Tổng quan nghiên cứu

Chi phí thuốc men thường chiếm tỷ trọng lớn, dao động từ 20% đến 40% trong tổng ngân sách y tế tại các quốc gia đang phát triển. Theo báo cáo từ Tổ chức Y tế Thế giới, hơn 50% các loại thuốc trên toàn cầu được kê đơn, cấp phát hoặc bán không phù hợp, đồng thời 50% người bệnh sử dụng thuốc sai hướng dẫn. Tại Việt Nam, quá trình chuyển đổi cơ chế quản lý sang tự chủ tài chính theo Nghị định 141/2016/NĐ-CP đặt ra thách thức lớn cho các cơ sở y tế công lập trong việc cân đối ngân sách và tối ưu hóa chi phí điều trị.

Bệnh viện Tuệ Tĩnh trực thuộc Học viện Y Dược học Cổ truyền Việt Nam là bệnh viện đa khoa hạng II với quy mô 100 giường bệnh kế hoạch và 18 khoa lâm sàng. Đây là đơn vị tuyến đầu thực hiện công tác khám chữa bệnh kết hợp giữa y học cổ truyền và y học hiện đại, chính thức vận hành cơ chế tự chủ tài chính từ tháng 6 năm 2019. Trong năm 2021, bệnh viện đã tiếp nhận và phục vụ 33.525 lượt khám chữa bệnh, đối mặt với áp lực lớn về quản lý nguồn quỹ khi tổng kinh phí mua sắm thuốc có hạn nhưng vẫn phải bảo đảm chất lượng điều trị.

Nghiên cứu được thực hiện nhằm giải quyết hai mục tiêu trọng tâm: mô tả cơ cấu danh mục thuốc đã sử dụng và xác định các vấn đề tồn tại trong quản lý, cung ứng thuốc tại Bệnh viện Tuệ Tĩnh năm 2021. Kết quả nghiên cứu cung cấp cơ sở dữ liệu thực chứng với 633 khoản mục thuốc khảo sát, hỗ trợ Hội đồng Thuốc và Điều trị điều chỉnh danh mục thuốc đấu thầu, nâng cao hiệu quả kinh tế y tế và đảm bảo mục tiêu điều trị an toàn, hợp lý.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu ứng dụng lý thuyết quản lý danh mục thuốc bệnh viện và các mô hình kinh tế y tế theo hướng dẫn chuẩn của Tổ chức Y tế Thế giới và Bộ Y tế:

  1. Lý thuyết phân tích chi phí tiêu thụ ABC: Dựa trên nguyên lý Pareto, phân định danh mục thuốc thành ba nhóm: hạng A chiếm khoảng 80% ngân sách (10% đến 20% khoản mục), hạng B chiếm khoảng 15% ngân sách (10% đến 20% khoản mục), và hạng C chiếm 5% ngân sách còn lại (60% đến 80% khoản mục).
  2. Lý thuyết phân loại tính chất ưu tiên VEN: Phân chia thuốc theo mức độ thiết yếu lâm sàng gồm thuốc tối cần (Vital - V), thuốc thiết yếu (Essential - E) và thuốc không thiết yếu (Non-essential - N) nhằm thiết lập thứ tự ưu tiên cung ứng.
  3. Mô hình ma trận kết hợp ABC/VEN: Tích hợp hai phương pháp để nhận diện các nhóm thuốc có chi phí tiêu thụ lớn nhưng hiệu quả điều trị chưa rõ ràng (nhóm AN, BN), từ đó can thiệp loại bỏ lãng phí ngân sách.

Khung pháp lý tham chiếu xuyên suốt gồm: Luật Dược 2016, Thông tư 21/2013/TT-BYT quy định tổ chức và hoạt động của Hội đồng Thuốc và Điều trị, Thông tư 30/2018/TT-BYT ban hành danh mục thuốc hóa dược thanh toán bảo hiểm y tế với 1.030 hoạt chất, Thông tư 05/2015/TT-BYT quy định 349 vị thuốc cổ truyền và Thông tư 15/2019/TT-BYT về đấu thầu thuốc tại các cơ sở y tế công lập. Các khái niệm then chốt được chuẩn hóa bao gồm: thuốc generic, biệt dược gốc, thuốc đơn thành phần, thuốc đa thành phần và thuốc thang quy đổi theo phương pháp đối pháp lập phương.

Phương pháp nghiên cứu

  • Thiết kế nghiên cứu: Nghiên cứu mô tả cắt ngang, sử dụng phương pháp hồi cứu số liệu tiêu thụ thuốc trong thời gian từ ngày 01/01/2021 đến ngày 31/12/2021 tại Bệnh viện Tuệ Tĩnh, thành phố Hà Nội.
  • Cỡ mẫu và phương pháp chọn mẫu: Lựa chọn mẫu toàn bộ, không lấy mẫu đại diện. Dữ liệu bao gồm 282 khoản mục thuốc hóa dược, 13 khoản mục thuốc cổ truyền/thuốc dược liệu thành phẩm và 170 vị thuốc cổ truyền được quy đổi chi tiết thành 338 khoản mục thuốc thang phục vụ điều trị nội trú và ngoại trú. Tổng cỡ mẫu khảo sát đạt 633 khoản mục với tổng giá trị sử dụng hơn 6.890 triệu đồng. Nghiên cứu áp dụng tiêu chuẩn loại trừ đối với thuốc viện trợ, thuốc tài trợ và thuốc thuộc các chương trình y tế quốc gia.
  • Lý do lựa chọn phương pháp phân tích: Việc kết hợp phương pháp tính tỷ trọng phân bố, phân tích nhóm tác dụng dược lý, phân tích ABC và ma trận ABC/VEN cho phép đánh giá toàn diện cả về số lượng, giá trị lẫn tính hợp lý trong chỉ định lâm sàng so với mô hình bệnh tật thực tế. Dữ liệu được trích xuất trực tiếp từ phần mềm quản lý Khoa Dược, làm sạch và xử lý thống kê trên phần mềm Microsoft Excel.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Cơ cấu danh mục thuốc đã sử dụng tại Bệnh viện Tuệ Tĩnh năm 2021 ghi nhận những đặc trưng riêng biệt của mô hình bệnh viện y học cổ truyền kết hợp y học hiện đại:

  • Cơ cấu nhóm thuốc: Thuốc thang chiếm số lượng khoản mục cao nhất với 338 khoản mục (53,4%), đạt giá trị sử dụng 2.893,4 triệu đồng (41,4%). Thuốc hóa dược chiếm 282 khoản mục (44,5%) nhưng dẫn đầu về giá trị sử dụng với 3.607,6 triệu đồng (52,3%). Thuốc cổ truyền và thuốc dược liệu dạng bào chế công nghiệp chỉ chiếm 13 khoản mục (2,1%) với giá trị khiêm tốn 436,8 triệu đồng (6,3%).
  • Phân bổ theo nhóm tác dụng dược lý: Đối với thuốc hóa dược, nhóm thuốc tim mạch chiếm tỷ trọng chi phí cao nhất với 1.032,5 triệu đồng (28,6% giá trị, 43 khoản mục), tiếp theo là nhóm hormone và nội tiết với 1.003,6 triệu đồng (27,8% giá trị, 32 khoản mục). Nhóm thuốc chống nhiễm khuẩn có số lượng khoản mục nhiều nhất (44 khoản mục) nhưng chỉ chiếm 11,0% giá trị sử dụng (396,8 triệu đồng). Đối với thuốc thang, nhóm thuốc khu phong trừ thấp đứng đầu với 108 khoản mục (32,0%) và 1.325,8 triệu đồng (46,5% giá trị), kế tiếp là nhóm an thần, định chí, dưỡng tâm với 69 khoản mục (20,4%) và 751,9 triệu đồng (26,4% giá trị).
  • Đặc điểm nguồn gốc và dạng dùng: Thuốc hóa dược sản xuất trong nước chiếm 60,0% khoản mục (169 khoản mục) nhưng chỉ chiếm 18,4% giá trị sử dụng (665,1 triệu đồng). Ngược lại, thuốc ngoại nhập chỉ chiếm 40,0% khoản mục (113 khoản mục) nhưng chiếm tới 81,6% giá trị sử dụng (2.942,5 triệu đồng). Vị thuốc Bắc nhập khẩu chiếm 47,1% khoản mục (80 vị) nhưng chiếm 78,1% chi phí vị thuốc (2.222,8 triệu đồng). Thuốc đường uống chiếm ưu thế tuyệt đối ở hóa dược với 58,5% khoản mục và 76,5% giá trị sử dụng (2.759,1 triệu đồng), trong khi thuốc y học cổ truyền sử dụng 100% qua đường uống.
  • Phân tích cơ cấu ABC/VEN: Danh mục thuốc tân dược và thành phẩm (295 khoản mục) có 35 khoản mục thuộc hạng A (11,9% khoản mục) chiếm 79,8% giá trị sử dụng (3.228,1 triệu đồng). Đáng chú ý, chỉ riêng 1 khoản mục khoáng chất và vitamin trong nhóm A đã tiêu tốn tới 391,9 triệu đồng (12,1% tổng giá trị nhóm A).

Thảo luận kết quả

Cơ cấu tiêu thụ thuốc phản ánh sự tương thích chặt chẽ với mô hình bệnh tật năm 2021 tại Bệnh viện Tuệ Tĩnh, nơi bệnh hệ tuần hoàn chiếm 26,14% (8.763 lượt khám) và bệnh nội tiết, chuyển hóa chiếm 21,52% (7.213 lượt khám). Việc nhóm thuốc tim mạch và nội tiết chiếm hơn 56% tổng chi phí thuốc hóa dược chứng minh bác sĩ đã ưu tiên nguồn lực điều trị cho các bệnh lý mãn tính phổ biến ở người cao tuổi. Bên cạnh đó, việc nhóm thuốc chống nhiễm khuẩn chiếm tỷ trọng chi phí thấp (11,0%) cho thấy bệnh viện đã tận dụng tốt các bài thuốc y học cổ truyền có tác dụng thanh nhiệt giải độc để hỗ trợ điều trị các trường hợp nhiễm trùng mức độ nhẹ đến vừa, giúp giảm áp lực sử dụng kháng sinh.

Tuy nhiên, nghiên cứu làm sáng tỏ gánh nặng chi phí lớn đến từ thuốc nhập khẩu. Tỷ lệ tiền thuốc ngoại nhập chiếm tới 81,6% ở hóa dược và 78,1% ở vị thuốc cổ truyền là nguyên nhân chính khiến ngân sách bị thâm hụt trong điều kiện tự chủ. Xu hướng này có sự tương đồng với kết quả nghiên cứu tại Bệnh viện Y học cổ truyền Hưng Yên và Bệnh viện Quân y 354, nhưng đặt ra yêu cầu cấp bách phải thay thế bằng các hoạt chất sản xuất trong nước có giá thành rẻ hơn.

Để tối ưu hóa công tác quản trị trực quan, các dữ liệu này có thể được biểu diễn thông qua biểu đồ cột chồng so sánh tỷ lệ khoản mục và giá trị của thuốc nội - thuốc ngoại, kết hợp ma trận phân tán ABC/VEN nhằm giúp Hội đồng Thuốc và Điều trị khoanh vùng chính xác các thuốc thuộc nhóm AN để cắt giảm ngay trong kỳ đấu thầu tiếp theo.

Đề xuất và khuyến nghị

Nhằm hoàn thiện danh mục thuốc, nâng cao an toàn điều trị và sử dụng hiệu quả nguồn tài chính sau tự chủ, luận văn đề xuất 4 giải pháp trọng tâm:

  1. Tái cơ cấu danh mục thuốc đấu thầu: Hội đồng Thuốc và Điều trị cần chủ động rà soát, thay thế các thuốc biệt dược gốc và thuốc ngoại nhập có chi phí cao bằng các thuốc generic sản xuất trong nước đã được chứng minh tương đương sinh học. Mục tiêu đặt ra là nâng tỷ trọng giá trị sử dụng thuốc nội địa từ 18,4% lên tối thiểu 35% trong giai đoạn 2022-2024.
  2. Kiểm soát chặt chẽ việc chỉ định các nhóm thuốc chi phí cao: Khoa Dược phối hợp các khoa lâm sàng xây dựng tiêu chuẩn hướng dẫn sử dụng cho nhóm thuốc khoáng chất, vitamin và các chế phẩm bổ trợ thuộc nhóm AN (hiện chiếm 12,1% chi phí nhóm A). Thiết lập quy trình giám sát đơn thuốc hàng tuần nhằm cắt giảm tối thiểu 15% kinh phí sử dụng các thuốc không thực sự thiết yếu trong vòng 6 tháng.
  3. Phát triển nguồn dược liệu trong nước và năng lực tự bào chế: Ban Giám đốc bệnh viện cần ban hành chính sách ưu tiên sử dụng 90 vị thuốc Nam sẵn có, mở rộng quy mô xưởng sản xuất chế biến vị thuốc cổ truyền (hiện chiếm 46,5% khoản mục và 55,0% giá trị). Giải pháp này giúp giảm dần tỷ trọng 78,1% chi phí phụ thuộc vào vị thuốc Bắc nhập khẩu, tiết kiệm khoảng 20% ngân sách mua sắm dược liệu trước năm 2025.
  4. Chuẩn hóa công tác dự trù và quản lý số lượng thầu: Phòng Kế hoạch tổng hợp cùng Khoa Dược cần ứng dụng hệ thống phần mềm quản trị thông minh để theo dõi sát diễn biến mô hình bệnh tật. Điều này đảm bảo tỷ lệ thực hiện hợp đồng thầu của từng mặt hàng nằm trong giới hạn kiểm soát 80% đến 120% theo quy định tại Thông tư 15/2019/TT-BYT, loại bỏ tình trạng thuốc trúng thầu nhưng không phát sinh nhu cầu sử dụng.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Nội dung và kết quả nghiên cứu mang lại giá trị ứng dụng thiết thực cho các nhóm đối tượng:

  • Ban Giám đốc và Hội đồng Thuốc & Điều trị tại các bệnh viện: Sử dụng làm tài liệu tham khảo thực tiễn để xây dựng chiến lược quản trị danh mục thuốc, cân đối chi tiêu y tế khi chuyển đổi mô hình sang tự chủ tài chính theo quy định nhà nước.
  • Dược sĩ bệnh viện và cán bộ quản lý dược: Cung cấp phương pháp luận và bộ công cụ phân tích ABC/VEN chuẩn mực để áp dụng trực tiếp vào hoạt động lập kế hoạch thầu, kiểm soát tồn kho và nâng cao chất lượng công tác dược lâm sàng.
  • Học viên, nghiên cứu sinh chuyên ngành Tổ chức Quản lý Dược: Nguồn tư liệu học thuật phong phú về mô hình bệnh tật và thực trạng cung ứng thuốc tại cơ sở y tế kết hợp Đông - Tây y, phục vụ viết luận văn, luận án và các đề tài kinh tế y tế.
  • Chuyên viên thẩm định Bảo hiểm Xã hội: Cung cấp góc nhìn thực tế về cơ cấu chi phí thuốc thang, thuốc thành phẩm và thuốc hóa dược, hỗ trợ quá trình giám định chi phí khám chữa bệnh bảo hiểm y tế minh bạch, chính xác.

Câu hỏi thường gặp

Thuốc thang chiếm tới 53,4% khoản mục nhưng vì sao giá trị sử dụng chỉ đứng thứ hai tại Bệnh viện Tuệ Tĩnh?
Đặc thù điều trị y học cổ truyền áp dụng phương pháp đối pháp lập phương, đòi hỏi gia giảm vị thuốc linh hoạt theo thể bệnh của từng cá nhân. Do đó, 170 vị thuốc đã được quy đổi thành 338 thang thuốc khác nhau, tạo ra số lượng khoản mục rất lớn nhưng giá thành trung bình mỗi thang thuốc thảo mộc thấp hơn nhiều so với các thuốc hóa dược đặc trị.

Nguyên nhân nào khiến thuốc hóa dược nhập khẩu chiếm tới 81,6% tổng chi phí thuốc tân dược?
Mặc dù thuốc sản xuất trong nước chiếm ưu thế về số lượng với 169 khoản mục (60,0%), các thuốc điều trị bệnh lý phức tạp như tim mạch, nội tiết và một số biệt dược gốc đắt tiền vẫn phải sử dụng nguồn nhập khẩu do thị trường trong nước chưa đáp ứng được hoạt chất tương đương hoặc giá trúng thầu thuốc ngoại ở mức cao.

Phương pháp phân tích ma trận ABC/VEN đem lại lợi ích cụ thể gì cho bệnh viện tự chủ?
Phương pháp này giúp phân loại chi tiết từng khoản mục thuốc theo mối tương quan giữa giá trị tài chính và mức độ ưu tiên lâm sàng. Nhờ đó, người quản lý dễ dàng phát hiện các thuốc nhóm AN và BN (chi phí cao nhưng ít thiết yếu) để thay thế hoặc loại bỏ, giúp tối ưu hóa dòng tiền và bảo toàn nguồn quỹ hoạt động của đơn vị.

Vì sao nhóm thuốc tim mạch và nội tiết lại chiếm tỷ trọng chi phí cao nhất trong danh mục hóa dược?
Số liệu mô hình bệnh tật năm 2021 cho thấy bệnh hệ tuần hoàn chiếm 26,14% (8.763 lượt) và bệnh nội tiết, chuyển hóa chiếm 21,52% (7.213 lượt). Đây là hai nhóm bệnh mãn tính chiếm tỷ lệ người bệnh cao nhất tại bệnh viện, đòi hỏi phác đồ điều trị lâu dài với các thuốc đặc trị có đơn giá cao.

Việc bệnh viện tự bào chế vị thuốc cổ truyền mang lại giá trị gì cho công tác điều trị?
Nghiên cứu chỉ ra 79 vị thuốc do bệnh viện tự chế biến (chiếm 46,5% khoản mục) mang lại giá trị sử dụng đạt 1.566,2 triệu đồng (55,0%). Quá trình sao tẩm, chế biến đạt chuẩn (như sao vàng, sao đen) giúp tăng hiệu lực trị liệu của các vị thuốc như bạch truật, cam thảo, đồng thời giúp bệnh viện chủ động kiểm soát chất lượng thành phẩm.

Kết luận

  • Luận văn đã phân tích toàn diện 633 khoản mục thuốc đã sử dụng tại Bệnh viện Tuệ Tĩnh năm 2021 với tổng giá trị tiêu thụ đạt hơn 6.890 triệu đồng.
  • Cơ cấu danh mục thuốc có sự kết hợp đặc thù: thuốc thang dẫn đầu về số lượng khoản mục (53,4%), trong khi thuốc hóa dược chiếm tỷ trọng chi phí cao nhất (52,3%).
  • Mô hình sử dụng thuốc bám sát mô hình bệnh tật, tập trung chủ yếu vào hai nhóm bệnh tuần hoàn (26,14%) và nội tiết, chuyển hóa (21,52%).
  • Nghiên cứu chỉ ra hạn chế lớn về mặt kinh tế khi chi phí phụ thuộc vào thuốc hóa dược nhập khẩu (81,6%) và vị thuốc Bắc (78,1%), kèm theo sự xuất hiện của các mặt hàng bổ trợ chi phí cao trong nhóm A.
  • Hệ thống giải pháp đề xuất tập trung vào việc gia tăng tỷ lệ sử dụng thuốc generic nội địa, phát huy nguồn dược liệu Nam và siết chặt quy trình dự trù thầu theo đúng quy định Thông tư 15/2019/TT-BYT.

Các nhà quản lý y tế và dược sĩ tại các cơ sở khám chữa bệnh công lập nên ứng dụng ngay mô hình phân tích ma trận ABC/VEN để rà soát danh mục thuốc hiện hành, chủ động xây dựng kế hoạch cung ứng thuốc an toàn, hợp lý và tối ưu hóa hiệu quả tài chính trong kỷ nguyên tự chủ.