CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN 1. Khái niệm đơn thuốc Đơn thuốc là tài liệu chỉ định dùng thuốc của bác sỹ cho người bệnh. Đơn thuốc là căn cứ để bán thuốc, cấp phát thuốc, pha chế thuốc, cân thuốc, sử dụng thuốc và hướng dẫn sử dụng thuốc [2] Theo Tổ chức y tế thế giới, đơn thuốc là một hướng dẫn dùng thuốc cho bệnh nhân của người kê đơn đối với người cấp và bán thuốc theo đơn. Không có quy định chung nào về kê đơn và mỗi quốc gia đều có quy định phù hợp với điều kiện của đất nước mình.
Các quốc gia đều có quy định riêng về thông tin tối thiểu cần thiết cho một đơn thuốc cũng như thuốc cần phải kê đơn, điều kiện của người kê đơn và quy định riêng về kê đơn thuốc gây nghiện Trong đó, điều quan trọng nhất là đơn thuốc phải rõ ràng, đơn thuốc phải hợp lệ và chỉ định chính xác thuốc cần dùng. Trong ngành y tế, đơn thuốc có ý nghĩa rất quan trọng cả về y khoa (chỉ định điều trị), kinh tế (căn cứ để tính chi phí điều trị) và pháp lý (căn cứ để giải quyết các khía cạnh pháp lý của hoạt động khám chữa bệnh và hành nghề dược, đặc biệt liên quan đến thuốc độc, thuốc gây nghiện. Một số quy định về kê đơn thuốc điều trị ngoại trú 1. Một số văn bản quản lý nhà nước quy định về kê đơn thuốc - Thông tư 52/2017/TT-BYT về quy định đơn thuốc và việc kê đơn thuốc hóa dược, sinh phẩm trong điều trị ngoại trú.
- Thông tư 18/2018/TT-BYT sửa đổi Thông tư 52/2017/TT-BYT về đơn thuốc và kê đơn thuốc hóa dược, sinh phẩm trong điều trị ngoại trú. - Thông tư 21/2013/TT-BYT quy định về tổ chức và hoạt động của hội đồng thuốc và điều trị trong bệnh viện. Nguyên tắc kê đơn Việc kê đơn thuốc trong điều trị ngoại trú tại các cơ sở khám bệnh, chữa bệnh được thực hiện theo các nguyên tắc sau đây: - Chỉ được kê đơn thuốc sau khi đã có kết quả khám bệnh, chẩn đoán bệnh. - Kê đơn thuốc phù hợp với chẩn đoán bệnh và mức độ bệnh.
- Việc kê đơn thuốc phải đạt được mục tiêu an toàn, hợp lý và hiệu quả. Ưu tiên kê đơn thuốc dạng đơn chất hoặc thuốc generic. - Việc kê đơn thuốc phải phù hợp với một trong các tài liệu sau đây: + Hướng dẫn chẩn đoán và điều trị hoặc Hướng dẫn điều trị và chăm sóc HIV/AIDS do Bộ Y tế ban hành hoặc công nhận; Hướng dẫn chẩn đoán và điều trị của cơ sở khám, chữa bệnh xây dựng theo quy định tại Điều 6 Thông tư số 21/2013/TT-BYT ngày 08 tháng 8 năm 2013 của Bộ trưởng Bộ Y tế quy định về tổ chức và hoạt động của Hội đồng thuốc và Điều trị trong bệnh viện trong trường hợp chưa có hướng dẫn chẩn đoán và điều trị của Bộ Y tế. + Tờ hướng dẫn sử dụng thuốc đi kèm với thuốc đã được phép lưu hành.
+ Dược thư quốc gia của Việt Nam; - Số lượng thuốc được kê đơn thực hiện theo Hướng dẫn chẩn đoán và điều trị của cơ sở khám, chữa bệnh xây dựng theo quy định tại Điều 6 Thông tư số 21/2013/TT-BYT ngày 08 tháng 8 năm 2013 của Bộ trưởng Bộ Y tế quy định về tổ chức và hoạt động của Hội đồng Thuốc và Điều trị trong bệnh viện trong trường hợp chưa có hướng dẫn chẩn đoán và điều trị của Bộ Y tế hoặc đủ sử dụng nhưng tối đa không quá 30 (ba mươi) ngày. - Đối với người bệnh phải khám từ 3 chuyên khoa trở lên trong ngày thì người đứng đầu cơ sở khám bệnh, chữa bệnh hoặc người được người đứng đầu cơ sở khám bệnh, chữa bệnh ủy quyền (trưởng khoa khám bệnh, trưởng khoa lâm sàng) hoặc người phụ trách chuyên môn của cơ sở khám bệnh, chữa bệnh sau khi xem xét kết quả khám bệnh của các chuyên khoa trực tiếp kê đơn hoặc phân công bác sỹ có chuyên khoa phù hợp để kê đơn thuốc cho người bệnh. 5 - Bác sỹ, y sỹ tại cơ sở khám bệnh, chữa bệnh tuyến 4 được khám bệnh, chữa bệnh đa khoa và kê đơn thuốc điều trị của tất cả chuyên khoa thuộc danh mục kỹ thuật ở tuyến 4 (danh mục kỹ thuật của cơ sở khám bệnh, chữa bệnh đã được cấp có thẩm quyền phê duyệt). - Trường hợp cấp cứu người bệnh, bác sĩ, y sĩ kê đơn thuốc để xử trí cấp cứu, phù hợp với tình trạng của người bệnh.
- Không được kê vào đơn thuốc các nội dung quy định tại Khoản 15 Điều 6 Luật dược, cụ thể: + Các thuốc, chất không nhằm mục đích phòng bệnh, chữa bệnh; + Các thuốc chưa được phép lưu hành hợp pháp tại Việt Nam; + Thực phẩm chức năng; + Mỹ phẩm [2]. Yêu cầu chung với nội dung kê đơn thuốc Đơn thuốc cần phải đảm bảo các nội dung sau: - Ghi đủ, rõ ràng và chính xác các mục in trong Đơn thuốc hoặc trong sổ khám bệnh của người bệnh. - Ghi địa chỉ nơi người bệnh thường trú hoặc tạm trú: số nhà, đường phố, tổ dân phố hoặc thôn/ấp/bản, xã/phường/thị trấn, quận/huyện/thị xã/thành phố thuộc tỉnh, tỉnh/thành phố. - Đối với trẻ dưới 72 tháng tuổi thì phải ghi số tháng tuổi, cân nặng, tên bố hoặc mẹ của trẻ hoặc người đưa trẻ đến khám bệnh, chữa bệnh.
- Kê đơn thuốc theo quy định như sau: + Thuốc có một hoạt chất - Theo tên chung quốc tế (INN, generic); Ví dụ: thuốc có hoạt chất là Paracetamol, hàm lượng 500mg thì ghi tên thuốc như sau: Paracetamol 500mg. - Theo tên chung quốc tế + (tên thương mại). Ví dụ: thuốc có hoạt chất là Paracetamol, hàm lượng 500mg, tên thương mại là A thì ghi tên thuốc như sau: Paracetamol (A) 500mg. 6 + Thuốc có nhiều hoạt chất hoặc sinh phẩm y tế thì ghi theo tên thương mại.
- Ghi tên thuốc, nồng độ/hàm lượng, số lượng/thể tích, liều dùng, đường dùng, thời điểm dùng của mỗi loại thuốc. Nếu đơn thuốc có thuốc độc phải ghi thuốc độc trước khi ghi các thuốc khác. - Số lượng thuốc gây nghiện phải viết bằng chữ, chữ đầu viết hoa. - Số lượng thuốc chỉ có một chữ số (nhỏ hơn 10) thì viết số 0 phía trước.
Trường hợp sửa chữa đơn thì người kê đơn phải ký tên ngay bên cạnh nội dung sửa. - Gạch chéo phần giấy còn trống từ phía dưới nội dung kê đơn đến phía trên chữ ký của người kê đơn theo hướng từ trên xuống dưới, từ trái sang phải; ký tên, ghi (hoặc đóng dấu) họ tên người kê đơn [2]. Một số chỉ số về kê đơn Các chỉ số về kê đơn đánh giá việc thực hiện theo thông tư 21 của các cơ sở khám chữa bệnh về vấn đề sử dụng thuốc hợp lý. Các chỉ số này dựa trên thực tiễn quan sát được trong một mẫu các lần khám lâm sàng diễn ra ở các cơ sở y tế điều trị ngoại trú các bệnh cấp tính và mạn tính.
Các chỉ số kê đơn chủ yếu không yêu cầu thu thập các thông tin về triệu chứng. Vì các mẫu của các lần khám lâm sàng bao trùm những vấn đề sức khỏe rất rộng, các chỉ số kê đơn chủ yếu đo lường xu thế kê đơn chung ở nơi được nghiên cứu, không phụ thuộc các chẩn đoán cụ thể. Mặc dù nhiều vấn đề quan trọng của việc xử dụng thuốc có liên quan đến việc người kê đơn có tuân thủ hay không các chẩn đoán thích hợp và liệu họ có lựa chọn thuốc hay liều lượng có phù hợp với chẩn đoán hay không. Tuy nhiên, việc xác định chất lượng chẩn đoán và đánh giá đầy đủ sự phù hợp giữa lựa chọn thuốc và chẩn đoán là phức tạp vượt ra ngoài phạm vi các chỉ số chủ yếu.
Sau khi một nghiên cứu sử dụng thuốc đầu tiên với các chỉ số chủ yếu nhằm đánh giá việc thực hành kê đơn nói chung, cần thiết phải tiến hành nghiên cứu để đánh giá chất lượng chẩn đoán và điều trị [4]. Các chỉ số chủ yếu để đánh giá thực hành kê đơn bao gồm: 7 - Số thuốc kê trung bình trong một đơn; - Tỷ lệ phần trăm thuốc được kê theo tên chung quốc tế (INN); - Tỷ lệ phần trăm đơn kê có kháng sinh; - Tỷ lệ phần trăm đơn kê có thuốc tiêm; - Tỷ lệ phần trăm đơn kê có vitamin; - Tỷ lệ phần trăm thuốc được kê có trong DMTTY Bộ Y tế ban hành [8]. Ngoài ra, để đánh giá thực hành kê đơn còn có thể sử dụng các chỉ số sử dụng thuốc toàn diện: - Tỷ lệ phần trăm người bệnh được điều trị không dùng thuốc; - Chi phí cho thuốc trung bình của mỗi đơn; - Tỷ lệ phần trăm chi phí thuốc dành cho kháng sinh; - Tỷ lệ phần trăm chi phí thuốc dành cho vitamin; - Tỷ lệ phần trăm đơn kê phù hợp với phác đồ điều trị; - Tỷ lệ phần trăm người bệnh hài lòng với dịch vụ chăm sóc sức khỏe; - Tỷ lệ phần trăm cơ sở y tế tiếp cận được với các thông tin thuốc khách quan [8]. Theo các số liệu khảo sát 50% bệnh nhân không biết cách uống thuốc theo đơn đã kê, uống thuốc không đều hoặc không uống thuốc.
Lý do chính là bệnh nhân không tuân thủ điều trị. Việc không tuân thủ điều trị có thể dẫn đến những hậu quả nghiêm trọng [3]. Tuân thủ điều trị liên quan đến những yếu tố mà bệnh nhân được trải qua tại các cơ sở y tế cũng như họ đã được chuẩn bị tốt như thế nào để giải quyết đơn đã kê và thuốc đã được cấp phát. Thực trạng kê đơn và sử dụng thuốc trong điều trị ngoại trú: 1.
Thực trạng kê đơn và sử dụng thuốc trên thế giới Thuốc, đặc biệt là thuốc kháng sinh có vai trò quan trọng trong việc điều trị chữa bệnh, tuy nhiên thuốc có những tác dụng phụ, nếu sử dụng không đúng cách hoặc tự ý sử dụng sẽ gây ra những hậu quả ảnh hưởng trực tiếp đến sức khỏe con 8 người như kéo dài thời gian điều trị, gia tăng tỷ lệ tử vong của bệnh nhân, tăng chi phí điều trị, đặc biệt là gia tăng tình trạng kháng kháng sinh [2]. Không tuân thủ quy chế kê đơn Trong bối cảnh mô hình bệnh tật liên tục thay đổi, nhiều dịch bệnh mới xuất hiện cũng như sự ra đời của nhiều hoạt chất, chế phẩm thuốc, vấn đề kê đơn và sử dụng thuốc an toàn, hợp lý, hiệu quả và kinh tế đang được toàn thế giới quan tâm. Phân tích các số liệu về kê đơn và sử dụng thuốc cho thấy tình trạng không tuân thủ quy chế kê đơn, lạm dụng thuốc và lạm dụng kháng sinh, thuốc tiêm, vitamin được đề cập tại nhiều quốc gia.