ĐẶT VẤN ĐỀ Bảo hiểm y tế (BHYT) là chính sách an sinh xã hội (ASXH) quan trọng hàng đầu của Đảng và Nhà Nước, mang ý nghĩa nhân văn, nhân đạo và có tính chia sẻ cộng đồng sâu sắc. BHYT thực chất là một nội dung của bảo hiểm xã hội (BHXH) do Nhà nước tổ chức thực hiện hoạt động vì mục đích ASXH, không vì mục đích lợi nhuận, nhằm huy động sự đóng góp của cộng đồng, chia sẻ rủi ro bệnh tật và giảm bớt gánh nặng tài chính của mỗi người dân khi ốm đau, bệnh tật, tai nạn. BHYT được xác định là một nguồn tài chính y tế quan trọng góp phần thực hiện mục tiêu công bằng và tiến bộ xã hội trong việc chăm sóc sức khoẻ cho nhân dân, phù hợp với xu thế phát triển chung của thế giới và hiện nay ở Việt Nam. Chính sách BHYT được Đảng và Nhà nước ta tổ chức thực hiện từ năm 1992.
Năm 2008, Luật BHYT số 25/2008/QH12 đã được Quốc hội khóa XII thông qua. Trong hơn 10 năm thực hiện Luật BHYT, tỷ lệ người dân tham gia BHYT tăng nhanh từ 45% (năm 2009) lên 89,6% (năm 2019), năm 2020 đã hơn 90% thì đến hết năm 2021, độ bao phủ đã đạt khoảng 91,01% dân số. Số người tham gia BHYT tăng nhanh, quyền lợi hưởng BHYT của người tham gia ngày càng được mở rộng, Người tham gia BHYT được hưởng chế độ BHYT theo mức độ bệnh tật, nhóm đối tượng trong phạm vi quyền lợi của người tham gia BHYT, được cơ sở khám chữa bệnh (CS KCB) trực tiếp chi trả thông qua hợp đồng thanh toán chi phí KCB BHYT với cơ quan BHXH. Hằng năm, có hơn 100 triệu lượt người KCB BHYT được đảm bảo quyền lợi.
Năm 2020-2021 do tác động của dịch Covid-19, quỹ BHYT đã cùng ngân sách nhà nước góp phần không nhỏ trong công tác khắc phục hậu quả và phòng chống dịch Covid-19, tiếp tục khẳng định vai trò trụ cột của chính sách BHYT trong hệ thống ASXH quốc gia. Quyền lợi hưởng BHYT của người tham gia ngày càng được mở rộng ở cả phạm vi và mức hưởng BHYT. Trong thời gian qua, chính sách BHYT Việt Nam đã thường xuyên được rà soát, đổi mới ngày càng hoàn thiện hơn, tạo điều kiện thuận lợi, phục vụ tốt hơn cho người tham giá BHYT. Tuy nhiên đến nay, vẫn còn những tồn tại, hạn chế không nhỏ trong công tác kiểm soát, thanh toán chi phí KCB BHYT bảo hiểm giữa 1 cơ quan BHXH và CS KCB như vượt trần, vượt quỹ cũng đang đặt ra thách thức lớn cho cơ quan quản lý.
Bệnh viện Đa Khoa Vùng Tây Nguyên là bệnh viện loại 1 với 1000 giường bệnh, cơ sở khám chữa bệnh có ký kết hợp đồng với BHXH và là CS KCB đa khoa, tiếp nhận các đối tượng tham gia BHYT do các cơ sở y tế trên toàn tỉnh chuyển đến với số lượng bệnh nhân đến khám và điều trị tăng dần qua các năm. Theo thống kê tổng chi phí KCB đề nghị bảo hiểm thanh toán năm 2022 là 422. Số tiền được BHYT thanh toán chi phí KCB là 422.276 tỷ đồng trong đó chi phí bị từ chối chi trả là 558. Việc từ chối chi trả chi phí KCB BHYT là vấn đề quan trọng đối với bệnh viện trong các năm qua.
Tuy nhiên, cho đến nay vẫn chưa có nghiên cứu nào về thực trạng từ chối thanh toán chi phí khám bệnh, chữa bệnh do BHYT chi trả lại Bệnh viện đa khoa vùng Tây Nguyên. Do đó, phân tích thực trạng từ chối thanh toán chi phí do BHYT chi trả là hết sức cần thiết. Với mong muốn góp phần tăng cường việc chỉ định hợp lý nhưng vẫn đảm bảo quyền lợi của người có thẻ BHYT khi đi khám tại CS KCB, đề tài: “Phân tích thực trạng từ chối thanh toán chi phí khám bệnh, chữa bệnh do bảo hiểm y tế chi trả tại bệnh viện Đa Khoa Vùng Tây Nguyên năm 2022” được tiến hành với hai mục tiêu sau: 3. Mô tả cơ cấu chi phí khám bệnh, chữa bệnh đã bị cơ quan bảo hiểm y tế từ chối thanh toán tại Bệnh viện Đa Khoa Vùng Tây Nguyên năm 2022.
Phân tích một số nguyên nhân từ chối thanh toán chi phí khám bệnh, chữa bệnh bảo hiểm y tế của Bệnh viện Đa Khoa Vùng Tây Nguyên năm 2022. Kết quả nghiên cứu là minh chứng khoa học giúp Ban lãnh đạo bệnh viện có thông tin đầy đủ về thực trang và nguyên nhân từ chối chi phí KCB BHYT tại bệnh viện. Từ đó, bệnh viện có giải pháp hạn chế, khắc phục, giảm thiểu các chi phí KCB BHYT bị từ chối chi trả trong những năm tiếp theo.1 Tổng quan về Bảo hiểm Y tế và các vấn đề liên quan 1.1 Khái niệm bảo hiểm y tế: Ở nước ta, BHYT là loại hình bảo hiểm do Nhà nước tổ chức quản lý nhằm huy động sự đóng góp của cá nhân, tập thể và cộng đồng xã hội để chăm lo sức khoẻ khám chữa bệnh cho nhân dân [1],[2]. Hệ thống bảo hiểm y tế đã được điều chỉnh qua từng thời kỳ.
Điều lệ BHYT được sửa đổi phù hợp với thực tế của đất nước. Phạm vi bảo hiểm BHYT được mở rộng thêm và ngày càng khẳng định vai trò của một chính sách tốt đẹp phù hợp với điều kiện kinh tế - xã hội hiện tại của đất nước. Theo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật bảo hiểm y tế, Luật bảo hiểm y tế số 46/2014/QH13 ngày 13/06/2014 do Quốc hội ban hành thì bảo hiểm y tế là hình thức bảo hiểm bắt buộc áp dụng đối với các đối tượng theo quy định của Luật này để chăm sóc sức khỏe, không vì mục đích lợi nhuận do Nhà nước tổ chức thực hiện [2].2 Khái niệm bảo hiểm y tế toàn dân Thực hiện bảo hiểm y tế (BHYT) toàn dân là một chủ trương lớn của Đảng và Nhà nước, có ý nghĩa an sinh đối với đời sống cộng đồng, góp phần thực hiện bình đẳng, tiến bộ và công bằng xã hội. Theo quan điểm của Tổ chức Y tế thế giới (WHO), vấn đề bao phủ của hệ thống BHYT phải được tiếp cận đầy đủ trên cả ba phương diện về chăm sóc sức khỏe toàn dân, bao gồm: Bao phủ về dân số, tức là tỷ lệ dân số tham gia BHYT; Bao phủ gói quyền lợi BHYT, tức là phạm vi dịch vụ y tế được đảm bảo; và Bao phủ về chi phí hay mức độ được bảo hiểm để giảm mức chi trả từ tiền túi của người bệnh [3],[4].
BHYT toàn dân mà các nước hướng tới chính là độ bao phủ BHYT tới mọi tầng lớp nhân dân [1],[2]. Phát triển BHYT toàn dân bền vững là một trong những mục tiêu trọng tâm của ngành y tế. Đề án thực hiện lộ trình tiến tới BHYT toàn dân giai đoạn 2012 3 – 2015 và 2020 đặt ra mục tiêu ít nhất tỷ lệ bao phủ 70% dân số tham gia BHYT năm 2015 và 80% cho năm 2020.3 Đặc điểm của quỹ bảo hiểm y tế: Theo khoản 3 Điều 2 Luật Bảo hiểm y tế 2008, quỹ BHYT là quỹ tài chính được hình thành từ nguồn đóng BHYT và các nguồn thu hợp pháp khác, được sử dụng để chi trả chi phí khám bệnh, chữa bệnh cho người tham gia BHYT, chi phí quản lý bộ máy của tổ chức BHYT và những khoản chi phí hợp pháp khác liên quan đến BHYT [2],[6]. Nguồn hình thành quỹ BHYT do người lao động và chủ sử dụng lao động, cá nhân, ngân sách nhà nước và các nguồn thu khác đóng góp.
Quỹ BHYT được quản lý tập trung, thống nhất, công khai, minh bạch, bảo đảm cân đối thu chi và được Nhà nước bảo hộ. Tùy theo mỗi quốc gia và tổ chức quỹ BHYT, thông thường quỹ BHYT dành một tỷ lệ nhất định để chi cho các hoạt động quản lý bộ máy tổ chức điều hành quỹ, còn lại phần lớn quỹ dùng để chi trả cho chi phí KCB của người tham gia BHYT[2],[6]. Ở Việt Nam, Tổng số tiền đóng bảo hiểm y tế được phân bổ và sử dụng như sau: Bảng 1. Phân bổ và sử dụng quỹ BHYT ở Việt Nam [7],[8],[9]: STT Nội dung Mục đích 1 Dành 90% cho - Chi trả các khoản chi phí thuộc phạm vi được khám bệnh, chữa hưởng của người tham gia bảo hiểm y tế theo quy bệnh (sau đây gọi định tại các Điều 14, 26, 27 và 30 Nghị định là quỹ khám 146/2018/NĐ-CP.
bệnh, chữa bệnh) - Trích để lại cho các cơ sở giáo dục hoặc cơ sở giáo dục nghề nghiệp, cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp có đủ điều kiện theo quy định tại khoản 1 Điều 34 Nghị định 146/2018/NĐ-CP. Dành 10% số - - Mức chi phí quản lý quỹ bảo hiểm y tế tối đa bằng tiền đóng bảo 5% số tiền đóng bảo hiểm y tế. Mức chi phí quản lý 4 hiểm y tế cho quỹ bảo hiểm y tế cụ thể hằng năm và nội dung chi quỹ dự phòng và thực hiện theo quy định của Thủ tướng Chính phủ; chi phí quản lý - Mức trích quỹ dự phòng là số tiền còn lại sau khi quỹ bảo hiểm y đã trích quỹ quản lý quỹ bảo hiểm y tế theo quy tế định tại điểm a khoản này, tối thiểu bằng 5% số tiền đóng bảo hiểm y tế. - Quỹ KCB BHYT dùng để chi trả một phần hoặc toàn bộ chi phí trong quá trình khám và điều trị của bệnh nhân BHYT.
Ở Việt Nam, quỹ KCB dùng để chi trả các chi phí sau [2],[10]: - Khám chữa bệnh (nội trú, ngoại trú), phục hồi chức năng, khám thai định kỳ, sinh con. - Khám bệnh sàng lọc, chẩn đoán sớm một số bệnh. - Vận chuyển người bệnh. - Thuốc, hóa chất, vật tư y tế, dịch vụ kỹ thuật theo danh mục của Bộ Y tế sử dụng trong KCB được thanh toán theo quy định [27].2 Các phương thức thanh toán chi phí bảo hiểm y tế 1.
Khái niệm thanh toán chi phí khám chữa bệnh bảo hiểm y tế; Thanh toán chi phí BHYT là hình thức thanh toán chi phí KCB trực tiếp hay gián tiếp của tổ chức quản lý quỹ BHYT cho người có thẻ BHYT thông qua các thủ tục pháp lý do Nhà nước quy định [11]. - Thanh toán trực tiếp: là cơ quan BHYT thanh toán trực tiếp chi phí khám, chữa bệnh cho người tham gia BHYT [11]. - Thanh toán gián tiếp: Là cơ quan BHYT chi trả chi phí khám, chữa bệnh cho người tham gia BHYT thông qua cơ sở khám, chữa bệnh [11].