ĐẶT VẤN ĐỀ Thuốc là một hàng hóa đặc biệt để bảo vệ tính mạng và nâng cao sức khoẻ cho bệnh nhân và thường chiếm từ 20 – 40% của tổng ngân sách dành cho y tế ở nhiều nước đang phát triển. Chi phí ngày càng tăng và thiếu nguồn nhân lực thường khiến cho hệ thống y tế không có đủ khả năng để cung ứng số lượng thuốc cần thiết đáp ứng nhu cầu điều trị của bệnh nhân [42]. Hơn nữa, việc sử dụng thuốc chưa hiệu quả và chưa hợp lý đang là vấn đề nghiêm trọng, mang tính toàn cầu gây lãng phí tài nguyên, nguồn lực và ảnh hưởng tiêu cực tới sức khỏe bệnh nhân. Theo nghiên cứu của Tổ chức Y tế Thế Giới (WHO), có hơn 50% các loại thuốc được kê đơn, cấp phát hoặc bán không phù hợp và 50% bệnh nhân dùng thuốc không đúng hướng dẫn điều trị [44].
Một số vấn đề có liên quan đến sử dụng thuốc như thực hành kê đơn chưa tuân thủ đầy đủ các hướng dẫn điều trị chuẩn, thuốc chất lượng kém dẫn đến hiệu quả điều trị không cao hoặc bệnh nhân phải sử dụng thuốc đắt tiền một cách không cần thiết… [42]. Tại Việt Nam, Chính sách Quốc gia về thuốc đã đề ra mục tiêu rõ ràng phải cung ứng đủ thuốc cho nhu cầu phòng bệnh, chữa bệnh của nhân dân với chất lượng bảo đảm, giá hợp lý và sử dụng thuốc phải hợp lý, an toàn, hiệu quả [15]. Bệnh viện là cơ sở khám bệnh, chữa bệnh và chăm sóc sức khỏe cho bệnh nhân. Việc cung ứng thuốc đóng vai trò quan trọng đến chất lượng và hiệu quả chữa bệnh của bệnh viện.
Thêm vào đó, thị trường dược phẩm tại Việt Nam rất đa dạng về cả số lượng, chủng loại thuốc và nguồn cung cấp. Đây vừa là điều kiện thuận lợi cho cung ứng thuốc nhưng cũng gây khó khăn cho việc lựa chọn, sử dụng thuốc chữa bệnh của thầy thuốc cũng như khoa Dược. Vì thế, sau khi đã xây dựng được danh mục thuốc (DMT) bệnh viện, một trong những yếu tố hàng đầu quyết định đến công tác cung ứng thuốc chính là sử dụng thành công danh mục thuốc trúng thầu của bệnh viện. Bệnh viện Tuệ Tĩnh trực thuộc Học viện Y Dược học Cổ truyền Việt Nam là bệnh viện loại II với 100 giường bệnh kế hoạch.
Đây là bệnh viện thực hành, bệnh viện tuyến đầu của cả nước chữa bệnh bằng y học cổ truyền kết hợp y học hiện đại. Thực hiện Nghị định 141/2016/NĐ-CP, từ tháng 6 năm 2019, Bệnh viện Tuệ Tĩnh chuyển sang hoạt động tự chủ về tài chính. Đây là một thách thức rất lớn đối với một bệnh viện chữa bệnh chủ yếu bằng thuốc y học cổ truyền (YHCT). Bởi lẽ, bệnh viện vừa phải đảm bảo mục tiêu 1 điều trị, vừa đảm bảo hoạt động tài chính với kinh phí mua thuốc còn hạn hẹp.
Bên cạnh đó, sự cạnh tranh giữa các bệnh viện sẽ là tất yếu, chất lượng thuốc cũng như chất lượng khám bệnh, chữa bệnh là cơ sở làm tăng sức cạnh tranh của các bệnh viện trong thu hút bệnh nhân. Việc nghiên cứu về danh mục thuốc đã sử dụng tại một bệnh viện YHCT nhằm tìm ra những giải pháp tốt cho bệnh viện về hoạt động sử dụng thuốc nói riêng và hoạt động cung ứng thuốc nói chung là rất cần thiết và mang tính thực tiễn. Bởi vậy, đề tài: “Phân tích danh mục thuốc đã sử dụng tại Bệnh viện Tuệ Tĩnh – Học viện Y dược học cổ truyền Việt Nam năm 2021”, được tiến hành với hai mục tiêu: 1. Mô tả cơ cấu danh mục thuốc đã sử dụng của Bệnh viện Tuệ Tĩnh năm 2021 2.
Xác định một số tồn tại trong danh mục thuốc đã sử dụng của Bệnh viện Tuệ Tĩnh năm 2021 Kết quả nghiên cứu đã xác định được những vấn đề tồn tại trong danh mục thuốc đã sử dụng, từ đó sẽ đưa ra kiến nghị nhằm hoàn thiện hơn hoạt động sử dụng thuốc tại Bệnh viện Tuệ Tĩnh đáp ứng nhu cầu sử dụng thuốc hợp lý, an toàn và hiệu quả. Đồng thời, góp phần vào bức tranh tổng thể các bệnh viện YHCT có sử dụng cả thuốc hóa dược. DANH MỤC THUỐC ĐÃ SỬ DỤNG TRONG BỆNH VIỆN VÀ MỘT SỐ PHƯƠNG PHÁP PHÂN TÍCH SỬ DỤNG THUỐC 1. Danh mục thuốc đã sử dụng trong bệnh viện Danh mục thuốc (DMT) đã sử dụng trong bệnh viện là một danh sách các thuốc đã được sử dụng trong hệ thống chăm sóc sức khỏe, là kết quả của các hoạt động lựa chọn, mua sắm, cấp phát và sử dụng thuốc [44].
Do mô hình bệnh tật của một bệnh viện khác nhau nên mỗi bệnh viện sẽ xây dựng một danh mục thuốc đặc thù riêng cho mình. Giám đốc bệnh viện căn cứ vào kết quả tham mưu của Hội đồng thuốc và điều trị (HĐT&ĐT) về các vấn đề liên quan đến thuốc và điều trị bằng thuốc của bệnh viện như xây dựng DMT bệnh viện, sự lựa chọn thuốc để mua sắm, sử dụng cho người bệnh theo nguyên tắc: ưu tiên lựa chọn thuốc generic, thuốc đơn chất, thuốc sản xuất trong nước. Từ đó, Giám đốc bệnh viện sẽ ra quyết định phù hợp góp phần thực hiện tốt Chính sách Quốc gia về thuốc trong bệnh viện [7]. Việc phân tích danh mục thuốc đã sử dụng là để chỉ ra những mặt đạt được, những ưu điểm của nó.
Đồng thời, để chỉ ra những tồn tại, hạn chế tại đó để giúp cho Giám đốc Bệnh viện kịp thời điều chỉnh hoạt động cung ứng thuốc tại bệnh viện được tốt hơn. Một số phương pháp phân tích dữ liệu thuốc đã sử dụng Chi phí cho chăm sóc sức khoẻ tăng nhanh và bất hợp lý có thể do chi phí cho thuốc chiếm tỉ trọng cao. Để công tác sử dụng thuốc tránh những bất cập, nhà quản lý cần có những biện pháp can thiệp. HĐT&ĐT có chức năng quản lý, tham mưu và tư vấn giám sát về các vấn đề liên quan đến DMT sử dụng tại bệnh viện.
Phân tích sử dụng thuốc theo nhóm điều trị Phân tích nhóm điều trị là phương pháp dựa vào đánh giá số lượng và giá trị tiền thuốc sử dụng của các nhóm tác dụng dược lý. Phương pháp này sử dụng dữ liệu thống kê chi phí sử dụng, phần trăm chi phí của từng thuốc sử dụng trên tổng chi phí sử dụng thuốc của toàn bệnh viện giúp xác định những nhóm điều trị có mức sử dụng thuốc cao nhất và chi phí nhiều nhất. Trên cơ sở thông tin về tình hình bệnh tật, phương pháp này sẽ gợi ý những vấn đề sử dụng thuốc bất hợp lý. 3 Ngoài ra, phương pháp này sẽ chỉ ra những thuốc đã bị lạm dụng hoặc những thuốc mà mức tiêu thụ không mang tính đại diện cho những ca bệnh cụ thể.
Qua đây, HĐT&ĐT lựa chọn những thuốc có chi phí hiệu quả cao nhất trong các nhóm điều trị và thuốc lựa chọn trong liệu pháp điều trị thay thế [7],[44]. Phương pháp phân tích ABC * Khái niệm Phân tích ABC là phương pháp phân tích tương quan giữa lượng thuốc tiêu thụ hàng năm và chi phí nhằm phân định ra những thuốc nào chiếm tỷ lệ lớn trong ngân sách cho thuốc của bệnh viện [7],[44]. * Vai trò, ý nghĩa Phân tích ABC có thể cho thấy những thuốc được sử dụng thay thế với số lượng lớn mà có chi phí thấp trong danh mục hoặc có sẵn trên thị trường. Thông tin này được sử dụng nhằm 5 mục đích sau: - Lựa chọn những thuốc có chi phí thấp hơn - Tìm ra những liệu pháp điều trị thay thế - Lượng giá mức độ tiêu thụ thuốc, phản ánh nhu cầu chăm sóc sức khỏe của cộng đồng và từ đó phát hiện ra những vấn đề chưa hợp lý trong sử dụng thuốc bằng cách so sánh lượng thuốc tiêu thụ với mô hình bệnh tật - Thương lượng với nhà cung cấp để mua được thuốc với giá hấp dẫn hơn mà vẫn đảm bảo chất lượng và số lượng.
- Xác định phương thức mua thuốc không có trong DMT thiết yếu của bệnh viện. Phương pháp phân tích VEN * Định nghĩa Phương pháp phân tích VEN là phương pháp giúp xác định ưu tiên cho hoạt động mua sắm và tồn trữ thuốc trong bệnh viện khi nguồn kinh phí không đủ để mua toàn bộ các loại thuốc như mong muốn [7]. * Phân loại Trong phân tích VEN, các thuốc được phân chia thành 3 hạng mục cụ thể như sau: - Thuốc V (Vital drugs): Là thuốc dùng trong các trường hợp cấp cứu hoặc các thuốc quan trọng, nhất thiết phải có để phục vụ công tác khám bệnh, chữa bệnh của BV. 4 - Thuốc E (Essential drugs): Là thuốc dùng trong các trường hợp bệnh ít nghiêm trọng hơn nhưng vẫn là các bệnh lý quan trọng trong mô hình bệnh tật của BV.
* Ứng dụng Ứng dụng chính của phân tích VEN là xác định các chính sách ưu tiên khi tiến hành lựa chọn, mua sắm, sử dụng thuốc và các hoạt động quản lý tồn kho. Các thuốc V, E nên được ưu tiên trong lựa chọn, mua sắm sử dụng, bảo quản và quản lý tồn kho, đặc biệt khi ngân sách bị thiếu hụt. Các thuốc N nên được quản lý việc sử dụng, tránh lạm dụng [41]. Phương pháp phân tích ma trận ABC/VEN Sau khi hoàn thành phân tích VEN, cần phải so sánh giữa phân tích ABC và VEN để xác định xem có mối liên hệ giữa các thuốc có chi phí cao và các thuốc không ưu tiên hay không.
Cụ thể cần phải loại bỏ những thuốc N trong danh sách nhóm thuốc A có chi phí cao/lượng tiêu thụ lớn trong phân tích ABC. Đặc điểm trong sử dụng thuốc của các bệnh viện ở Việt Nam Đặc điểm sử dụng thuốc của Bệnh viện (BV) Bệnh viện đa khoa Bệnh viện chuyên khoa BV có khoa BV không có BV chỉ có BV chuyên YHCT sử dụng khoa YHCT thuốc hóa YHCT sử dụng thuốc cổ truyền, chỉ sử dụng dược thuốc cổ truyền, 0-1thuốc hóa dược thuốc hóa dược thuốc hóa dược 0-2Hình 1. Đặc điểm trong sử dụng thuốc của các Bệnh viện tại Việt Nam [2] Ngoài các bệnh viện thì hiện nay nhiều viện có giường bệnh có sử dụng thuốc cổ truyền như: Viện YHCT quân đội, Viện Y Dược học dân tộc TP.HCM, Viện Y học Phòng Không Không Quân. Các văn bản pháp luật liên quan đến thuốc đã sử dụng trong bệnh viện Những năm qua, Quốc hội ban hành (Luật dược 2016, Luật đấu thầu 2013) và Chính Phủ ban hành (Nghị định 54/2017/NĐ-CP) đã ảnh hưởng tới hoạt động dược bệnh viện.