ĐẶT VẤN ĐỀ Việc lựa chọn danh mục thuốc hợp lý là yếu tố quan trọng trong việc quyết định trong việc sử dụng thuốc hợp lý, an toàn, hiệu quả trong bệnh viện. Hiện nay, với chính sách mở cửa theo cơ chế thị trường, đa dạng hóa các hình thức cung ứng thuốc, thị trường thuốc ngày càng phong phú, đa dạng về cả số lượng và chủng loại. Sử dụng thuốc thiếu hiệu quả, bất hợp lý trong bệnh viện đã và đang là vấn đề bất cập của nhiều quốc gia. Từ hàng ngàn năm nay các loại thuốc phòng và chữa bệnh đã trở thành một nhu cầu thiết yếu trong cuộc sống con người.
Thuốc là loại hàng hóa đặc biệt và vô cùng quan trọng, nó có thể làm thay đổi chuyển hóa, tâm sinh lý của con người. Do đó sử dụng thuốc không đúng, bất hợp lý hoặc thuốc kém chất lượng sẽ gây ảnh hưởng đến sức khỏe và tính mạng của người bệnh. Sử dụng thuốc thiếu hiệu quả, bất hợp lý đã và đang là vấn đề bất cập của nhiều quốc gia trên Thế giới. Theo một số nghiên cứu, chi phí mua thuốc chiếm khoảng 30-40% ngân sách ngành Y tế của nhiều nước và phần lớn số tiền đó bị lãng phí do sử dụng thuốc không hợp lý.
Sử dụng thuốc hiệu quả, an toàn, hợp lý và kinh tế là vấn đề mà hiện nay các nước trên Thế giới đặc biệt quan tâm. Để khắc phục tình trạng trên, Tổ chức Y tế thế giới (WHO) đã khuyến cáo các quốc gia thành lập Hội đồng thuốc và điều trị (HĐT&ĐT) tại các bệnh viện. HĐT& ĐT đóng vai trò quan trọng trong hoạt động lựa chọn, xây dựng danh mục thuốc bệnh viện, đem lại lợi ích rất lớn trong công tác khám chữa bệnh. Bên cạnh đó Bộ Y tế cũng đã ban hành nhiều Thông tư qui định trong việc đấu thầu cung ứng thuốc sử dụng cho các bệnh viện.
Nhằm lựa chọn thuốc đảm bảo chất lượng, giá cả phù hợp để phục vụ điều trị cho người bệnh. Qua đó cho thấy việc xây dựng danh mục thuốc sử dụng cho bệnh viện là vô cùng quan trọng. Một danh mục thuốc được xây đúng quy trình sẽ mang lại lợi ích rất lớn giúp cho việc mua sắm thuốc dễ dàng, thuận tiện, đảm bảo tính kịp thời, có chất lượng, kê đơn chính xác và điều trị bệnh hợp lý, an toàn. 1 Bệnh viện quận Gò vấp là bệnh viện hạng II với quy mô 24 khoa/ phòng với 308 giường bệnh.
Bệnh viện đang từng bước hoàn thiện và tăng cường triển khai các biện pháp sử dụng thuốc an toàn, hợp lý, hiệu quả trên người bệnh. Vậy danh mục thuốc hiện nay tại bệnh viện khá nhiều thuốc, chưa kiểm soát được lượng thuốc sử dụng. Vì vậy, chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài “Phân tích danh mục thuốc sử dụng tại Bệnh viện quận Gò Vấp năm 2020”. Với 02 mục tiêu: 1.
Mô tả cơ cấu danh mục thuốc sử dụng tại Bệnh viện quận Gò Vấp năm 2020; 2. Phân tích danh mục thuốc sử dụng theo phương pháp ABC, VEN, ma trận ABC/VEN. Kết quả nghiên cứu nhằm chỉ ra những bất hợp lý trong danh mục thuốc sử dụng năm trước, từ đó đưa ra các ý kiến đề xuất với Hội đồng thuốc và điều trị xây dựng danh mục thuốc bệnh viện cho những năm tiếp theo, đáp ứng nhu cầu sử dụng thuốc hợp lý, an toàn, hiệu quả. QUY ĐỊNH VỀ SỬ DỤNG THUỐC 1.
Các khái niệm Danh mục thuốc đã sử dụng là kết quả của cả quá trình cung ứng thuốc, lựa chọn, mua sắm, cấp phát và sử dụng. Việc phân tích danh mục thuốc đã sử dụng giúp cho việc phát hiện kịp thời những bất hợp lý trong cung ứng thuốc. Từ đó có những điều chỉnh, hợp lý hơn cho chu kỳ cung ứng thuốc của năm sau. Theo Luật dược 105/2016/QH13 định nghĩa: Thuốc là chế phẩm có chưa dược chất hoặc dượ liệu dùng cho người nhằm mục đích phòng bệnh, chẩn đoán bệnh, chữa bệnh, điều trị bệnh, giảm nhẹ bệnh, điều chỉnh chức năng sinh lý cơ thể người bao gồm thuốc hóa dược, thuốc dược liệu, thuốc cổ truyền, vắc xin và sinh phẩm [30].
Thuốc hóa dược: là thuốc có chưa dược chất đã được xác định thành phần, công thức, độ tinh khiết và đạt tiêu chuẩn làm thuốc bao gồm cả thuốc tiêm được chiết xuất từ dược liệu, thuốc có kết hợp dược chất với các dược liệu đã được chứng minh về tính an toàn và hiệu quả [31]. Thuốc dược liệu là thuốc có thành phần từ dược liệu và có tác dụng dựa trên bằng chứng khoa học, trừ thuốc cổ truyền quy định [31]. Thuốc cổ truyền (bao gồm cả vị thuốc cổ truyền) là thuốc có thành phần dược liệu được chế biến, bào chế hoặc phối ngũ theo lý luận và phương pháp của y học cổ truyền hoặc theo kinh nghiệm dân gian thành chế phẩm có dạng bào chế truyền thống hoặc hiện đại [31]. Thuốc generic là thuốc có cùng dược chất, hàm lượng, dạng bào chế với biệt dược gốc và thường được sử dụng thay thế biệt dược gốc [31].
Biệt dược gốc là thuốc đầu tiên được cấp phép lưu hành trên cơ sở có đầy đủ dữ liệu về chất lượng, an toàn, hiệu quả [31]. Các văn bản pháp luật liên quan đến vấn đề nghiên cứu của đề tài Luật dược 105/2016/QH13 ngày 06/4/2016 của Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam quy định về chính sách của Nhà nước về Dược và phát triển công nghiệp dược; hành nghề dược; kinh doanh dược; đăng ký; lưu hành, thu hồi thuốc và nguyên liệu làm thuốc [31]. Nghị định số 54/2017/NĐ-CP ngày 08/5/2017 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật Dược [12]. Thông tư 22/2011/TT-BYT ngày 10/6/2011 của Bộ Y tế quy định về chức năng hoạt động của khoa dược.
Thông tư 23/2011/TT-BYT ngày 10/6/2011 của Bộ Y tế quy định hướng dẫn sử dụng thuốc trong các cơ sở y tế có giường bệnh. Thông tư 21/2013/TT-BYT ngày 08/8/2013 của Bộ Y tế quy định về hoạt động của động của HĐT&ĐT [4]. Thông tư nêu rõ chức năng của HĐT &ĐT là tư vấn cho Giám đốc về các vấn đề liên quan đến thuốc và điều trị, thực hiện tốt chính sách quốc gia về thuốc trong bệnh viện. Thông tư số 05/2015/TT-BYT ngày 17/3/2015 ban hành danh mục thuốc đông y, thuốc từ dược liệu và vị thuốc y học cổ truyền thuộc phạm vi thanh toán của quỹ bảo hiểm y tế [5].
Thông tư số 20/2017/TT-BYT ngày 10 /05/ 2017 quy định quản lý thuốc gây nghiện, thuốc hướng tâm thần và tiền chất, nguyên liệu dùng làm thuốc[6] Thông tư số 30/2018/TT-BYT ngày 30/10/2018 ban hành danh mục và tỷ lệ, điều kiện thanh toán đối với thuốc hóa dược, sinh phẩm, thuốc phóng xạ và chất đánh dấu thuộc phạm vi được hưởng của người tham gia Bảo hiểm Y tế [7]. Thông tư số 15/2019/TT-BYT ngày 11/7/2019 quy định đấu thầu thuốc tại các cơ sở y tế công lập [8]. 4 Thông tư số 15/2020/TT-BYT ngày 10/8/2020 ban hành danh mục thuốc đấu thầu, danh mục thuốc đấu thầu tập trung, danh mục thuốc được áp dụng hình thức phán giá [9]. PHƯƠNG PHÁP PHÂN TÍCH SỬ DỤNG THUỐC Theo tổ chức Y tế thế giới, có 3 phương pháp chính để làm rõ các vấn đề sử dụng thuốc tại phòng khám mà HĐT&ĐT nên thường xuyên sử dụng, đó là: - Thu thập thông tin ở mức độ cá thể: những dữ liệu này được thu thập từ người không kê đơn để có thể xác định được những vấn đề xung quanh liên quan đến sử dụng thuốc.
Tuy nhiên nhược điểm của phương pháp này là thường không có đủ thông tin để có thể điều chỉnh thuốc sử dụng phù hợp với chẩn đoán. - Các phương pháp định tính: như tập trung thảo luận nhóm, phỏng vấn sâu vấn đề và bộ câu hỏi sẽ là những công cụ hữu ích để xác định nguyên nhân của vấn đề sử dụng thuốc. - Các phương pháp tổng hợp dữ liệu: phương pháp này liên quan đến các dữ liệu tổng hợp mà không phải trên từng cá thể, và dữ liệu có thể thu thập dễ dàng. Phương pháp xác định liều DDD, phân tích ABC và phân tích VEN…Những phương pháp này sẽ được sử dụng để xác định các vấn đề lớn liên quan đến sử dụng thuốc.
Trong số các phương pháp trên, phân tích DMT gồm phân tích ABC và phân tích VEN là giải pháp hữu ích và cần được áp dụng để xác định các vấn đề lớn liên quan đến sử dụng thuốc. Phương pháp phân tích này sẽ trở thành công cụ cho HĐT&ĐT quản lý DMT. Để phân tích DMT được sử dụng tại Trung tâm thường sử dụng các phương pháp sau: 1. Phân tích sử dụng thuốc theo nhóm điều trị a.
Khái niệm: là phương pháp phân tích việc sử dụng thuốc dựa vào đánh giá số lượng sử dụng và giá trị tiền thuốc của các nhóm điều trị [4].Vai trò và ý nghĩa + Giúp xác định các nhóm điều trị có lượng tiêu thụ, chi phí cao nhất. + Trên cơ sở thông tin về MHBT, xác định những vấn đề sử dụng thuốc bất hợp lý, xác định những thuốc bị lạm dụng hoặc mức tiêu thụ không mang tính đại diện. + Giúp HĐT&ĐT lựa chọn các thuốc có chi phí hiệu quả cao nhất trong các nhóm điều trị và lựa chọn thuốc cho các liệu pháp điều trị thay thế. Ý nghĩa: Phương pháp phân tích nhóm điều trị giúp xác định những nhóm điều trị có mức tiêu thụ thuốc cao nhất và chi phí nhiều nhất.
Trên cơ sở thông tin về tình hình bệnh tật, xác định những vấn đề sử dụng thuốc bất hợp lý. Xác định những thuốc đã bị lạm dụng hoặc những thuốc mà mức tiêu thụ không mang tính đại diện cho những ca bệnh cụ thể ví dụ sốt rét và sốt xuất huyết. Hội đồng thuốc và điều trị lựa chọn những thuốc có chi phí hiệu quả cao nhất trong các nhóm điều trị và thuốc lựa chọn trong liệu pháp điều trị thay thế [4]. Phương pháp phân tích ABC Phân tích ABC là phương pháp phân tích tương quan giữa lượng thuốc tiêu thụ hàng năm và chi phí, nhằm phân định ra những thuốc nào chiếm tỷ lệ lớn trong ngân sách.
Đây là phương pháp tiếp cận hiệu quả để quản lý thuốc dựa trên nguyên lý Pareto “số ít sống còn và số nhiều ít có ý nghĩa”. Theo lý thuyết Pareto: 10% theo chủng loại của thuốc sử dụng 70% ngân sách thuốc (nhóm A). Nhóm tiếp theo: 20% theo chủng loại sử dụng 20% ngân sách (nhóm B), nhóm còn lại (nhóm C): 70% theo chủng loại nhưng chỉ sử dụng 10% ngân sách.