Luận văn Thạc sĩ: Thơ Dân tộc thiểu số Việt Nam Đầu Thế Kỷ XXI - Trần Thị Vân Anh

Luận văn thạc sĩ nghiên cứu thơ dân tộc thiểu số việt nam đầu thế kỉ xxi, đánh giá hiện trạng, phân tích vấn đề, đề xuất biện pháp hoàn thiện trong lĩnh vực .

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận văn thạc sĩ

2018

96
0
0

Phí lưu trữ

35 Point

Mục lục chi tiết

Lời cam đoan

MỞ ĐẦU

1. Lý do chọn đề tài

2. Lịch sử vấn đề

3. Đối tượng, phạm vi nghiên cứu

4. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

5. Phương pháp nghiên cứu

6. Bố cục của luận văn

1. Chương 1: THƠ DÂN TỘC THIỂU SỐ VIỆT NAM ĐẦU THẾ KỈ XXI TRONG TIẾN TRÌNH THƠ DÂN TỘC THIỂU SỐ VIỆT NAM HIỆN- ĐƯƠNG ĐẠI

1.1. Tiến trình vận động và phát triển của thơ dân tộc thiểu số Việt Nam hiện đại

1.2. Thơ dân tộc thiểu số Việt Nam đầu thế kỉ XXI

1.2.1. Những yếu tố lịch sử, văn hóa xã hội tác động tới sự vận động và phát triển của thơ DTTS Việt Nam đầu thế kỉ XXI

1.2.2. Khái quát chung về sự vận động của thơ dân tộc thiểu số Việt Nam đầu thế kỉ XXI

1.3. Tiểu kết chương 1

2. Chương 2: CẢM HỨNG NGHỆ THUẬT TRONG THƠ DÂN TỘC THIỂU SỐ VIỆT NAM ĐẦU THẾ KỈ XXI

2.1. Một số khái niệm lý luận liên quan

2.1.1. Khái niệm cảm hứng

2.1.2. Cảm hứng nghệ thuật - Cảm hứng chủ đạo

2.2. Cảm hứng nghệ thuật trong thơ dân tộc thiểu số Việt Nam đầu thế kỉ XXI

2.2.1. Cảm hứng trữ tình ngợi ca vẻ đẹp của thiên nhiên, con người và cuộc sống miền núi

2.2.2. Cảm hứng suy tư, chiêm nghiệm về tình đời, tình người

2.3. Tiểu kết chương 2

3. Chương 3: MỘT SỐ PHƯƠNG DIỆN NGHỆ THUẬT TRONG THƠ DÂN TỘC THIỂU SỐ VIỆT NAM ĐẦU THẾ KỈ XXI

3.1. Hình ảnh thơ

3.2. Tiểu kết chương 3

TÀI LIỆU THAM KHẢO

Tóm tắt

I. Tổng Quan Phân Tích Thơ Dân Tộc Thiểu Số Đầu Thế Kỷ XXI

Văn học dân tộc thiểu số (DTTS) là một bộ phận không thể thiếu của văn học Việt Nam, đóng góp vào sự đa dạng và phong phú của nền văn học chung. Trong đó, thơ ca DTTS, mặc dù có những khó khăn riêng, vẫn tiếp tục phát triển và đạt được những thành tựu đáng ghi nhận, đặc biệt là trong giai đoạn đầu thế kỷ XXI. Các nhà thơ DTTS đã mang đến cho nền thơ hiện đại Việt Nam một thế giới nghệ thuật mới lạ, sinh động, với những góc nhìn, cảm hứng và giọng điệu riêng biệt. Chặng đường đầu thế kỷ XXI, thơ DTTS có nhiều biến chuyển, bứt phá, xuất hiện thêm những gương mặt mới, sắc thái mới, chín chắn, trưởng thành mà vẫn rất tươi trẻ, phóng khoáng. Việc nghiên cứu chuyên sâu về thơ DTTS Việt Nam đầu thế kỷ XXI, bao gồm cả thành công và hạn chế, sẽ giúp đánh giá đầy đủ hơn sự vận động và diện mạo của thơ DTTS trên hành trình phát triển, đồng thời giới thiệu đến độc giả sự hiểu biết và trân trọng đối với bộ phận văn học đáng quý này. Tuy nhiên, trong chương trình Ngữ văn phổ thông, số lượng tác phẩm thơ DTTS được giảng dạy vẫn còn khiêm tốn so với những thành tựu mà nó đạt được. Thơ DTTS hiện đại bắt đầu xuất hiện với một số cây bút nổi bật là Hoàng Đức Hậu (Tày / 1890 - 1945), sau đó là Bàn Tài Đoàn (Dao / 1913 - 2009), Nông Quốc Chấn (Tày / 1923-2002), Nông Minh Châu (Tày / 1924 - 1979) trong thời kì kháng chiến chống Pháp.

1.1. Đánh Giá Vị Trí Thơ Ca Dân Tộc Thiểu Số Trong Văn Học

Thơ ca các dân tộc thiểu số (DTTS) Việt Nam, từ lâu đã được khẳng định là một bộ phận văn học có vẻ đẹp và sắc thái riêng, in đậm dấu ấn tâm hồn và bản sắc văn hóa của các dân tộc, với nhiều cá tính sáng tạo và tài năng. Những nhà thơ DTTS đã đóng góp vào nền thơ hiện đại Việt Nam một thế giới nghệ thuật thơ thực sự mới lạ, sinh động với những gương mặt mới, những cảm hứng, những giọng điệu riêng. Đặc biệt chặng đường đầu thế kỉ XXI, thơ DTTS có nhiều biến chuyển, có những bứt phá, có thêm những gương mặt mới những sắc thái mới chín chắn, trưởng thành mà rất tươi trẻ, phóng khoáng. Điều này thể hiện sự nỗ lực không ngừng của các nhà thơ trong việc kết hợp giữa truyền thống và hiện đại, giữa bản sắc dân tộc và tinh hoa văn hóa nhân loại.

1.2. Lý Do Nghiên Cứu Thơ Dân Tộc Thiểu Số Đầu Thế Kỷ XXI

Nghiên cứu thơ DTTS Việt Nam đầu thế kỷ XXI với những thành công và hạn chế của nó sẽ góp phần đánh giá đầy đủ hơn sự vận động và diện mạo của thơ DTTS trên hành trình phát triển, góp phần giới thiệu cho đông đảo độc giả có thêm sự hiểu biết, trân trọng đối với bộ phận văn học đáng quý này. Sự hiểu biết này sẽ giúp cho giáo viên chúng tôi có thêm năng lực phát triển chương trình Ngữ văn phổ thông theo thể loại, theo chủ đề, đáp ứng yêu cầu đổi mới giáo dục phổ thông trong giai đoạn mới. Trong thơ ca dân tộc thiểu số nổi bật là giá trị nội dung và giá trị nghệ thuật, nó mang đến một góc nhìn mới về thiên nhiên và con người.

II. Thách Thức Duy Trì Bản Sắc Thơ Dân Tộc Thiểu Số Hiện Nay

Trong bối cảnh hội nhập và toàn cầu hóa, văn học dân tộc thiểu số Việt Nam nói chung và thơ ca DTTS nói riêng đối mặt với không ít thách thức. Sự du nhập của các trào lưu văn hóa ngoại lai, sự thay đổi trong lối sống và tư duy của người trẻ, cùng với nguy cơ mai một của các giá trị văn hóa truyền thống, tất cả đều tác động đến sự phát triển của thơ ca DTTS. Một trong những thách thức lớn nhất là làm thế nào để duy trì và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc trong thơ ca, đồng thời vẫn đảm bảo tính hiện đại và phù hợp với thời đại. Sự phát triển trong tình hình đó văn học Việt Nam đã chuyển mình đi lên đầy bản lĩnh. Trong đó văn học DTTS nói chung, thơ DTTS nói riêng cũng phần nào chịu ảnh hưởng, cả tiêu cực và tích cực, tuy mức độ khác nhau giữa các vùng miền, các dân tộc, các thế hệ tác giả. Với các tác giả trẻ, khi dùng trang viết của mình để tái hiện, ngợi ca, cũng là cách níu kéo vốn văn hóa ấy.

2.1. Nguy Cơ Pha Trộn Văn Hóa Và Mất Bản Sắc Trong Thơ DTTS

Không riêng gì người DTTS, cuộc sống tinh thần con người nói chung đang đứng trước những thách thức về sự pha trộn bản sắc, sự mai một vốn văn hóa truyền thống. Văn chương của họ tươi tắn, hồn nhiên, hiện đại, thông minh và “láu lỉnh” hơn so với các cây bút thuộc thế hệ trước. Họ đề cập đến các vấn đề xã hội, vấn đề cá nhân một cách đa diện, đa chiều hơn. Đặc biệt, họ ít bị chi phối bởi khuôn khổ, bởi các “mô típ” nghệ thuật mang tính truyền thống hơn so với các nhà văn lớp trước. Thế kỉ hội nhập với sự giao thoa giữa văn học Việt Nam và thế giới, giữa văn học của dân tộc Kinh với DTTS ảnh hưởng không nhỏ đến văn học DTTS Việt Nam hiện đại.

2.2. Sự Chênh Lệch Về Phát Triển Thơ Ca Giữa Các Dân Tộc Thiểu Số

Đội ngũ văn nghệ sĩ DTTS giữa các vùng miền, giữa các dân tộc còn có sự chênh lệch, có những dân tộc có rất ít tác giả và cũng chưa có bản sắc riêng. Nền thơ ca DTTS Việt Nam thế kỉ XX với nhiều thế hệ nhà thơ đã có những đóng góp làm thay đổi không chỉ diện mạo văn học DTTS mà còn đặt nền móng vững chắc cho văn học DTTS thế kỉ XXI và cho những chặng đường tiếp theo. Cần có những chính sách hỗ trợ và khuyến khích sáng tác cho các dân tộc thiểu số ít người, nhằm tạo ra sự cân bằng trong sự phát triển của văn học DTTS.

III. Cảm Hứng Chủ Đạo Ngợi Ca Thiên Nhiên Con Người Miền Núi

Thơ ca DTTS đầu thế kỷ XXI nổi bật với cảm hứng trữ tình ngợi ca vẻ đẹp của thiên nhiên, con người và cuộc sống miền núi. Các nhà thơ đã sử dụng ngôn ngữ thơ ca để tái hiện lại những hình ảnh quen thuộc của quê hương, từ những ngọn núi hùng vĩ, dòng sông thơ mộng, đến những con người lao động cần cù, chất phác. Các sáng tác tập trung phản ánh một cách sinh động hình ảnh thiên nhiên, cuộc sống, con người miền núi với lòng tự hào, tự tôn dân tộc sâu sắc trong thời đại mới. Không gian miền núi mang đậm bản sắc văn hóa cũng được khắc họa đầy độc đáo chứa đựng tình yêu và niềm tự hào sâu sắc. Thiên nhiên quê hương trở thành nguồn cảm hứng bất tận cho thơ ca DTTS đầu thế kỉ XXI.

3.1. Ca Ngợi Vẻ Đẹp Hùng Vĩ Thơ Mộng Của Thiên Nhiên Miền Núi

Không phải ngẫu nhiên mà các tác giả luôn hướng trái tim, hướng ngòi bút của mình đến cảnh sắc tự nhiên và xã hội mang đậm vẻ đẹp miền núi. Các nhà thơ dân tộc thiểu số giai đoạn này hướng ngòi bút vào phản ánh thiên nhiên với vẻ đẹp vừa chân thực vừa lãng mạn. Vẻ đẹp của quê hương làm ông vợi bớt cảm giác li hương. Tất cả vẫn da diết máu thịt trong tâm hồn nhà thơ. Với Kpa Ylăng chất sử thi Tây Nguyên ngấm vào tâm hồn khá sâu đậm nên cao nguyên trong thơ ông luôn sống động những tiếng chim quen thuộc của núi rừng. Cần làm nổi bật được vẻ đẹp hoang sơ, kỳ vĩ của thiên nhiên, đồng thời thể hiện sự gắn bó mật thiết giữa con người và thiên nhiên.

3.2. Khắc Họa Chân Dung Con Người Miền Núi Giản Dị Kiên Cường

Hình ảnh con người miền núi hiện lên trong thơ DTTS đầu thế kỉ XXI là những con người giản dị, hồn nhiên, chân thực, giàu yêu thương. Con người được nói đến trong thơ các cây bút thiểu số chủ yếu là những con người miền núi mang dáng dấp, phong thái riêng của tộc người. Cần tập trung khắc họa những phẩm chất tốt đẹp của con người miền núi, như sự cần cù, chịu khó, lòng dũng cảm, tinh thần đoàn kết, và tình yêu quê hương đất nước.

3.3. Tự Hào Với Bản Sắc Văn Hóa Độc Đáo Của Các Dân Tộc

Những câu lượn, câu sli như thấm vào hồn của tác giả, thấm vào hồn của người con trong tấm lòng luôn hướng về cội nguồn của mình. Bản sắc không thể trộn lẫn ấy tạo nên nét nổi bật không chỉ cho nhà thơ mà cho cả dân tộc cho văn hóa tộc người độc đáo mà họ đang từng ngày gìn giữ. Những phiên chợ Tết vùng cao không chỉ là nơi để bán mua, trao đổi hàng hóa mà đó còn là nơi gửi nhớ trao thương cho người mình yêu dấu, là một ngày cho cả một đời thương nhớ, cho những mối tình những ước ao chưa trọn vẹn. Cần làm nổi bật những nét đặc trưng văn hóa của từng dân tộc, như trang phục, lễ hội, phong tục tập quán, và nghệ thuật truyền thống.

IV. Chiêm Nghiệm Suy Tư Về Thế Sự Sự Thay Đổi Trong Thơ DTTS

Bên cạnh cảm hứng trữ tình, thơ ca DTTS đầu thế kỷ XXI còn thể hiện những suy tư, chiêm nghiệm sâu sắc về thế sự, về sự đổi thay của cuộc đời và con người. Các nhà thơ không chỉ ca ngợi vẻ đẹp của quê hương mà còn trăn trở về những khó khăn, thách thức mà đồng bào mình đang phải đối mặt. Thơ ca phản ánh chân thực hiện thực cuộc sống của các DTTS trong sự đổi thay của xã hội của đất nước. Một cuộc sống mưu sinh còn nhiều bộn bề khó khăn, cơn bão của văn hóa hiện đại đang làm mai một bào mòn văn hóa truyền thống các dân tộc. Các nhà thơ nhận thấy thiên nhiên hoang sơ thật dữ dội. Thiên nhiên mang đến khó khăn khắc nghiệt cho cuộc sống con người.

4.1. Nỗi Lo Về Sự Mai Một Các Giá Trị Văn Hóa Truyền Thống

Bên cạnh tình yêu tha thiết, niềm tự hào trân trọng các giá trị văn hóa truyền thống, ngợi ca các phong tục tập quán đẹp…các nhà thơ DTTS thế kỉ XXI còn đau đớn xót xa và suy tư trăn trở trước dự cảm âu lo về sự suy tàn, mai một, mong manh của các giá trị văn hóa truyền thống trước sức tấn công của đời sống hiện đại. Các nhà thơ bày tỏ sự lo lắng về việc giới trẻ dần quên đi tiếng nói, phong tục tập quán, và những giá trị văn hóa tốt đẹp của dân tộc.

4.2. Sự Thay Đổi Trong Lối Sống Và Tư Duy Của Con Người

Thực trạng đời sống đương đại đang báo động bởi sự đổi thay của văn hóa, xã hội. Bởi vậy trong thơ ca DTTS giai đoạn đầu thế kỉ XXI vẻ đẹp thiên nhiên, văn hóa, và lối sống ứng xử của con người quê hương từng là niềm tự hào giờ đây lại luôn đi liền với nỗi xót xa bởi sự đổi thay đến chóng mặt của tình người tình đời. Thơ ca DTTS tập trung vào việc khám phá những góc khuất trong đời sống con người, những mâu thuẫn giữa truyền thống và hiện đại, và những khát vọng vươn lên của con người trong xã hội mới.

4.3. Hiện Thực Cuộc Sống Mưu Sinh Còn Nhiều Khó Khăn

Cuộc sống trở nên khó khăn, con người dường như bị cằn cỗi bởi những bon chen và tham vọng. Dòng sông quê cùng đặc tính lúc hiền lành lúc lại dữ dằn trong cuộc mưu sinh của kiếp người đã chảy trong thơ Trần Thanh Pôn. Giai đoạn gần 20 năm đầu thế kỉ XXI này thơ DTTS vươn đến hướng khai thác đề tài cuộc sống với cái nhìn nhân văn, kiếm tìm và khẳng định cái Chân - Thiện - Mĩ của con người, của văn hóa miền núi. Đề tài mưu sinh luôn là một đề tài muôn thuở trong bất kỳ một tác phẩm văn học nào. Mưu sinh để cuộc sống của con người ngày càng trở nên tốt đẹp hơn.

V. Nghệ Thuật Đổi Mới Hình Thức Thể Hiện Thơ Dân Tộc Thiểu Số

Thơ DTTS những năm đầu thế kỉ XXI có sự chuyển biến về thể loại, có những cách tân hiện đại và phóng khoáng hơn trong vần điệu, ngắt nhịp. Thể thơ chiếm ưu thế trong thơ giai đoạn này là thể tự do, có lẽ bởi nó hợp với cái khoáng đạt của tâm hồn người miền núi và cũng là một cách làm khác đi so với những thể loại quen thuộc. Ngôn ngữ hình ảnh mang đặc trưng riêng. Đặc biệt là ở cách cảm, cách tư duy diễn đạt độc đáo của các dân tộc thiểu số. Giọng điệu trong thơ cũng uyển chuyển, đa dạng theo cảm hứng- có phơi phới ngợi ca, có buồn sầu thấm thía, có tự hào hãnh diện, có khắc khoải âu lo.Đó là giọng kể, tả, là giọng điệu thiết tha, đằm thắm kiểu tâm tình: ru, than, ngọt ngào.

5.1. Thể Thơ Tự Do Chiếm Ưu Thế Thể Hiện Cá Tính Sáng Tạo

Thể thơ chiếm ưu thế trong thơ giai đoạn này là thể tự do, có lẽ bởi nó hợp với cái khoáng đạt của tâm hồn người miền núi và cũng là một cách làm khác đi so với những thể loại quen thuộc. Thế hệ trước, từ những người mở đường như cố nhà thơ Nông Quốc Chấn đã viết những câu thơ hiện đại hóa, mới mẻ đầy ấn tượng.

5.2. Ngôn Ngữ Thơ Giàu Hình Ảnh Mang Đậm Bản Sắc Dân Tộc

Các nhà thơ đưa vào thơ những ngôn từ của đời sống còn mang tính nguyên sơ, sắp đặt theo trật tự của cảm xúc, không tuân theo những quy phạm chặt chẽ. Bên cạnh những câu thơ mộc mạc, thô sơ là những ý thơ có những ý nghĩa sâu xa; bên cạnh những ngôn từ dung dị của đời thường còn có những ngôn ngữ có bóng dáng của sự “gia công” khá kỹ lưỡng.

5.3. Giọng Điệu Thơ Đa Dạng Thể Hiện Cảm Xúc Phong Phú

Giọng điệu đặc sắc và thu hút được sự chú ý của người đọc hơn hết, đó là sự khỏe khoắn, vui tươi, mạnh mẽ, đúng như tính cách con người miền núi. Đặc điểm phong cách quen thuộc ở lớp tác giả trước là giản dị, thuần phác tự nhiên như gió núi mây ngàn hay cao nguyên lộng gió.

VI. Hướng Phát Triển Đưa Thơ Dân Tộc Thiểu Số Đến Với Cộng Đồng

Để thơ ca DTTS tiếp tục phát triển và có sức lan tỏa trong cộng đồng, cần có những giải pháp đồng bộ từ việc nâng cao chất lượng sáng tác, đến việc quảng bá, giới thiệu tác phẩm đến với công chúng. Đồng thời, cần tạo điều kiện để các nhà thơ DTTS có cơ hội giao lưu, học hỏi kinh nghiệm, và phát huy tối đa khả năng sáng tạo của mình. Cần làm nổi bật giá trị của di sản văn hóa các dân tộc thiểu số trong đó có cả thơ ca.

6.1. Phát Huy Vai Trò Của Các Hội Văn Học Nghệ Thuật

Các Hội Văn học nghệ thuật cần tạo điều kiện để các nhà thơ DTTS được tham gia các trại sáng tác, hội thảo, và các hoạt động giao lưu văn hóa. Cần có những giải thưởng văn học uy tín để tôn vinh những tác phẩm thơ ca DTTS có giá trị.

6.2. Tăng Cường Công Tác Quảng Bá Giới Thiệu Tác Phẩm

Cần tăng cường giới thiệu các tác phẩm thơ ca DTTS trên các phương tiện thông tin đại chúng, như báo chí, truyền hình, và internet. Cần có những chương trình dịch thuật để giới thiệu thơ ca DTTS đến với bạn đọc quốc tế.

6.3. Đưa Thơ Dân Tộc Thiểu Số Vào Trường Học

Thơ ca DTTS cần được đưa vào chương trình giảng dạy trong các trường học, để học sinh có cơ hội tiếp cận và hiểu rõ hơn về văn hóa và con người của các dân tộc thiểu số. Cần có những hoạt động ngoại khóa để khuyến khích học sinh tìm hiểu và sáng tác thơ ca DTTS.

02/10/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1 THƠ DÂN TỘC THIỂU SỐ VIỆT NAM ĐẦU THẾ KỈ XXI TRONG TIẾN TRÌNH THƠ DÂN TỘC THIỂU SỐ VIỆT NAM HIỆN- ĐƯƠNG ĐẠI 1. Tiến trình vận động và phát triển của thơ dân tộc thiểu số Việt Nam hiện đại. Văn học các DTTS Việt Nam thời kì hiện đại chủ yếu được hình thành và phát triển từ sau Cách mạng tháng Tám năm 1945, đặc biệt là từ những năm 60 của thế kỉ XX đến nay. Tuy xuất hiện muộn nhưng văn học các DTTS Việt Nam thời kì hiện đại đã có những bước vận động và phát triển khá mau chóng - từ đội ngũ sáng tác tới thể loại, số lượng và chất lượng tác phẩm.

Trong sự thống nhất mà đa dạng của nền văn học Việt Nam hiện đại, các nhà thơ, nhà văn DTTS luôn có ý thức giữ gìn và phát huy bản sắc dân tộc, luôn đổi mới về hình thức thể loại, cách tư duy hiện đại mà vẫn đậm đà bản sắc dân tộc. Nửa cuối thế kỷ 20, cùng với sự phát triển của văn học người Kinh, văn học các DTTS đã có những đóng góp quan trọng trong sự nghiệp văn học chung của nước nhà. Các nhà văn, nhà thơ DTTS đã thực sự mang đến cho văn học nước nhà một vẻ đẹp riêng khó lẫn. Các tác phẩm văn học là tiếng nói tự hào, là sự kết tinh văn hóa của mỗi tộc người trên đất nước Việt Nam.

Thơ ca các DTTS Việt Nam thời kì hiện đại ra đời và hình thành vào những năm 40, 50 của thế kỉ XX với những tác giả người dân tộc tham gia cách mạng như: Hoàng Văn Thụ, Dương Công Hoạt, Lê Quảng Ba. Thơ hiện đại DTTS bắt đầu xuất hiện với một số cây bút nổi bật là Hoàng Đức Hậu (Tày / 1890 - 1945), sau đó là Bàn Tài Đoàn (Dao / 1913 - 2009), Nông Quốc Chấn (Tày / 1923-2002), Nông Minh Châu (Tày / 1924 - 1979) trong thời kì kháng chiến chống Pháp. Đến giai đoạn 1945-1954 thơ ca DTTS phát triển khá mạnh trong sự phát triển chung của thơ ca Việt Nam nhằm phản ánh cuộc kháng chiến chống Pháp gian khổ mà tự hào của dân tộc. Sau khi miền Bắc được giải phóng, thơ ca các DTTS giai đoạn 1954-1975 có sự phát triển đáng tự hào.

Giai đoạn này đội ngũ sáng tác ngày càng đông đảo, số lượng tác phẩm ngày càng nhiều, chất lượng cao hơn nhiều so với giai đoạn trước. 7 download by : skknchat@gmail.com Những nhà thơ xuất hiện trước năm 1945 tiếp tục sáng tác và cống hiến như Nông Quốc Chấn, Nông Viết Toại, Nông Minh Châu…. Bên cạnh những tác giả trước vẫn tiếp tục sáng tác thời kì này xuất hiện một thế hệ nhà thơ thứ hai, thứ ba như: Mã A Lềnh, Lò Ngân Sủn, Vi Thị Kim Bình, Y Phương (Tày), Hoàng Nó, Lương Quy Nhân, Vương Trung (Thái), Mã Thế Vinh (Nùng), Triệu Kim Văn (Dao), Linh Nga Niêt Đam (Ê Đê), Mã A Lềnh, (Mông), Lò Ngân Sủn (Dáy), Vương Anh (Mường), Pờ Sảo Mìn (Pa Dí), Hơ Vê (Hơ rê), Lâm Quý (Cao Lan). Từ sau năm 1975 các nhà thơ DTTS đã tạo nên một đời sống thơ ca khá phong phú, độc đáo, mang đậm bản sắc tộc người các DTTS trong cả nước.

Một số nhà thơ đã vươn đến độ chín của tài năng, đã có tác phẩm được nhận giải thưởng văn chương như các tác giả : Bàn Tài Ðoàn, Vương Anh, Lương Quy Nhân, Mã Thế Vinh, Nông Viết Toại, Mã A Lềnh, Y Phương, Mai Liễu, Dương Thuấn, … Những năm gần đây, thơ ca DTTS ngày càng xuất hiện nhiều cả về số lượng lẫn chất lượng và đã khẳng định được vai trò, vị trí của mình trong đời sống văn học nước nhà. Đến nay tên tuổi các nhà thơ là con em các DTTS có tên trong Hội Nhà văn Việt Nam không còn hiếm. Đặc biệt là thế hệ nhà thơ trưởng thành từ sau 1975 đến nay. Dương Khâu Luông với những tập thơ được xuất bản như: Gọi bò về chuồng (tập thơ thiếu nhi)- NXB Hội Nhà văn-2003 ; Dám kha cần ngám điếp (tập thơ tiếng Tày)-NXB Văn hóa Dân tộc-2005; Bản mùa cốm (tập thơ thiếu nhi)-NXB Hội Nhà văn-2005; Bắt cá ở sông quê (tập thơ)-NXB Hội Nhà văn-2006; Co nghịu hưa cần (tập thơ song ngữ thiếu nhi Tày -Việt ) - NXB Văn hóa Dân tộc-2008.

Mai Liễu với hồn thơ vẫn giữ vẹn nguyên hơi thở miền núi với hàng chục tập thơ ra đời như: Giấc mơ của núi (2001), Đầu nguồn mây trắng (2004), Bếp lửa nhà sàn (2005), Núi vẫn còn mưa (2013)… Thơ DTTS đã có một đội ngũ khá đông đảo với nhiều cảm hứng phong phú, giọng điệu đa dạng và độc đáo. Tuy nhiên, đội ngũ văn nghệ sĩ DTTS giữa các vùng miền, giữa các dân tộc còn có sự chênh lệch, có những dân tộc có rất ít tác giả và cũng chưa có bản sắc riêng. Nền thơ ca DTTS Việt Nam thế kỉ XX với nhiều thế hệ nhà thơ đã có những đóng góp làm thay đổi không chỉ diện mạo văn học DTTS mà còn đặt nền móng vững chắc cho văn học DTTS thế kỉ XXI và cho những chặng đường tiếp theo. 8 download by : skknchat@gmail.

Thơ dân tộc thiểu số Việt Nam đầu thế kỉ XXI 1. Những yếu tố lịch sử, văn hóa xã hội tác động tới sự vận động và phát triển của thơ DTTS Việt Nam đầu thế kỉ XXI Đầu thế kỉ XXI thế giới có nhiều biến động về kinh tế, chính trị xã hội và văn hóa. Thứ nhất, thế giới đang tìm đường ra khỏi cuộc khủng hoảng hiện nay, trên thực tế là đang phải tìm đường chuyển sang một thời kỳ phát triển mới khác trước. Thứ hai, hiện tượng Trung Quốc trên con đường trở thành siêu cường ngày càng trở nên nóng bỏng trên trường quốc tế - nhất là tại khu vực.

Thứ ba mối quan hệ phức tạp, căng thẳng và khó hòa giải của các nước Châu Âu với Mĩ, của Mĩ - Hàn Quốc và Triều Tiên… Thế kỉ XXI đánh dấu sự chuyển biến mạnh mẽ, đổi mới liên tục các xu hướng mỹ học, sự du nhập những trào lưu phương Tây vào đời sống văn học Việt Nam… Xã hội Việt Nam đầu thế kỉ XXI có nhiều thay đổi, nhiều chuyển biến không nhỏ. Việt Nam vừa phải thích nghi với bối cảnh thế giới mới rất quyết liệt so với trước, đồng thời vừa phải tự mình tìm đường chuyển sang một giai đoạn phát triển cao hơn để có thể đứng vững trong tình hình mới. Đặc biệt là trước nhu cầu đòi hỏi về văn hóa: hội nhập để đi lên, hội nhập nhưng không hòa tan, tiếp thu tinh hoa văn hóa nước ngoài mà vẫn giữ được bản sắc văn hóa dân tộc. Phát triển trong tình hình đó văn học Việt Nam đã chuyển mình đi lên đầy bản lĩnh.

Trong đó văn học DTTS nói chung, thơ DTTS nói riêng cũng phần nào chịu ảnh hưởng, cả tiêu cực và tích cực, tuy mức độ khác nhau giữa các vùng miền, các dân tộc, các thế hệ tác giả. Từ sau đổi mới 1986, thơ DTTS từng bước có những trưởng thành đáng kể. Hòa chung với xu hướng của thơ đương đại, thơ DTTS cũng dần mở rộng biên độ, chấp nhận tất cả những điều từ lớn lao đến nhỏ nhặt nhất của đời sống. Thế kỉ hội nhập với sự giao thoa giữa văn học Việt Nam và thế giới, giữa văn học của dân tộc Kinh với DTTS ảnh hưởng không nhỏ đến văn học DTTS Việt Nam hiện đại.

Thêm vào đó là sự chuyển mình của dân tộc trong đời sống xã hội và văn hóa ở hai thập niên đầu của thế kỉ XXI. Không riêng gì người DTTS, cuộc sống tinh thần con người nói chung đang đứng trước những thách thức về sự pha trộn bản sắc, sự mai một vốn văn hóa truyền thống. Với các tác giả trẻ, khi dùng trang viết của 9 download by : skknchat@gmail.com mình để tái hiện, ngợi ca, cũng là cách níu kéo vốn văn hóa ấy. Vì vậy có một sự thay đổi đáng kể về đội ngũ sáng tác từ trình độ, lứa tuổi, thay đổi về quan niệm nghệ thuật, về cảm hứng đến sự chuyển biến trong thể loại, trong ngôn từ và lối tư duy, diễn đạt… 1.

Khái quát chung về sự vận động của thơ dân tộc thiểu số Việt Nam đầu thế kỉ XXI 1. Về đội ngũ tác giả Nhìn một cách tổng thể, thơ DTTS đầu thế kỉ XXI có sự biến chuyển rõ nét, tuy mặt bằng chung chưa cao hơn giai đoạn trước nhiều nhưng số bài thơ, câu thơ hấp dẫn người đọc tăng một cách đáng kể. Có được điều này không chỉ bởi những nhà thơ đã thành danh tiếp tục cống hiến và khẳng định mà còn bởi những cây bút trẻ tiếp tục có những sáng tạo mới. Đặc biệt là ở 5 năm sau của thập kỉ thứ nhất và 5 năm đầu của thập kỉ thứ hai lực lượng những người sáng tác có sự thay đổi, những ấn tượng đặc biệt cũng được ghi nhận.

Lực lượng sáng tác của thơ DTTS thế kỉ XXI khá đông đảo, gồm ba thế hệ: thế hệ thứ nhất trưởng thành trong thời kì chống Pháp và chống Mỹ, thế hệ thứ hai thời hậu chiến và đổi mới, thứ ba là thế hệ sinh sau khi đất nước thống nhất. Sau thế hệ những người khai sáng như: Bàn Tài Đoàn, Nông Quốc Chấn, Cầm Biêu, Hoàng Nó, Đinh Sơn, Lương Quy Nhân, Nông Minh Châu, Y Điêng và những tên tuổi sinh vào những năm 30 như Triều Ân, Hoàng Hạc, Mã Thế Vinh … là thế hệ 4X vẫn tiếp tục khẳng định sự sáng tạo của mình như: Vi Thị Kim Bình, Mã A Lềnh, Ma Trường Nguyên, Vương Anh, Pờ Sảo Mìn, Lò Ngân Sủn, Triệu Kim Văn, … Thế hệ vào tuổi 5X ít hơn nhưng chứa đựng nhiều tiềm năng cho một phát triển có mặt là đột xuất để đạt một tầm cao tương xứng với thời đổi mới và hội nhập trong bối cảnh kỷ nguyên thông tin và cuộc Toàn cầu hoá lần thứ ba. Đó là: Mai Liễu, Triệu Lam Châu, Lò Cao Nhum, Inrasara Phú Trạm, Dương Thuấn… Người lớn tuổi nhất thuộc thế hệ này đã ngoài 60, và người trẻ nhất đã ngoài 50. Vậy cũng không còn là trẻ, nhưng họ đã khẳng định được những cái mới trong sáng tạo và đang còn nhiều hứa hẹn.

10 download by : skknchat@gmail.com Sang thế kỷ XXI, đặc biệt là trong khoảng mươi năm trở lại đây, chúng ta chứng kiến sự trưởng thành cũng như sự bứt phá của nhiều cây bút dân tộc thiểu số trẻ. Trong bài Đội ngũ nhà văn trẻ dân tộc thiểu số ở Việt Nam tác giả Đỗ Thị Thu Huyền đã đánh giá: “Hiện nay, văn học dân tộc thiểu số hiện đại từng bước có những vận động mạnh mẽ và đa diện.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ