doanh không những được duy trì một cách thường xuyên, mà còn có điều kiện để không ngừng mở rộng.
Tín dụng thương mại còn có tác dụng làm giảm lượng tiền mặt lưu hành, do mở rộng việc lưu thông thương phiếu nên góp phần ổn định lưu thông tiền tệ.2 Tín dụng ngân hàng 2.