Tổng quan luận án
Đề tài luận án tiến sĩ: "Thi pháp thơ lục bát hiện đại (qua một số trường hợp tiêu biểu)"
- Nghiên cứu sinh: Nguyễn Quốc Khánh
- Chuyên ngành: Văn học Việt Nam (Mã số: 9.21)
- Cơ sở đào tạo: Học viện Khoa học Xã hội – Viện Hàn lâm Khoa học Xã hội Việt Nam
- Người hướng dẫn khoa học: PGS. Nguyễn Văn Dân và PGS. Nguyễn Thị Bích Thu
- Năm bảo vệ: 2023
Tính cấp thiết và khoảng trống nghiên cứu
Thơ lục bát là thể thơ kế thừa từ truyền thống văn hóa dân tộc, bắt nguồn từ kho tàng ca dao, dân ca và được hoàn thiện qua truyện thơ Nôm mà đỉnh cao là Truyện Kiều của Nguyễn Du. Trong tiến trình văn học hiện đại, lục bát tiếp tục khẳng định sức sống với nhiều tên tuổi như Tản Đà, Nguyễn Bính, Huy Cận, Tố Hữu, Bùi Giáng, Nguyễn Duy, Đồng Đức Bốn, Phạm Công Trứ, Lê Đình Cánh. Lục bát vốn có đặc tính dễ làm nhưng khó đạt tới độ tinh tế; số lượng người sáng tác theo thể loại này rất lớn nhưng số lượng tác giả ghi dấu ấn sâu sắc lại có giới hạn.
Dưới góc nhìn thi pháp học, thơ lục bát hiện đại có sự phân hóa thành hai khuynh hướng chính: khuynh hướng dân gian (tiêu biểu như Nguyễn Bính, Nguyễn Duy, Đồng Đức Bốn) và khuynh hướng cổ điển - bác học (tiêu biểu như Huy Cận và một phần ở Bùi Giáng). Mặc dù đã có các công trình nghiên cứu lục bát ở từng khía cạnh riêng lẻ hoặc từng tác giả cụ thể, nhưng việc nghiên cứu có hệ thống quá trình vận động của thể loại, cấu trúc và ngôn ngữ thơ lục bát qua hai khuynh hướng này từ truyền thống đến hiện đại vẫn còn là một khoảng trống cần được giải mã.
Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu
Mục tiêu nghiên cứu được xác định gồm các nội dung sau:
- Tìm hiểu thi pháp thơ lục bát hiện đại trên các bình diện: thể loại, ngôn ngữ, cấu trúc và dấu ấn của hai khuynh hướng sáng tác dân gian và cổ điển trong tác phẩm của các tác giả tiêu biểu.
- Chỉ ra các đặc điểm trong tiến trình vận động của thể lục bát từ văn học dân gian đến văn học hiện đại.
- Tìm hiểu quá trình biến đổi của cấu trúc và ngôn ngữ thơ lục bát từ truyền thống đến hiện đại.
- Làm rõ những yếu tố kế thừa truyền thống và các cách tân nghệ thuật phù hợp với từng thời kỳ lịch sử.
Nhiệm vụ nghiên cứu cụ thể bao gồm:
- Tổng quan tình hình nghiên cứu về thi pháp thơ và thơ lục bát ở trong nước và quốc tế.
- Khảo sát quá trình hình thành, hoàn thiện thanh điệu tiếng Việt và sự phát triển của thể lục bát qua các thời kỳ: dân gian, trung đại và hiện đại.
- Phân tích cấu trúc thơ lục bát hiện đại (khuôn hình, biến thể, cấu trúc tự sự, cấu trúc đối, cấu trúc mạch tâm trạng nhân vật trữ tình).
- Phân tích ngôn ngữ thơ lục bát hiện đại trên ba phương diện: âm điệu, vần điệu và nhịp điệu.
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: Thơ lục bát hiện đại của các tác giả tiêu biểu dưới góc nhìn thi pháp học (thể loại, cấu trúc, ngôn ngữ).
- Phạm vi văn bản khảo sát chính:
- Nguyễn Bính: tập thơ Lỡ bước sang ngang (1940), Tâm hồn tôi (1940).
- Huy Cận: tập thơ Lửa thiêng (1940).
- Bùi Giáng: tập thơ Mưa nguồn (1962), Lá hoa cồn (1963).
- Nguyễn Duy: các tập thơ Cát trắng (1973), Ánh trăng (1984), Đường xa (1989).
- Phạm vi tư liệu mở rộng và đối chứng: Sáng tác của Tản Đà, Tố Hữu, Phạm Công Trứ, Đồng Đức Bốn, Lê Đình Cánh, Mai Văn Phấn, Trần Huyền Trân; kết hợp đối chứng với ca dao dân gian và truyện thơ Nôm trung đại.
Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án
Luận án tiến hành điểm lại các hệ thống lý thuyết và công trình nghiên cứu liên quan theo hai mảng lớn:
1. Nghiên cứu thi pháp học và thi pháp thơ ở nước ngoài
- Thời kỳ cổ đại và trung đại: Luận án dẫn xuất phát điểm của thi pháp học phương Tây từ công trình Peri Poetikes (Nghệ thuật thơ ca) của Aristote (384 – 322 TCN) với quan niệm nghệ thuật là sự mô phỏng (mimesis), tiếp nối qua Horatius, Minturno, Giangiorgio Trissino, Boileau. Ở phương Đông, công trình Văn tâm điêu long của Lưu Hiệp (thế kỷ VI) được xem là tác phẩm lý luận văn học và thi pháp hoàn chỉnh đầu tiên; kế tiếp là Tùy Viên thi thoại của Viên Mai đề cao thuyết linh tính và tự do biểu đạt cá tính.
- Thời kỳ cận - hiện đại: A. Veselovski đề xướng "Thi pháp học lịch sử" theo phương pháp so sánh lịch đại; V. Shklovski công bố tiểu luận Nghệ thuật như là thủ pháp (1919) đặt nền móng cho Hình thức luận Nga; B. Eikhenbaum nghiên cứu nhạc điệu câu thơ trữ tình qua ngữ điệu; R. Jakobson làm rõ mối tương quan giữa ngữ âm và ngữ nghĩa, phản biện tính võ đoán của F. de Saussure trong Giáo trình ngôn ngữ học đại cương, đồng thời xác lập nguyên lý trục kết hợp, trục lựa chọn và nguyên lý song song. Giai đoạn thi pháp học cấu trúc ghi nhận các công trình của T. Todorov, Iu. Lotman, Jonathan Culler.
2. Nghiên cứu về thơ lục bát và thi pháp thơ lục bát tại Việt Nam
- Về lý thuyết thể loại và cấu trúc ngôn ngữ:
- Phan Ngọc: Chuyên luận Tìm hiểu phong cách Nguyễn Du trong Truyện Kiều (1985) và các công trình về thơ Đường (1990) tiếp cận theo thi pháp học cấu trúc và phong cách học, phân tích nét khu biệt cá nhân qua thao tác đối lập.
- Nguyễn Phan Cảnh: Ngôn ngữ thơ (1985) là công trình đầu tiên ứng dụng cấu trúc luận vào thi pháp ngôn ngữ thơ tiếng Việt, phân tích chức năng tín hiệu đa trị, trường nét dư và khả năng tạo thể của lục bát.
- Phan Diễm Phương: Chuyên luận Lục bát và song thất lục bát (1998) nghiên cứu tiến trình thể loại từ góc nhìn cấu trúc âm luật và sự hình thành khuôn mẫu.
- Hà Minh Đức: Thơ và các vấn đề trong thơ Việt Nam hiện đại (1974).
- Nguyễn Xuân Kính: Thi pháp ca dao phân tích tính linh hoạt của nhịp điệu và khả năng biểu đạt của lục bát dân gian.
- Trần Đình Sử: Các công trình Thi pháp Truyện Kiều, Thi pháp thơ Tố Hữu, Mấy vấn đề về thi pháp Thơ mới phân tích quan niệm nghệ thuật về con người, không gian, thời gian, mô hình nghệ thuật và sự chuyển dịch từ thi pháp quy phạm trung đại sang thi pháp hiện đại.
- Nguyễn Đăng Điệp: Giọng điệu trong thơ trữ tình (2002) phân loại và phân tích giọng điệu như một phương diện thi pháp học.
- Hồ Văn Hải (2004): Khảo sát ngữ âm, âm điệu, vần điệu, nhịp điệu của lục bát hiện đại.
- Đoàn Minh Tâm (2018): Nghệ thuật thơ lục bát Việt Nam thế kỉ XX khảo sát các biến thể hình thức và biểu tượng nghệ thuật.
- Nghiên cứu về các tác giả tiêu biểu: Hà Minh Đức và Chu Văn Sơn (Ba đỉnh cao thơ mới) khảo sát chất dân gian và điệu than trong thơ Nguyễn Bính; Trần Khánh Thành (Thi pháp thơ Huy Cận, 2001) nghiên cứu không gian, thời gian và cái tôi trữ tình; Nguyễn Đức Chính (Phong cách ngôn ngữ thơ Bùi Giáng) thống kê các biến thể ngắt nhịp và hòa thanh; Lã Nguyên (Nguyễn Duy – Nhà thơ hiện đại Việt Nam) khảo sát ba lớp ngôn ngữ và giọng trữ tình cảm thương mang âm hưởng hát nói.
Khoảng trống luận án giải quyết
Luận án định vị nghiên cứu vào việc hệ thống hóa quá trình vận động của thể thơ lục bát dựa trên sự song hành và giao thoa của hai khuynh hướng: khuynh hướng dân gian và khuynh hướng cổ điển - bác học. Việc phân tích được triển khai đồng bộ trên ba bình diện hình thức mang tính nội dung: thể loại, cấu trúc văn bản và ngôn ngữ nghệ thuật.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Cơ sở lý thuyết
Luận án sử dụng khái niệm thi pháp thơ theo nghĩa hẹp (tương đương với khái niệm thi học - Poetics), tập trung khảo sát các phương diện tổ chức hình thức nghệ thuật của văn bản thơ:
- Các thành tố âm luật: thi âm (tổ hợp âm, thanh), thi tiết (cấu trúc tiết điệu), thi điệu (cấu trúc nhịp điệu câu/bài) và thi đoạn (tổ chức khổ, đoạn thơ).
- Cấu trúc văn bản: cấu trúc tự sự, cấu trúc đối xứng/song hành, cấu trúc vận động tâm trạng nhân vật trữ tình.
- Ngôn ngữ thơ: tương quan ngữ âm - ngữ nghĩa, sự biến đổi âm điệu, vần điệu và nhịp điệu từ truyền thống đến hiện đại.
Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp thi pháp học: Nhận diện đặc điểm tổ chức hình thức nghệ thuật gắn liền với thế giới nội dung biểu đạt; phân tích tác phẩm như một chỉnh thể khép kín.
- Phương pháp loại hình: Xem xét quy luật phát triển của thể lục bát, xác định sự biến đổi khuôn hình và phân loại hai khuynh hướng sáng tác dân gian và cổ điển.
- Phương pháp thống kê: Khảo sát tần suất xuất hiện của các dạng thức gieo vần, ngắt nhịp, phối thanh và các biến thể cấu trúc nhằm cung cấp ngữ liệu định lượng bổ trợ cho các phân tích định tính.
- Phương pháp đối chiếu - so sánh: Đặt thơ lục bát hiện đại trong tương quan lịch đại với lục bát trong ca dao và truyện thơ Nôm trung đại để làm rõ các yếu tố kế thừa và cách tân.
- Phương pháp phân tích văn bản: Thao tác trực tiếp trên câu chữ, cấu trúc dòng thơ, đoạn thơ trong các tập thơ được chọn làm phạm vi nghiên cứu.
Nguồn tư liệu nghiên cứu
- Văn bản các tập thơ hiện đại: Lỡ bước sang ngang, Tâm hồn tôi (Nguyễn Bính); Lửa thiêng (Huy Cận); Mưa nguồn, Lá hoa cồn (Bùi Giáng); Cát trắng, Ánh trăng, Đường xa (Nguyễn Duy).
- Văn bản đối chứng: 1.015 lời ca dao trong cuốn Ca dao Việt Nam; 3.254 câu thơ trong Truyện Kiều (Nguyễn Du); các sáng tác của Tản Đà, Tố Hữu, Đồng Đức Bốn, Phạm Công Trứ.
Nội dung chính theo từng chương
Chương 1: Tổng quan vấn đề nghiên cứu
Chương 1 hệ thống hóa lịch sử lý thuyết thi pháp học từ cổ đại đến hiện đại ở phương Tây và phương Đông. Tác giả xác định nội hàm khái niệm thi pháp thơ theo nghĩa hẹp làm khung phân tích cho toàn bộ công trình. Đồng thời, chương này tổng thuật toàn diện các công trình nghiên cứu về thơ lục bát, chỉ ra những kết quả đã đạt được của các tác giả đi trước (Trần Đình Sử, Phan Ngọc, Nguyễn Phan Cảnh, Phan Diễm Phương, Chu Văn Sơn, Lã Nguyên...) và xác định cơ sở khoa học cho việc phân chia hai khuynh hướng dân gian và cổ điển trong lục bát hiện đại.
Chương 2: Sự hình thành và phát triển của thể lục bát
Chương này tập trung khảo sát nguồn gốc lịch sử, cơ sở ngôn ngữ học và các giai đoạn tiến hóa của thể lục bát:
1. Sự hình thành thanh điệu tiếng Việt và thời điểm ra đời của lục bát
Dẫn kết quả nghiên cứu ngôn ngữ học của A. Haudricourt và kiến giải của Phan Diễm Phương, luận án khẳng định tiếng Việt thời kỳ Môn-Khơme/Việt-Mường chung ban đầu không có thanh điệu. Quá trình phân tách thanh điệu diễn ra từ thế kỷ VI đến thế kỷ XII:
| Tuyến điệu chung |
Âm đầu vô thanh |
Âm đầu hữu thanh |
| Ngang – Huyền |
Thanh ngang (không dấu) |
Thanh huyền |
| Sắc – Nặng |
Thanh sắc |
Thanh nặng |
| Hỏi – Ngã |
Thanh hỏi |
Thanh ngã |
Đến thế kỷ VI, tiếng Việt mới có 3 thanh (ngang, huyền, sắc); và đến thế kỷ XII, hệ thống 6 thanh điệu mới hoàn chỉnh. Do đó, các quan điểm cho rằng lục bát ra đời từ thời Hai Bà Trưng (Nguyễn Đổng Chi) hay trước đời Lý (Hoa Bằng) dựa trên nội dung câu ca dao là thiếu căn cứ khoa học. Luận án ủng hộ quan điểm của Nguyễn Văn Hoàn và Nguyễn Xuân Kính rằng lục bát hoàn thiện sớm nhất vào khoảng cuối thế kỷ XV và đầu thế kỷ XVI.
2. Tư duy thơ và nhu cầu biểu đạt trong văn học dân gian
- Tư duy vần điệu và đối xứng: Hình thành từ thành ngữ và tục ngữ. Thống kê của Phan Thị Đào (1999) cho thấy 67% câu tục ngữ Việt Nam có vần. Sự cân xứng về số tiếng, thanh điệu (bằng/trắc) và đối nghĩa từ vựng trong thành ngữ (ví dụ: Dầm mưa dãi nắng, Vào sống ra chết) là tiền đề định hình luật phối thanh lục bát.
- Nhu cầu biểu đạt chức năng:
- Cấu trúc lời ru: Giai điệu nhẹ nhàng, nhịp nhàng, liên tục nhằm phục vụ hát ru con, gửi gắm tâm sự thế thái nhân tình.
- Cấu trúc đối đáp: Xuất hiện trong ca dao giao duyên (đối 2 vế tương hợp hoặc 2 vế đối lập).
- Giọng điệu than thở: Phổ biến trong ca dao than thân của người phụ nữ dưới chế độ phong kiến, kết hợp điệu than và điệu ghẹo (theo Chu Văn Sơn).
3. Ca dao định hình thể lục bát và quy luật phối thanh
Thống kê từ ngữ liệu thực tế cho thấy sự chi phối tuyệt đối của thể lục bát trong ca dao:
| Chỉ số khảo sát |
Dữ liệu thống kê trong văn bản |
| Tỷ lệ thể lục bát trong cuốn Ca dao Việt Nam (Nguyễn Xuân Kính) |
973 / 1.015 lời (chiếm 95%) |
| Tỷ lệ tục ngữ có vần (Phan Thị Đào, 1999) |
67% |
| Số lần Nguyễn Du dùng vần bằng ở tiếng thứ 4 trong Truyện Kiều |
7 / 3.254 câu |
Khuôn hình phối thanh chuẩn tắc gồm: tiếng thứ 4 (trắc), tiếng thứ 6 (bằng), tiếng thứ 8 (bằng, đối thanh huyền - ngang với tiếng thứ 6). Các trường hợp ngoại lệ như lục bát vần trắc hoặc lục bát quãng tư (hiệp vần ở tiếng thứ 4 dòng bát) là dấu tích còn lại của quá trình thử nghiệm, lựa chọn và thải loại trong tiến trình hoàn thiện thể thơ.
Chương 3: Cấu trúc thơ lục bát hiện đại
Chương 3 đi sâu khảo sát các bình diện tổ chức cấu trúc của thơ lục bát hiện đại:
- Cấu trúc khuôn hình và biến thể: Phân tích sự duy trì mô hình 6/8 truyền thống song song với việc mở rộng các biến thể về dung lượng dòng thơ, cách ngắt nhịp và phân đoạn văn bản.
- Cấu trúc tự sự trong thơ lục bát: Sự vận động từ cấu trúc tự sự dân gian và truyện thơ Nôm sang cấu trúc trữ tình - tự sự hiện đại, nơi sự kiện bên ngoài chuyển hóa thành sự kiện tâm trạng.
- Các mô hình cấu trúc tiêu biểu:
- Cấu trúc đối: Đối xứng và đối song hành trên bình diện từ ngữ, ngữ đoạn và dòng thơ.
- Cấu trúc mạch tâm trạng nhân vật trữ tình: Sự xuất hiện của cái tôi cá nhân, cái tôi cô đơn, phân thân trong phong trào Thơ mới (Nguyễn Bính, Huy Cận) và cái tôi suy tư, chiêm nghiệm thời hậu chiến (Nguyễn Duy, Bùi Giáng).
Chương 4: Ngôn ngữ thơ lục bát hiện đại
Chương 4 phân tích sự cách tân ngôn ngữ trên ba trục âm luật:
- Âm điệu: Khảo sát âm điệu truyền thống mang tính êm ả, đều đặn của ca dao và sự cách tân âm điệu theo hướng biểu cảm phức hợp, tăng cường khẩu ngữ và tính nhạc phi quy phạm trong thơ hiện đại.
- Vần điệu: Sự tiếp nối lối gieo vần chính cưỡng truyền thống và các hiện tượng cách tân (vần ép, vần cách quãng, lặp âm hiệp vần trong thơ Bùi Giáng).
- Nhịp điệu: Sự dịch chuyển từ các nhịp chẵn truyền thống (2/2/2, 2/2/2/2, 4/4) sang các tổ chức nhịp lẻ, nhịp vắt dòng, nhịp bất đối xứng (chẳng hạn các cấu trúc ngắt 4 nhịp và 5 nhịp trong thơ Bùi Giáng như 1/1/2/4, 1/2/3/2, 1/1/1/1/2...).
Kết quả và những đóng góp mới
Đóng góp về mặt lý luận
- Vận dụng khung lý thuyết thi pháp học theo nghĩa hẹp (thi học) để xây dựng hệ thống tiêu chí khảo sát toàn diện thể thơ lục bát từ bình diện cấu trúc âm luật đến tổ chức văn bản và ngôn ngữ nghệ thuật.
- Xác lập cơ sở khoa học khẳng định sự vận động song hành của hai khuynh hướng thẩm mỹ: khuynh hướng dân gian và khuynh hướng cổ điển - bác học như một quy luật phát triển nội tại của thơ lục bát Việt Nam.
Đóng góp về mặt thực tiễn
- Làm rõ quá trình hình thành thể lục bát gắn liền với tiến trình hoàn thiện 6 thanh điệu tiếng Việt (thế kỷ VI – XII) và chứng minh lục bát hoàn thiện sớm nhất vào cuối thế kỷ XV trong văn học dân gian trước khi được văn học viết nâng cao.
- Phân tích cụ thể các biểu hiện cách tân về cấu trúc khuôn hình, tổ chức mạch cảm xúc và cấu trúc nhịp điệu, vần điệu qua các tập thơ tiêu biểu của Nguyễn Bính, Huy Cận, Bùi Giáng và Nguyễn Duy.
- Giải mã nguyên nhân tạo nên sức sống trường tồn của thể lục bát: sự kết hợp giữa tính ổn định của khuôn hình âm luật truyền thống với khả năng dung nạp các yếu tố ngôn ngữ và tư duy nghệ thuật hiện đại.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
- Hạn chế: Luận án tập trung khảo sát chuyên sâu vào 4 tác giả đại diện (Nguyễn Bính, Huy Cận, Bùi Giáng, Nguyễn Duy) qua 8 tập thơ chính và một số tác giả liên hệ; do đó chưa thể bao quát toàn bộ các thể nghiệm lục bát của tất cả các trào lưu thơ ca đương đại cuối thế kỷ XX đầu thế kỷ XXI.
- Hướng nghiên cứu tiếp: Tiếp tục mở rộng phạm vi khảo sát sang các tác giả thơ đương đại sau năm 2000; đi sâu nghiên cứu các hiện tượng giải cấu trúc, phá cách về hình thức văn bản và sự tích hợp đa phương tiện của thơ lục bát trong đời sống văn học hiện nay.
Giá trị tham khảo
Luận án là tài liệu tham khảo chuyên khảo dành cho:
- Nghiên cứu sinh, học viên cao học và sinh viên ngành Văn học Việt Nam, Lý luận văn học và Ngôn ngữ học trong việc tiếp cận phương pháp phân tích thi pháp thể loại.
- Giảng viên và giáo viên ngữ văn sử dụng tư liệu để giảng dạy về tiến trình lịch sử văn học dân tộc, các tác gia tiêu biểu (Nguyễn Du, Nguyễn Bính, Huy Cận, Nguyễn Duy, Bùi Giáng) và thi luật tiếng Việt.
- Các nhà nghiên cứu văn hóa, nhà phê bình văn học quan tâm đến lịch sử hình thành thanh điệu tiếng Việt và sự biến đổi của các hình thức thơ truyền thống trong thời kỳ hiện đại hóa.
Câu hỏi thường gặp
1. Luận án giải thích nguồn gốc thanh điệu tiếng Việt và sự ra đời của thể lục bát như thế nào?
Dựa trên công trình của nhà ngôn ngữ học A. Haudricourt và phân tích của Phan Diễm Phương, luận án chỉ ra rằng tiếng Việt nguyên thủy không có thanh điệu. Từ thế kỷ VI đến thế kỷ XII, tiếng Việt trải qua quá trình tách từ 3 thanh thành 6 thanh điệu hoàn chỉnh. Thể lục bát chỉ có thể hình thành khi hệ thống thanh điệu đã hội đủ điều kiện phối thanh, do đó mốc xuất hiện sớm nhất của thể thơ này là khoảng cuối thế kỷ XV.
2. Hai khuynh hướng sáng tác chính của thơ lục bát hiện đại được xác định là gì?
Luận án xác định hai khuynh hướng chính:
- Khuynh hướng dân gian: Kế thừa âm hưởng ca dao, ngôn ngữ mộc mạc, đậm chất đồng quê và lời ăn tiếng nói quần chúng (tiêu biểu: Nguyễn Bính, Nguyễn Duy, Đồng Đức Bốn).
- Khuynh hướng cổ điển - bác học: Chú trọng tính chuẩn mực, trang trọng, trau chuốt về ngôn từ và hàm súc về tư tưởng (tiêu biểu: Huy Cận, và sự kết hợp phá cách ở Bùi Giáng).
3. Tỷ lệ thể lục bát trong ca dao và hiện tượng hiệp vần ngoại lệ được dẫn chứng ra sao?
Theo số liệu thống kê của Nguyễn Xuân Kính trong cuốn Ca dao Việt Nam, thể lục bát chiếm 973 trên tổng số 1.015 lời ca dao (đạt tỷ lệ 95%). Các trường hợp ngoại lệ như lục bát vần trắc hay hiệp vần ở tiếng thứ tư dòng bát (lục bát quãng tư) xuất hiện với tần suất rất thấp, phản ánh dấu tích của quá trình lựa chọn và thải loại để đi đến luật phối thanh chuẩn mực 2-4-6-8.
4. Các tập thơ cụ thể nào được chọn làm ngữ liệu khảo sát trọng tâm?
Luận án khảo sát 8 tập thơ chính của 4 tác giả:
- Nguyễn Bính: Lỡ bước sang ngang (1940), Tâm hồn tôi (1940).
- Huy Cận: Lửa thiêng (1940).
- Bùi Giáng: Mưa nguồn (1962), Lá hoa cồn (1963).
- Nguyễn Duy: Cát trắng (1973), Ánh trăng (1984), Đường xa (1989).
Kết luận
Luận án tiến sĩ của tác giả Nguyễn Quốc Khánh đã hệ thống hóa thi pháp thơ lục bát từ cội nguồn dân gian, qua đỉnh cao trung đại đến các chặng đường phát triển của văn học hiện đại. Bằng việc vận dụng lý thuyết thi học theo nghĩa hẹp kết hợp phương pháp loại hình, đối chiếu lịch đại và thống kê văn bản, công trình đã làm sáng tỏ cấu trúc âm luật, tổ chức văn bản và ngôn ngữ của thể thơ này qua hai khuynh hướng dân gian và cổ điển. Kết quả nghiên cứu cung cấp cơ sở khoa học để lý giải sức sống trường tồn và quy luật vận động của thể thơ lục bát trong tiến trình văn học dân tộc.