Tổng quan nghiên cứu
Trong hệ thống y tế hiện đại, chi phí tiền thuốc thường chiếm từ 50% đến 60% tổng ngân sách hoạt động của các cơ sở khám chữa bệnh. Việc xây dựng và kiểm soát danh mục thuốc hợp lý, an toàn và kinh tế đóng vai trò then chốt trong việc nâng cao chất lượng điều trị và tối ưu hóa nguồn lực tài chính. Nghiên cứu được thực hiện tại Bệnh viện Phục hồi chức năng – Điều trị bệnh nghề nghiệp Thành phố Hồ Chí Minh, một cơ sở y tế tuyến 1 trực thuộc Sở Y tế với quy mô 15 khoa lâm sàng, 5 khoa cận lâm sàng và 7 phòng chức năng, tiếp nhận khám và điều trị cho hàng chục nghìn lượt bệnh nhân mỗi năm.
Vấn đề nghiên cứu trọng tâm là đánh giá mức độ hợp lý của danh mục thuốc đang lưu hành, đối chiếu trực tiếp với mô hình bệnh tật gồm 20 nhóm bệnh với tổng số 9.382 lượt bệnh nhân được ghi nhận trong năm 2020. Mục tiêu cụ thể của luận văn bao gồm: thứ nhất, mô tả toàn diện cơ cấu danh mục thuốc đã sử dụng tại bệnh viện trong giai đoạn 2019-2020; thứ hai, phân tích danh mục thuốc thông qua phương pháp ABC, VEN và thiết lập ma trận ABC/VEN nhằm phát hiện những bất cập trong phân bổ ngân sách.
Phạm vi nghiên cứu bao quát toàn bộ dữ liệu cung ứng và tiêu thụ dược phẩm từ ngày 01/04/2019 đến ngày 30/04/2020 tại bệnh viện. Ý nghĩa thực tiễn của đề tài được thể hiện qua các chỉ số định lượng cụ thể: phân tích chi tiết 388 khoản mục thuốc với tổng giá trị sử dụng đạt gần 40 tỷ đồng, giúp Hội đồng Thuốc và Điều trị cắt giảm các khoản mục thuốc chi phí cao nhưng hiệu quả điều trị thấp, đồng thời thiết lập cơ chế dự trù dược phẩm khoa học trong giai đoạn dịch bệnh và bình thường mới.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Khung lý thuyết áp dụng
Nghiên cứu ứng dụng các khung lý thuyết quản trị dược bệnh viện chuẩn hóa kết hợp với hệ thống văn bản quy phạm pháp luật hiện hành:
Lý thuyết Pareto (nguyên lý 80/20) trong phân tích ABC: Đây là phương pháp phân loại thuốc dựa trên mối tương quan giữa số lượng tiêu thụ và chi phí tài chính. Thuốc hạng A chỉ chiếm từ 10% đến 20% tổng số khoản mục nhưng chiếm từ 75% đến 80% tổng giá trị ngân sách; thuốc hạng B chiếm khoảng 15% đến 20% giá trị; trong khi thuốc hạng C chiếm số lượng lớn từ 60% đến 80% mặt hàng nhưng chỉ chiếm 5% đến 10% tổng ngân sách.
Mô hình phân loại VEN theo chuẩn Tổ chức Y tế Thế giới (WHO): Phân nhóm thuốc theo mức độ ưu tiên lâm sàng gồm nhóm V (Vital - thuốc sống còn cho cấp cứu), nhóm E (Essential - thuốc thiết yếu điều trị các bệnh phổ biến trong mô hình bệnh tật) và nhóm N (Non-essential - thuốc không thiết yếu, bệnh nhẹ hoặc hiệu quả điều trị chưa khẳng định tương xứng với chi phí).
Khung ma trận kết hợp ABC/VEN: Sự giao thoa tạo thành 9 tiểu nhóm (AV, AE, AN, BV, BE, BN, CV, CE, CN), là công cụ kiểm soát cốt lõi giúp nhận diện các thuốc nhóm AN để loại bỏ hoặc hạn chế chỉ định.
Hệ thống văn bản pháp lý nền tảng: Thông tư 21/2013/TT-BYT quy định về tổ chức và hoạt động của Hội đồng Thuốc và Điều trị; Thông tư 30/2018/TT-BYT hướng dẫn danh mục thuốc tân dược thanh toán bảo hiểm y tế với 27 nhóm lớn theo mã giải phẫu điều trị hóa học ATC; Thông tư 05/2015/TT-BYT ban hành danh mục thuốc đông y, dược liệu với 11 nhóm thuốc và 349 vị thuốc y học cổ truyền; và Thông tư 15/2019/TT-BYT quy định ngưỡng mua sắm, sử dụng từ 80% đến 120% số lượng trúng thầu tại cơ sở y tế công lập.
Phương pháp nghiên cứu
Thiết kế nghiên cứu: Nghiên cứu sử dụng phương pháp hồi cứu mô tả cắt ngang toàn bộ dữ liệu sử dụng thuốc thực tế trong vòng 12 tháng (từ tháng 4 năm 2019 đến tháng 4 năm 2020).
Cỡ mẫu và phương pháp chọn mẫu: Cỡ mẫu nghiên cứu bao gồm toàn bộ 388 khoản mục thuốc (gồm 346 thuốc tân dược và 42 thuốc đông y, thuốc từ dược liệu) phát sinh sử dụng tại bệnh viện. Phương pháp chọn mẫu toàn bộ được áp dụng nhằm phản ánh tuyệt đối bức tranh tiêu thụ dược phẩm, triệt tiêu sai số chọn mẫu.
Nguồn dữ liệu: Dữ liệu được trích xuất từ hệ thống phần mềm quản lý thông tin bệnh viện (HIS), báo cáo xuất nhập tồn kho dược 12 tháng, sổ theo dõi của Phòng Tài chính - Kế toán và hồ sơ kết quả trúng thầu của Sở Y tế Thành phố Hồ Chí Minh.
Phương pháp xử lý số liệu: Số liệu được làm sạch, mã hóa và phân tích bằng phần mềm Microsoft Excel. Các hàm thống kê (Sum, Countif, Sumif, Subtotal, Sort) được sử dụng để tổng hợp cơ cấu theo nhóm tác dụng dược lý, xuất xứ, đường dùng, đơn/đa thành phần, biệt dược gốc/generic và thiết lập ma trận phân tích ABC/VEN hai chiều.
Kết quả nghiên cứu và thảo luận
Những phát hiện chính
Thứ nhất, xét theo nguồn gốc xuất xứ, danh mục thuốc tân dược chiếm ưu thế áp đảo với 346 khoản mục (đạt tỷ lệ 89,18%), tương ứng giá trị tiêu thụ chiếm 99,17% tổng kinh phí tiền thuốc của toàn bệnh viện. Ngược lại, nhóm thuốc đông y và thuốc từ dược liệu chỉ có 42 khoản mục (chiếm 10,82% số lượng) và chiếm tỷ trọng ngân sách rất khiêm tốn là 0,83%.
Thứ hai, phân tích theo 23 nhóm tác dụng dược lý của thuốc tân dược và 11 nhóm thuốc y học cổ truyền cho thấy 3 nhóm dẫn đầu về giá trị sử dụng. Nhóm thuốc điều trị ký sinh trùng, chống nhiễm khuẩn đứng vị trí thứ nhất với 61 khoản mục (chiếm 15,72% số lượng) nhưng chiếm tới 58,55% tổng giá trị tiêu thụ toàn viện. Nhóm thuốc tim mạch đứng thứ hai với 54 khoản mục (chiếm 13,92% số lượng) và chiếm 7,55% giá trị sử dụng. Nhóm thuốc tác động lên hệ thần kinh và chống rối loạn tâm thần xếp thứ ba với 26 khoản mục (chiếm 6,70% số lượng) và 7,38% giá trị sử dụng.
Thứ ba, đi sâu vào cấu trúc nhóm thuốc kháng sinh chống nhiễm khuẩn, phân nhóm kháng sinh Beta-lactam chiếm tỷ trọng lớn nhất với 33 khoản mục (đạt 54,10% số lượng nhóm) và chiếm 57,48% tổng kinh phí kháng sinh. Trong đó, thuốc kháng sinh phối hợp ức chế men Beta-lactamase chiếm 42,42% số khoản mục và chiếm tới 73,40% giá trị tiêu thụ của phân nhóm; kháng sinh Cephalosporin thế hệ 3 chiếm 30,30% số khoản mục và 20,61% giá trị.
Thứ tư, đối với nhóm thuốc tim mạch gồm 54 khoản mục, các thuốc điều trị tăng huyết áp chiếm ưu thế tuyệt đối với 39 khoản mục (tỷ lệ 72,22%), chiếm 75,65% tổng giá trị tiêu thụ của toàn nhóm tim mạch. Thuốc hạ lipid máu đứng thứ hai với 6 khoản mục (11,11%) chiếm 17,20% giá trị sử dụng.
Thảo luận kết quả
Cơ cấu phân bổ thuốc phản ánh sự tương thích tương đối chặt chẽ với mô hình bệnh tật thực tế tại bệnh viện. Thống kê 9.382 ca bệnh năm 2020 cho thấy nhóm bệnh nhiễm khuẩn chiếm tỷ lệ cao nhất (17,86%), theo sau là bệnh hệ tuần hoàn - tăng huyết áp (10,78%) và bệnh hệ thống thần kinh (9,66%). Việc nhóm thuốc kháng sinh chiếm 58,55% ngân sách là tỷ lệ tương đối cao so với các bệnh viện tuyến quận huyện như Bệnh viện Quận 9 (20,96%) hay bệnh viện đa khoa như Bệnh viện Nguyễn Tri Phương (20,80%). Nguyên nhân xuất phát từ đặc thù điều trị nội trú cho bệnh nhân phục hồi chức năng sau tai biến, bệnh nghề nghiệp mạn tính thường đi kèm bội nhiễm hô hấp, tiết niệu và loét tì đè kéo dài.
Số liệu nghiên cứu có thể được trực quan hóa thông qua các bảng thống kê tần suất hai chiều và biểu đồ hình tròn thể hiện tỷ trọng giá trị. Qua phân tích ma trận ABC/VEN, nghiên cứu đã phát hiện một số thuốc thuộc nhóm AN (chiếm chi phí cao trong nhóm A nhưng thuộc nhóm không thiết yếu N), đòi hỏi Hội đồng Thuốc và Điều trị phải rà soát phác đồ điều trị để thay thế bằng các hoạt chất nhóm AV hoặc AE có chi phí kinh tế hơn.
Đề xuất và khuyến nghị
Tái cơ cấu danh mục thuốc nhóm A và triệt tiêu nhóm AN: Hội đồng Thuốc và Điều trị cần họp định kỳ mỗi quý để rà soát danh mục các thuốc thuộc nhóm AN. Đặt mục tiêu giảm tỷ trọng chi phí của các thuốc nhóm AN xuống dưới 3% tổng ngân sách tiền thuốc trong vòng 6 tháng tiếp theo bằng cách thay thế bằng các thuốc nhóm E tương đương về hiệu quả điều trị.
Kiểm soát chặt chẽ quy trình chỉ định kháng sinh phổ rộng: Khoa Dược chủ trì phối hợp với các khoa lâm sàng xây dựng phác đồ sử dụng kháng sinh chuẩn hóa, tăng cường chỉ định kháng sinh đồ đối với các ca nhiễm khuẩn nội viện. Mục tiêu giảm tỷ trọng chi phí nhóm kháng sinh từ mức 58,55% xuống còn khoảng 40% đến 45% trong năm 2022.
Thúc đẩy sử dụng thuốc sản xuất trong nước và thuốc generic: Ban Giám đốc bệnh viện chỉ đạo việc lập kế hoạch đấu thầu ưu tiên các mặt hàng thuốc generic chất lượng cao và thuốc sản xuất trong nước theo chủ trương của Bộ Y tế. Đặt chỉ tiêu nâng tỷ lệ giá trị thuốc nội địa từ mức dưới 45% lên đạt trên 60% trong giai đoạn 2022-2024.
Quản lý thực hiện hợp đồng thầu thuốc theo đúng biên độ quy định: Bộ phận cung ứng Khoa Dược phải theo dõi sát tiến độ sử dụng từng khoản mục thuốc trúng thầu theo Thông tư 15/2019/TT-BYT, đảm bảo tỷ lệ sử dụng đạt trong khoảng từ 80% đến 120% số lượng kế hoạch, hạn chế tối đa việc mua vượt trần hoặc hủy thầu do không sử dụng hết.
Đối tượng nên tham khảo luận văn
Ban Giám đốc và Nhà quản lý bệnh viện: Nghiên cứu cung cấp bức tranh toàn diện về quản trị kinh tế dược, giúp các nhà quản lý đưa ra quyết định phân bổ ngân sách mua sắm thuốc chính xác, cân đối dòng tiền và giảm áp lực vượt quỹ khám chữa bệnh bảo hiểm y tế.
Hội đồng Thuốc và Điều trị tại các cơ sở khám chữa bệnh: Tài liệu là cẩm nang thực hành chi tiết về quy trình 4 giai đoạn xây dựng danh mục thuốc theo chuẩn WHO, cung cấp công cụ ma trận ABC/VEN để sàng lọc 388 khoản mục thuốc một cách khách quan.
Dược sĩ lâm sàng và Cán bộ quản lý Khoa Dược: Giúp tối ưu hóa công tác quản lý tồn kho, xác định chu kỳ đặt hàng cho từng nhóm A, B, C và kiểm soát chặt chẽ việc sử dụng các kháng sinh nhóm Beta-lactam phối hợp đắt tiền.
Học viên sau đại học và Nghiên cứu sinh chuyên ngành Tổ chức Quản lý Dược: Cung cấp khung phương pháp luận nghiên cứu mô tả cắt ngang, cách thức thiết kế biến số định danh và kỹ thuật xử lý dữ liệu dược bệnh viện bằng Microsoft Excel.
Câu hỏi thường gặp
Phương pháp phân tích ABC giúp ích gì cho công tác quản lý dược bệnh viện?
Phương pháp ABC phân loại thuốc thành 3 nhóm dựa trên giá trị tiêu thụ, giúp nhà quản lý nhận diện nhóm A (chiếm khoảng 75% đến 80% ngân sách dù chỉ có 10% đến 20% mặt hàng). Từ đó, bệnh viện tập trung giám sát chặt chẽ việc mua sắm, dự trữ và kê đơn nhóm này để tránh thất thoát, tồn ứ vốn.
Tại sao tỷ trọng chi phí thuốc kháng sinh tại bệnh viện lại chiếm tới 58,55%?
Bệnh viện có đặc thù tiếp nhận điều trị nhiều bệnh nhân mắc bệnh nghề nghiệp, tai biến nặng cần phục hồi chức năng dài ngày. Đối tượng này có nguy cơ cao bị nhiễm khuẩn cơ hội đường hô hấp, tiết niệu và loét tì đè, dẫn đến việc phải sử dụng các kháng sinh phối hợp và Cephalosporin thế hệ 3 có giá thành cao.
Sự khác biệt giữa thuốc nhóm V, E và N trong phân tích VEN là gì?
Thuốc nhóm V là thuốc sống còn dùng trong cấp cứu hoặc bệnh viện bắt buộc phải có; thuốc nhóm E là thuốc thiết yếu phục vụ điều trị các bệnh phổ biến trong mô hình bệnh tật; còn thuốc nhóm N là thuốc không thiết yếu, dùng cho bệnh nhẹ hoặc hiệu quả điều trị chưa tương xứng với giá thành.
Quy định sử dụng thuốc trúng thầu từ 80% đến 120% được kiểm soát như thế nào?
Theo Thông tư 15/2019/TT-BYT, các cơ sở y tế phải thực hiện tối thiểu 80% và không vượt quá 120% số lượng thuốc đã ký hợp đồng thầu. Khoa Dược sử dụng phần mềm bệnh viện theo dõi xuất nhập tồn hàng tháng để điều tiết số lượng chỉ định của các khoa phòng đạt đúng biên độ.
Làm thế nào để giảm tỷ trọng nhóm thuốc AN trong danh mục bệnh viện?
Hội đồng Thuốc và Điều trị cần rà soát lại tất cả các thuốc nhóm AN có chi phí cao, đánh giá bằng chứng lâm sàng và xây dựng lại phác đồ điều trị chuẩn. Các thuốc này sẽ bị loại bỏ hoặc thay thế bằng các thuốc thuộc nhóm AV hoặc AE có chi phí thấp hơn nhưng tương đương về sinh khả dụng.
Kết luận
Luận văn đã hoàn thành việc mô tả và phân tích chuyên sâu toàn bộ 388 khoản mục thuốc sử dụng tại Bệnh viện Phục hồi chức năng – Điều trị bệnh nghề nghiệp Thành phố Hồ Chí Minh năm 2020.
Cơ cấu sử dụng cho thấy thuốc tân dược chiếm vị trí chủ đạo với 346 khoản mục (89,18%) và chiếm tới 99,17% tổng kinh phí tiền thuốc.
Nhóm thuốc kháng sinh và nhóm thuốc tim mạch chiếm tỷ trọng lớn nhất về chi phí và số lượng mặt hàng (lần lượt chiếm 58,55% và 7,55% giá trị), phù hợp với mô hình bệnh tật gồm 20 nhóm bệnh với 9.382 lượt điều trị.
Phương pháp phân tích ma trận ABC/VEN đã chứng minh hiệu quả vượt trội trong việc phát hiện các điểm nghẽn chi phí, giúp định vị chính xác các nhóm thuốc cần ưu tiên mua sắm hoặc cắt giảm.
Trong giai đoạn 2022-2025, bệnh viện cần tiếp tục hoàn thiện danh mục thuốc theo hướng tăng cường thuốc generic, kiểm soát chặt chẽ kháng sinh và duy trì tỷ lệ thực hiện thầu đạt chuẩn từ 80% đến 120%.