Chương 1 CƠ SỞ KHOA HỌC CỦA ĐỀ TÀI 1. Hộ nông dân Hộ nông dân (nông hộ) là những hộ gia đình chủ yếu hoạt động nông nghiệp, bao gồm cả nghề rừng, nghề cá, và hoạt động phi nông nghiệp ở nông thôn nhưng khó phân biệt các hoạt động có liên quan với nông nghiệp và không có liên quan với công nghiệp. Hay nói cách khác, nông hộ có phương tiện kiếm sống từ ruộng đất và sử dụng chủ yếu lao động gia đình và sản xuất; luôn nằm trong hệ thống kinh tế rộng lớn nhưng về cơ bản được đặc trưng tham gia một phần vào thị trường với mức độ chưa hoàn chỉnh[1]. Tín dụng đối với hộ nông dân 1.
Khái niệm tín dụng Tín dụng là một phạm trù kinh tế, trong đó mỗi cá nhân hay tổ chức nhường quyền sử dụng một khối lượng giá trị hay hiện vật cho một cá nhân hay tổ chức khác với thời hạn hoàn trả cùng với lãi suất, cách thức vay mượn và thu hồi món vay… 1. Tín dụng đối với nông dân Để khuyến khích phát triển nông nghiệp, nông thôn, thời gian qua, Đảng và Nhà nước đã có nhiều chính sách quan trọng như: Nghị quyết số 26- NQ/TW ngày 05/8/2008 của Ban Chấp hành Trung ương về nông nghiệp, nông dân, nông thôn; Nghị định 41/2010/NĐ-CP về chính sách tín dụng đối với lĩnh vực nông nghiệp, nông thôn được Chính phủ ban hành năm 2010; Quyết định số 899/ QĐ-TTg ngày 10/6/2013 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Đề án “Tái cơ cấu ngành Nông nghiệp theo hướng nâng cao giá trị và phát triển bền vững”. Theo đó, Nghị định 41 đã được sửa đổi, bổ sung hoàn thiện thông qua Nghị định 55/2015/NĐ-CP và gần đây nhất là Nghị định số 116/2018/NĐ-CP ngày 07/9/2018 sửa đổi, bổ sung một số điểm của Nghị m 5 định số 55 về chính sách tín dụng phục vụ phát triển nông nghiệp, nông thôn, với nhiều điểm đột phá, như: Nâng gấp đôi mức cho vay không có tài sản bảo đảm đối với khách hàng cá nhân, hộ gia đình; Bổ sung chính sách khuyến khích các doanh nghiệp thực hiện đầu mối liên kết, ứng dụng công nghệ cao trong sản xuất nông nghiệp; Hoàn thiện chính sách xử lý rủi ro đối với khách hàng gặp khó khăn do nguyên nhân khách quan, bất khả kháng; Bổ sung quy định về quản lý dòng tiền liên kết trong sản xuất nông nghiệp, góp phần hạn chế rủi ro tín dụng và khuyến khích tổ chức tín dụng đẩy mạnh cho vay. Các nhân tố ảnh hưởng đến tiếp cận nguồn vốn vay của hộ nông dân đối với ngân hàng nông nghiệp 1.
Nhân tố khách quan a. Cơ chế cho vay Cơ chế cho vay ủy thác của Ngân hàng nông nghiệptiếp tục kế thừa, hoàn thiện và phát triển các nghiệp vụ cho vay trước đây của NHPV người nghèo, của các NHTM và Kho bạc Nhà nước,.đã giảm bớt được nhiều thủ tục hành chính, phù hợp thực tế hơn.Lãi suất cho vay Lãi suất cho vay ưu đãi do Thủ tướng Chính phủ quyết định cho từng thời kỳ theo đề nghị của Hội đồng quản trị NGÂN HÀNG NÔNG NGHIỆP, thống nhất một mức trong phạm vi cả nước, trừ các đối tượng được quy định tại khoản 3, khoản 5 Điều 2 Nghị định về tín dụng đối với người nông dân và các dối tượng chính sách khác do Hội đồng quản trị quyết định có phân biệt lãi suất giữa khu vực II và khu vực III. Lãi suất nợ quá hạn được tính bằng 130% lãi suất cho vay. Nhìn chung lãi suất cho vay của Ngân hàng nông nghiệpthấp hơn lãi suất của NHTM rất nhiều.
Rủi ro trong cho vay là rất cao do năng lực tài chính của người vay thấp hoặc không có điều kiện làm ăn thuận lợi. Cho vay với lãi suất thấp một mặt hỗ trợ tài chính cho người vay nhưng mặt khác đã m 6 tạo ra tư tưởng ỷ lại cho người vay; đồng thời chi tiêu ngân sách lớn, vượt quá khả năng của Nhà nước. Chính vì vậy, lãi suất cho vay có tác động không nhỏ đến hoạt động cho vay của Ngân hàng nông nghiệp Mặc dù, được Nhà nước thực hiện bao cấp một phần cho hoạt động của mình nhưng nếu lãi suất cho vay quá thấp thì Ngân hàng nông nghiệpchỉ có thể cho vay món nhỏ, với chi phí cho vay cao mới duy trì được hoạt của Ngân hàng mình. Ngược lại, nếu cho vay với lãi suất cao thì khối lượng cho vay sẽ giảm do năng lực tài chính của người vay thấp.
Bên cạnh đó nếu Ngân hàng nông nghiệpmở rộng hoạt động cho vay ngân sách phải gia tăng cấp bù hoặc phải có chính sách hỗ trợ hợp lý hoặc thay đổi chính sách lãi suất ưu đãi linh hoạt. Mạng lưới chi nhánh Ngân hàng và đội ngũ cán bộ ngân hàng Hộ nông dân vốn có học ít, lạc hậu, lại bận nhiều công việc đồng áng, … nên đi vay vốn họ thường rất sợ những thủ tục rườm rà, lãi suất cao, thời gian vay ngắn và phương pháp cho vay cứng nhắc của cán bộ tín dụng. hộ nông dân có thể không dám vay chỉ vì sợ không biết làm thủ tục vay, phải đi làm lại nhiều lần hoặc sợ phải chi phí một khoản ngầm nào đó thì cán bộ tín dụng mới làm thủ tục cho vay. Hoặc lãi suất vay cao, thời gian vay lại ngắn cũng cản trở hộ nông dân đi vay vốn.
Thông tin, hình thức quảng bá của các tổ chức tín dụng về vay vốn đến với hộ nông dân. Ngân hàng nông nghiệpchính thức quảng bá đến hộ nông dân về hoạt động của mình bằng nhiều hình thức như trưng bày, tuyên truyền thông qua các phương tiện thông tin đại chúng,. hộ nông dân sống ở các vùng nông thôn nên họ ít được tiếp cận với những thông tin cập nhật, không có điều kiện tự tìm tòi thông tin do quá bận rộn với công việc đồng áng. Vì vậy, hình thức quảng bá của các Ngân hàng nông nghiệpđến tận hộ nông dân sẽ giúp họ hiểu hơn về Ngân hàng nông nghiệp, hiểu rõ quyền lợi của mình khi vay vốn và hiểu được tầm quan trọng của vay vốn phát triển sản xuất để thoát khỏi nông dân đói và m 7 mong làm giàu từ chính mảnh đất của mình.
Trình độ chuyên môn và thái độ làm việc của cán bộ tín dụng có ảnh hưởng không nhỏ đến khả năng tiếp cận vốn tín dụng của hộ nông dân. Đa số hộ nông dân có trình độ thấp, ít được tiếp xúc với giấy tờ nên khi có nhu cầu vay vốn họ gặp rất nhiều khó khăn trong việc làm thủ tục giấy tờ xin vay vốn và họ rất cần thái độ làm việc cởi mở, hướng dẫn nhiệt tình của cán bộ tín dụng. Khi người dân nhận được thái độ lạnh nhạt, sự giúp đỡ kém nhiệt tình và hành động quát tháo từ cán bộ tín dụng thì họ có tâm lý tự ti, tự ái, sợ và không muốn vay vốn từ Ngân hàng nông nghiệp. Nhân tố chủ quan a.
Nhu cầu vay vốn của hộ nông dân Nhu cầu vay vốn của khách hàng có ảnh hưởng đến giá trị của món vay từ đó làm tăng hay giảm dư nợ cho vay của ngân hàng. Nhu cầu vay vốn của khách hàng là ngắn hạn hay trung và dài hạn ảnh hưởng đến cơ cấu dư nợ theo kỳ hạn của ngân hàng. Qua đó, ảnh hưởng đến tình hình huy động vốn của bản thân Ngân hàng. Nhìn chung các nguồn vốn huy động trung và dài hạn thường gặp khó khăn hơn các nguồn ngắn hạn, làm cho hoạt động cho vay trung và dài hạn của ngân hàng bị hạn chế.
Đồng thời, nhu cầu vay vốn của khách hàng cũng là yếu tố quyết định mở rộng cho vay ngắn, trung và dài hạn. Khách hàng chủ yếu của ngân hàng là các cá nhân, hộ gia đình có hoàn cảnh khó khăn có nhu cầu vay vốn để mở rộng sản xuất kinh doanh, cải thiện đời sống. Chính vì vậy, ngân hàng cần biết kết hợp giữa nhu cầu vay vốn của khách hàng và khả năng của ngân hàng hàng để có được chính sách cho vay hợp lý nhằm đảm bảo an toàn cho ngân hàng.Trình độ học vấn của hộ nông dân Trình độ học vấn và nhận thức của hộ nông dân là một yếu tố rất quan trọng tác động đến khả năng tiếp cận vốn tín dụng chính thức của hộ nông dân. Khi hộ nông dân có trình độ học vấn càng cao thì nhận thức việc vay vốn m 8 đầu tư phát triển sản xuất và sử dụng vốn của họ chắc chắn sẽ càng tốt.
Từ đó họ có những tính toán, lập dự án sản xuất cụ thể và đi đến quyết định vay vốn để sản xuất. Ngược lại với những hộ nông dân còn hạn chế về trình độ học vấn thì họ sẽ rất khó khăn trong việc tiếp cận với nguồn vốn tín dụng, đặc biệt là nguồn vốn tín dụng chính thức. Vì để vay được vốn từ các tổ chức này thì các hộ cần phải làm các thủ tục cần thiết, phải hiểu, viết và ký một số giấy tờ cần thiết. Đối với các hộ nếu có trình độ văn hóa thấp thường không tự tin, không dám mạo hiểm đầu tư sản xuất, họ sợ rủi ro.
Khái niệm về hiệu quả Hiệu quả của một quá trình hoạt động sản xuất được thể hiện bằng lợi ích mang lại cho cá nhân hay cộng đồng khi họ trực tiếp tham gia vào hoạt động sản xuất đó. Hiệu quả còn thể hiện sự tổng hòa giữa hai mặt chính là kinh tế và xã hội. Kinh tế và xã hội là hai phạm trù có tác động qua lại và hỗ trợ nhau trong tiến trình phát triển chung. Hiệu quả kinh tế: Hiệu quả kinh tế được hiểu là mối tương quan so sánh giữa lượng kết quả đạt được và lượng chi phí bỏ ra.
Hiệu quả kinh tế còn được thể hiện vào việc khi sản xuất ra các sản phẩm này có đáp ứng được mục tiêu đặt ra hay không? Có phù hợp với các điều kiện sẵn có không? Sự so sánh giữa các đầu vào và đầu ra như thế nào? Ví dụ như hiệu quả kinh tế của việc sử dụng vốn vay là tăng thu nhập cho hộ, đầu tư chuyển nghề. Hiệu quả xã hội: Hiệu quả xã hội được thể hiện bằng chỉ tiêu kết quả thu được về mặt xã hội đối với việc sử dụng các loại chi phí sản xuất. Hiệu quả xã hội của việc sử dụng vốn vay là giải quyết công ăn việc làm, đảm bảo công bằng xã hội, giảm thiểu tình trạng nghèo đói… Chỉ tiêu hiệu quả xã hội mang tính chất định tính.