Chương 1: Đặt vấn dé Chương 2: Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu Chương 3: Tổng quan Chương 4: Kết quả nghiên cứu và thảo luận Chương 5: Kết luận và kiến nghị CHƯƠNG 2 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 2.1 Vai trò và nhiệm vụ của nhập khẩu 2.1 Vai trò Nhập khẩu có vai trò quan trọng đối với phát triển kinh tế Việt Nam trên các mặt: — Nhập khẩu có tác động trực tiếp đến sản xuất và kinh doanh thương mại vì qua hoạt động nhập khẩu cung cấp cho nền kinh tế 60-100% nguyên nhiên vật liệu chính phục vụ cho sản xuất. Trong điều kiện công nghệ san xuất nguyên liệu trong nước chưa phát triển, việc nhập khẩu các nguyên liệu cao cấp như sợi cho ngành dệt, vải cho ngành may, phân bón cho nông nghiệp, các linh kiện cho ngành lắp rap xe máy, điện tử, xe hơi,. hoạt động nhập khẩu đã và đang góp phan quan trọng trong thực hiện chiến lược công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước hướng về xuất khẩu. — Nhập khẩu tác động mạnh vào sự đổi mới trang thiết bị và công nghệ san xuất, nhờ đó trình độ sản xuất nâng cao, năng suất lao động tăng đuổi kip các nước tiên tiến trên thế giới.
— Nhập khẩu có vai trò nhất định trong việc cải thiện và nâng cao mức sống nhân viên, bởi thông qua nhập khẩu sản xuất của ta mới có đủ nguyên nhiên vật liệu, thiết bị máy móc hoạt động, nên công nhân có công ăn việc làm có thu nhập. Mặt khác nhập hàng tiêu dùng, nhập khẩu sách báo khoa học kỹ thuật và văn hóa phẩm đời sống mới được cải thiện, trình độ dân trí tăng.2 Nhiệm vụ — Đảm bảo kịp thời đầy đủ và đồng bộ nhu cầu về tư liệu sản xuất cho sản xuất. — Góp phần thúc đẩy cuộc cách mạng khoa học kỹ thuật. — Bổ sung kip thời những nhu cầu san xuất và đời sống trong nước còn mất cân đối góp phần cải thiện đời sống nhân dân.2 Cơ cấu ngành hàng nhập khẩu Cơ cấu nhập khẩu là tỷ lệ tương quan giữa các nhóm ngành hàng trong toàn bộ kim ngạch nhập khẩu.
Đối với một nước như ta: lực lượng sản xuất còn ở trình độ thấp, kim ngạch nhập khẩu còn có hạn thì việc nâng cao tỷ trọng nhập khẩu thiết bị máy móc, nguyên vật liệu có ý nghĩa quan trọng thúc đẩy tốc độ tăng trưởng kinh tế và cuộc cách mạng khoa học kỹ thuật ở nước ta.3 Thị trường : khái niệm, chức năng và đặc điểm 2.1 Khái niệm thị trường Theo cách hiểu thông thường thì thị trường là nơi diễn ra các quá trình trao đổi, mua bán hàng hóa. Tuy có nhiều cách hiểu khác nhau về thị trường nhưng về mặt tổng quát, chúng ta có chấp nhận khái niệm thị trường như sau: “ Thi trường là một phạm trù riêng của nền sản xuất hàng hóa - nơi mà hàng hóa thực hiện sứ mệnh của mình là vật trao đổi mua bán. Một hàng hóa chỉ có thể là hàng hóa khi nó đi ra thị trường và được thị trường chấp nhận. Ngược lại, thị trường cũng chỉ là thị trường khi có sự trao đổi hàng hóa” (PTS.
Lê Ngoc Tong, vận dụng thị trường ngách vào kinh doanh hiện dai, trang 26, NXB Chính trị, 1996) 2.2 Chức năng của thị trường Thị trường có những chức năng cơ bản sau: — Chức năng thừa nhận: Một hàng hóa sẽ không có giá trị nếu không được thị trường thừa nhận, cho dù hàng hóa đó tiêu hao bao nhiêu nguồn lực và có những tính chất đặc biệt. - Vấn dé ở đây là bán cái người ta cần chứ không phải bán cái minh có. Day là một nguyên lý cơ bản của thị trường. Thị trường chỉ thừa nhận những hàng hóa đáp ứng nhu cầu của người tiêu dùng mà thôi.
= Chức năng thực hiện: Thị trường là nơi để hàng hóa thực hiện giá trị và giá trị trao đổi của nó. Ở đó người bán cần thực hiện giá trị của hàng hóa và người mua cần giá trị sử dụng của nó. Hàng hóa không có người mua thì bản thân nó tự đánh mất đi cái bản chất vốn có của nó là vật mang giá trị và giá trị sử dụng. — Chức năng diéu tiết và kích thích: Bằng chức năng diéu tiết của minh, cơ chế thị trường diéu chỉnh các quá trình sản xuất của xã hội để tạo ra một cơ cấu kinh tế — xã hội tương đối ổn định.
Sự điều tiết đó người ta gọi là “bàn tay vô hình”. — Chức năng thông tin: Thị trường là nơi diễn ra các quá trình trao đổi hàng hóa, nên chỉ có ở đó người ta mới biết được cần phải sản xuất cái gì, sản xuất cho ai, sản xuất bao nhiêu và giá cả bao nhiêu.3 Những đặc điểm của thị trường Thị trường là nơi thể hiện vai trò mua và bán, tại đây người tiêu dùng tối đa hóa sự thỏa mãn hoặc độ hữu dụng của họ và các nhà sản xuất thì tối đa hóa lợi nhuận của mình. Quyền sở hữu trong quan hệ thị trường tạo ra cho các cơ quan kinh tế, các doanh nghiệp tư nhân quyển định đoạt đối với tất cả tài sản. Vì thế khuyến khích tối đa hóa lợi nhuận của mình.
Việc tối đa hóa lợi nhuận đó được thực hiện trong môi trường tự do đối với các doanh nghiệp và thông qua những lựa chọn sao cho các lợi ích kinh tế quyết định việc xây dựng các phương án kinh doanh. Sự cạnh tranh trên thị trường dam bảo để các nhà sản xuất phân bổ các nguồn lực một cách có hiệu quả nhất.2 Phương pháp nghiên cứu 2.1 Phương pháp thu thập thông tin Bao gồm thông tin sơ cấp và thông tin thứ cấp được xử lý sơ bộ. Phương pháp thu thập số liệu điều tra bằng cả hai phương pháp: phương pháp thu thập trực tiếp và phương pháp thu thập gián tiếp.1 Phương pháp thu thập trực tiếp Số liệu thu thập qua quan sát, phỏng vấn thu thập trực tiếp từ những người đang làm việc ở các phòng ban của Công ty, tổng hợp và ghi chép lại.2 Phương pháp thu thập gián tiếp Thu thập các số liệu qua các bảng thống kê báo cáo cuối năm của Công ty tại các Phòng ban, thông tin qua, báo đài, internet và các thông tin đại chúng khác.2 Phương pháp phân tích và xử lý số liệu Chủ yếu sử dụng các phương pháp sau.1 Phương pháp phân tích số tuyệt đối và tương đối a) Số tuyệt đối — Khái niệm số tuyệt đối: Số tuyệt đối trong thống kê là chỉ tiêu tuyệt đối biểu hiện quy mô, khối lượng tuyệt đối của hiện tượng trong điều kiện thời gian và địa điểm cụ thể. — Ý nghĩa của số tuyệt đối : Số tuyệt đối có thể biểu hiện số đơn vị tổng thể hay bộ phận như số Xí nghiệp trong một Công ty, số lao động trong từng xí nghiệp của Công ty một cách rõ ràng và chính xác theo đúng thực tế.
Số tuyệt đối còn biểu hiện trị số của một chỉ tiêu kinh tế nào đó như: giá trị sản xuất, giá trị sản lượng hàng hóa, doanh thu bán hang của một doanh nghiệp,. — Đặc điểm của số tuyệt đối: Số tuyệt đối trong thống kê bao hàm một nội dung kinh tế nhất định và luôn luôn gắn với một nội dung nghiên cứu ở địa điểm và thời gian cụ thể. Do đó muốn z : xe x XỔ. A Ặ 2 4 ee ee $ z ở xác định số tuyệt đối một cách chính xác phải hiểu rõ nội dung kinh tế của nó.
— Đơn vị số tuyệt đối: Đơn vị tính là hiện vật phù hợp với đặc điểm vật lý của nội dung nghiên cứu. Ví dụ: Don vị của ngày công lao động là: ngày, giờ, phút,.; đơn vị số lượng các san phẩm hàng hóa là: tấn, kg, lít,.; đơn vi tiền tệ là: VND, USD, EURO. — Các loại số tuyệt đối: Số tuyệt đối thời kỳ: là số tuyệt đối phan ánh quy mô, khối lượng của hiện tượng nghiên cứu trong một độ dài thời gian nhất định. Vi dụ: san lượng thép nhập khẩu của Công ty A năm 2002 là 82.
Số tuyệt đối thời điểm: là số tuyệt đối phan ánh quy mô, khối lượng của hiện tượng nghiên cứu tại một thời điểm nhất định, trước và sau thời kỳ nghiên cứu thì số liệu đó có thể thay đổi. Ví dụ: số lượng vật tư và giá trị hàng hóa có thể thay đổi trong từng tháng khác nhau, số lượng công nhân ngày đầu tháng của một xí nghiệp,. b) Số tương đối — Khái niệm: Số tương đối trong thống kê là một chỉ số biểu hiện mức độ so sánh, như so sánh mức độ hai chỉ tiêu khác nhau có liên quan với nhau, so sánh hai mức độ chỉ tiêu ở thời gian hoặc thời điểm khác nhau, so sánh mức độ ở tổng thể hoặc giữa bộ phận với nhau. — Ý nghĩa của số tương đối: Số tương đối cho chúng ta những nhận thức sâu sắc về đặc trưng, đặc điểm có tính chất so sánh về quan hệ khối lượng, về hiện tượng nghiên cứu,.
Số tương đối dùng để phân tích tình hình phát triển, xây dựng kế hoạch phát triển sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp qua từng thời kỳ. — Đặc điểm của số tương đối: Mỗi số tương đối thống kê mang một nội dung kinh tế nhất định và gắn liền với hiện tượng nghiên cứu nhất định. Số tương đối được xác định không phải qua điều tra, tổng hợp mà phải qua tính toán, so sánh, do vậy mỗi số tương đối đều có gốc so sánh nhất định. — Đơn vị tính số tương đối: Thường là số phần trăm, số phần nghìn và các đơn vị kép (ngudi/km’, sản phẩm/người, tấn/ha,.
— Các loại số tương đối và phương pháp tính: + Số tương đối động thái: w Khái niệm: Là chỉ tiêu tương đối biểu hiện về mức độ của chỉ tiêu nghiên cứu qua một thời kỳ, chỉ tiêu này phản ánh xu hướng biến đổi, tốc độ phát triển biến đổi của hiện tượng nghiên cứu theo thời gian, vì thế nên được gọi là chỉ tiêu tốc độ phát triển hay chỉ số phát triển. Y Cách tính: Số tương đối trạng thái được xác định bằng cách so sánh hai mức độ của một hiện tượng nghiên cứu ở hai thời kỳ khác nhau.