Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu
Khóa luận tốt nghiệp "Phân tích tài chính Tổng CTCP Bảo hiểm Quân đội" được tác giả Nguyễn Việt Long (sinh viên chuyên ngành Tài chính - Ngân hàng, Lớp K22CLCC, Học viện Ngân hàng) thực hiện dưới sự hướng dẫn của PGS. Mai Thanh Quế vào tháng 4 năm 2023. Nghiên cứu được đặt trong bối cảnh nền kinh tế Việt Nam bước vào giai đoạn phục hồi sau gần 3 năm đối mặt với đại dịch Covid-19, thể hiện qua mức tăng trưởng GDP 6 tháng đầu năm 2022 đạt 6,42% (cải thiện rõ rệt so với mức 2,04% của cùng kỳ năm 2020). Trong bức tranh kinh tế chung, thị trường bảo hiểm giữ vai trò trung gian tài chính nhằm ổn định hoạt động cho các cá nhân và tổ chức. Theo số liệu của Hiệp hội Bảo hiểm Việt Nam, tính đến cuối tháng 5 năm 2022, doanh thu phí bảo hiểm nhân thọ và phi nhân thọ lần lượt tăng 17,2% và 13,1% so với cùng kỳ năm trước. Mức tăng 13,1% của mảng phi nhân thọ thể hiện sự hồi phục rõ rệt so với tỷ lệ tăng trưởng xấp xỉ 4% của cả năm 2021.
Tuy nhiên, thị trường bảo hiểm phi nhân thọ giai đoạn hậu Covid-19 xuất hiện nhiều áp lực mới. Chi phí bồi thường ở các nghiệp vụ cốt lõi như bảo hiểm Xe cơ giới và bảo hiểm Con người gia tăng mạnh khi các hoạt động giao thông, sản xuất và đời sống thường nhật trở lại trạng thái bình thường, đi kèm với nguy cơ gian lận và trục lợi bảo hiểm. Bên cạnh đó, việc thực hiện phân tích tài chính là yêu cầu cấp thiết giúp doanh nghiệp bảo hiểm nắm vững thực trạng dòng tiền, cơ cấu tài sản, nguồn vốn nhằm hạn chế các cú sốc tài chính, đồng thời đáp ứng các tiêu chuẩn xếp hạng tín nhiệm quốc tế, tạo điều kiện mở rộng thị trường vốn trong và ngoài nước, giảm sự phụ thuộc vào vốn vay ngân hàng. Xuất phát từ quá trình thực tập tại bộ phận Dịch vụ Tài chính (FSO) của Công ty TNHH Ernst & Young Việt Nam và trực tiếp tham gia kiểm toán tại Tổng Công ty Cổ phần Bảo hiểm Quân đội (MIC), tác giả đã lựa chọn đề tài này nhằm làm rõ bức tranh tài chính thực tế của doanh nghiệp.
Mục tiêu nghiên cứu tổng quát của khóa luận là đưa ra giải pháp giúp Tổng CTCP Bảo hiểm Quân đội cải thiện tình hình kinh doanh và hoạt động tài chính dựa trên những điểm mạnh, điểm yếu được rút ra từ kết quả phân tích. Để hiện thực hóa mục tiêu này, tác giả xác định 3 nhiệm vụ nghiên cứu cụ thể:
- Đưa ra hệ thống lý luận cơ bản về phân tích tài chính doanh nghiệp và hoạt động kinh doanh bảo hiểm.
- Phân tích khách quan và trung thực tình hình tài chính của Tổng CTCP Bảo hiểm Quân đội trong giai đoạn 2020 - 2022, đưa ra lời giải thích cho tình trạng hiện tại của doanh nghiệp.
- Đề xuất một số giải pháp giúp cải thiện hiệu quả hoạt động tài chính của doanh nghiệp trong tương lai.
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu được xác định rõ:
- Đối tượng nghiên cứu: Tình hình tài chính tại Tổng CTCP Bảo hiểm Quân đội.
- Phạm vi nghiên cứu: Không gian thực hiện tại Tổng CTCP Bảo hiểm Quân đội (MIC); thời gian nghiên cứu sử dụng hệ thống số liệu và thông tin tài chính trong giai đoạn 3 năm, từ năm 2020 đến năm 2022.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Khóa luận xây dựng hệ thống cơ sở lý thuyết dựa trên các đặc thù của hoạt động kinh doanh bảo hiểm và kỹ thuật phân tích tài chính doanh nghiệp. Hoạt động kinh doanh bảo hiểm được định nghĩa là hoạt động chấp nhận rủi ro của bên mua trên cơ sở đóng phí bảo hiểm để doanh nghiệp thực hiện bồi thường, trả tiền bảo hiểm khi phát sinh sự kiện thỏa thuận. Bản chất kinh tế của bảo hiểm là quá trình phân phối lại tổng sản phẩm quốc nội dựa trên nguyên tắc "số đông bù số ít". Về mặt tài chính, doanh nghiệp bảo hiểm là định chế tài chính trung gian thuộc loại tổ chức tiết kiệm theo hợp đồng với đặc thù dòng tiền đảo ngược: doanh thu phát sinh trước (thông qua thu phí bảo hiểm), trong khi chi phí phát sinh sau (thanh toán quyền lợi bồi thường khi tổn thất xảy ra). Do đó, doanh nghiệp nắm giữ một khối lượng vốn nhàn rỗi lớn, danh mục đầu tư chịu sự kiểm soát chặt chẽ của pháp luật, tập trung chủ yếu vào Trái phiếu Chính phủ, trái phiếu doanh nghiệp, tiền gửi ngân hàng, ủy thác đầu tư và bị hạn chế ở các lĩnh vực rủi ro cao.
Hệ thống tài liệu phân tích được tác giả căn cứ trên quy định Chế độ kế toán doanh nghiệp ban hành theo Thông tư 200/2014/TT-BTC ngày 22/12/2014 của Bộ Tài chính, bao gồm: Bảng cân đối kế toán, Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh, Báo cáo lưu chuyển tiền tệ và Bản thuyết minh báo cáo tài chính. Bên cạnh đó, tác giả sử dụng các tài liệu bổ trợ như báo cáo thị trường chứng khoán (chỉ số giá cổ phiếu, EPS, tỷ lệ cổ tức), các chỉ tiêu kinh tế vĩ mô (CPI, GDP, lãi suất, tỷ giá), số liệu từ Cục Quản lý, giám sát bảo hiểm - Bộ Tài chính, báo cáo ngành của Deloitte và Swiss Re.
Về phương pháp luận, tác giả hệ thống hóa 5 phương pháp phân tích tài chính trong phần lý thuyết:
- Phương pháp so sánh: Sử dụng số tuyệt đối (đo lường quy mô) và số tương đối (số tương đối động thái định gốc, liên hoàn và số tương đối điều chỉnh) theo cả gốc thời gian và không gian.
- Phương pháp phân chia: Chi tiết hóa chỉ tiêu theo yếu tố cấu thành, thời gian và không gian phát sinh.
- Phương pháp liên hệ, đối chiếu: Xem xét mối quan hệ kinh tế nội tại, tính cân đối tổng thể và từng phần giữa các luồng tiền.
- Phương pháp phân tích nhân tố: Sử dụng phương pháp thay thế liên hoàn, số chênh lệch hoặc phương pháp cân đối để loại trừ và đo lường ảnh hưởng của từng nhân tố.
- Mô hình Dupont: Phân rã tỷ suất sinh lời trên vốn chủ sở hữu (ROE) thành tích số của ba chỉ tiêu: Tỷ suất lợi nhuận ròng (LNST/Doanh thu), Vòng quay tài sản (Doanh thu/Tổng tài sản) và Đòn bẩy tài chính (Tổng tài sản/VCSH bình quân).
Trong quá trình phân tích thực tế tại MIC ở Chương 2, do những hạn chế về tài liệu và kỹ thuật, tác giả thu hẹp phạm vi công cụ, chỉ áp dụng ba phương pháp: Phương pháp so sánh, Phương pháp liên hệ đối chiếu và Phương pháp phân tích nhân tố. Ngoài ra, khóa luận áp dụng bổ sung Phương pháp quan sát khoa học thông qua quá trình tác giả thực tập và quan sát quy trình bảo hiểm thực tế tại các phòng ban của MIC để bổ trợ cho các nhận định phân tích.
Nội dung chính theo từng chương
Chương 1: Cơ sở lý luận về phân tích tài chính tại doanh nghiệp bảo hiểm
Chương 1 hệ thống hóa toàn bộ khung lý luận về ngành kinh doanh bảo hiểm và quy trình phân tích tài chính. Tác giả phân loại doanh nghiệp bảo hiểm thành hai khối chính gồm bảo hiểm nhân thọ (sinh mạng, sức khỏe, tuổi thọ: tử kỳ, sinh kỳ, trọn đời) và bảo hiểm phi nhân thọ (tài sản, con người, trách nhiệm dân sự). Các phương thức hoạt động cốt lõi bao gồm đồng bảo hiểm (phân tán rủi ro theo chiều ngang cho các đơn bảo hiểm lớn như máy bay, tàu biển), kinh doanh tái bảo hiểm (nhượng và nhận tái bảo hiểm nhằm giảm thiểu tích tụ rủi ro) và mạng lưới phân phối thông qua đại lý bảo hiểm, các dịch vụ phụ trợ (đánh giá rủi ro, tính toán bảo hiểm, giám định tổn thất).
Quy trình phân tích tài chính doanh nghiệp được chuẩn hóa qua 5 bước: lập kế hoạch phân tích; thu thập và xử lý thông tin; xác định đặc điểm và tính toán hệ thống chỉ tiêu; phân tích số liệu xác định nhân tố ảnh hưởng; tổng hợp kết quả và dự báo. Chương này cũng phân tích 3 nhóm nhân tố tác động trực tiếp đến chất lượng hoạt động phân tích: độ tin cậy của nguồn thông tin kế toán - tài chính, trình độ chuyên môn của cán bộ phân tích và tính đồng bộ của hệ thống chỉ tiêu trung bình ngành dùng làm cơ sở tham chiếu.
Chương 2: Thực trạng hoạt động phân tích tài chính doanh nghiệp tại Tổng CTCP Bảo hiểm Quân đội
Chương 2 trình bày tổng quan ngành bảo hiểm Việt Nam giai đoạn 2020 - 2022 và phân tích chi tiết tình hình tài chính của MIC. Thị trường bảo hiểm Việt Nam có tỷ lệ thâm nhập còn thấp (2,7% dân số so với mức trung bình 3,3% của các quốc gia mới nổi), mức phí bình quân đạt 72 USD/người/năm. Tổng doanh thu phí bảo hiểm toàn ngành năm 2020 đạt 184 nghìn tỷ đồng; năm 2021 đạt 214.958 tỷ đồng (tổng tài sản toàn ngành đạt 710.002 tỷ đồng); năm 2022 đạt 245.877 tỷ đồng, trong đó bảo hiểm phi nhân thọ đạt 67.608 tỷ đồng (tăng 16,8% so với năm 2021). Về phía MIC, tiền thân là CTCP Bảo hiểm Quân đội thành lập năm 2007, niêm yết trên HOSE năm 2020 (mã MIG). Tính đến ngày 31/12/2022, MIC có vốn điều lệ 1.644,5 tỷ đồng, 1.942 nhân sự, 70 công ty thành viên, hơn 467 phòng kinh doanh và 4.500 đại lý.
Tác giả đi sâu phân tích các cấu phần tài chính của MIC giai đoạn 2020 - 2022:
| Khoản mục tài chính phân tích |
Diễn biến và số liệu thực tế tại MIC (2020 - 2022) |
Bản chất và nguyên nhân chính |
| Phải thu từ hợp đồng bảo hiểm |
Năm 2021 giảm hơn 9% so với 2020; năm 2022 tăng 68,4% (từ 85 tỷ lên 302 tỷ đồng). |
Thu hồi thành công 34,5 tỷ đồng từ vụ đồng bảo hiểm RK Resource (2021). Năm 2022 tăng do dồn tích các hợp đồng quốc phòng lớn cuối năm chưa kịp thu phí (>216 tỷ đồng). |
| Phải thu nhận tái bảo hiểm |
Tăng gấp đôi trong năm 2022, đạt mức 115 tỷ đồng. |
Bên cạnh đối tác truyền thống (PVI, Vinare), phát sinh mới 66 tỷ đồng công nợ tái bảo hiểm từ Công ty TNHH AON. |
| Tạm ứng và chi phí trả trước |
Dự án D47 ổn định 107,74 tỷ đồng; tạm ứng nhân viên năm 2021 tăng lên hơn 33 tỷ đồng; tạm ứng bồi thường nhượng tái đạt 249,7 tỷ đồng (2022). |
Tạm ứng nhân viên tăng phục vụ chi nhánh Điện Biên Phủ chuẩn bị đón đơn bảo hiểm ngân sách; đẩy mạnh hợp đồng nhượng tái bảo hiểm năm 2022. |
| Đầu tư tài chính |
Ký mới 609 tỷ đồng tiền gửi (kỳ hạn 1-2 năm) năm 2022; mua mới 200 - 300 tỷ đồng trái phiếu DN/năm; ủy thác đầu tư MB Capital đạt 833,6 tỷ đồng cuối năm 2022. |
Tăng cường thanh khoản và tìm kiếm lợi suất; năm 2021 rót thêm 400 tỷ đồng ủy thác qua MB Capital (gồm 398,4 tỷ đồng tiền mặt và 1,6 tỷ đồng cổ phiếu HAG). |
| Chi phí kinh doanh chờ phân bổ |
Tăng mạnh từ năm 2021, đóng góp lớn vào chi phí trả trước ngắn hạn khác. |
Hợp tác bảo hiểm tín dụng cá nhân và bảo hiểm sức khỏe người vay qua FE Credit (doanh thu 442 tỷ đồng) và M Credit (doanh thu 182 tỷ đồng năm 2021). |
| Cơ cấu nguồn vốn và nợ phải trả |
Nợ phải trả tăng thêm 800 tỷ đồng (2021) và 1.800 tỷ đồng (2022). Tỷ lệ VCSH/Nguồn vốn năm 2022 giảm xuống mức 22%. |
Phải trả người bán chiếm gần 90% nợ phải trả; dự phòng phí bảo hiểm con người tăng hơn 3 lần; tỷ trọng vốn chủ sở hữu thấp hơn phần lớn đối thủ ngành (BIC, BMI, VNR). |
| Kết quả kinh doanh (Doanh thu - Lợi nhuận) |
Doanh thu thuần kinh doanh bảo hiểm tăng hơn 1.100 tỷ đồng, lợi nhuận gộp bảo hiểm đạt gần 580 tỷ đồng; tuy nhiên LNST năm 2022 tăng trưởng âm. |
Lợi nhuận hoạt động tài chính giảm khoảng 90 tỷ đồng (giảm doanh thu và tăng chi phí tài chính); chi phí quản lý doanh nghiệp tăng thêm khoảng 95 tỷ đồng. |
Cụ thể, khoản nợ phải thu phí bảo hiểm gốc hơn 216 tỷ đồng vào cuối tháng 12 năm 2022 thuộc về các đơn vị: Bộ Tư lệnh Phòng không Không quân (96,87 tỷ đồng), Bộ Tư lệnh Cảnh sát biển (47,06 tỷ đồng), Quân chủng Hải quân (23,26 tỷ đồng), Cục Xăng dầu - Tổng cục Hậu cần (19,26 tỷ đồng) và Bộ Tư lệnh Bộ đội Biên phòng (14,52 tỷ đồng). Trích lập dự phòng phải thu khó đòi duy trì trong mức kiểm soát từ 9,5 đến 10,6 tỷ đồng. Về vốn chủ sở hữu, năm 2021 vốn điều lệ tăng 130 tỷ đồng và năm 2022 tăng khoảng 150 tỷ đồng nhưng hoàn toàn đến từ việc chi trả cổ tức bằng cổ phiếu, trong khi lợi nhuận sau thuế chưa phân phối năm 2022 giảm hơn 77 tỷ đồng và lợi nhuận trong năm giảm gần 65 tỷ đồng.
Chương 3: Hoàn thiện phân tích tài chính doanh nghiệp tại Tổng CTCP Quân đội
Chương 3 đề ra định hướng và các giải pháp hoàn thiện hoạt động tài chính tại MIC căn cứ trên các phát hiện thực trạng ở Chương 2. Tác giả xây dựng mục tiêu chung và hệ thống chỉ tiêu tài chính cần đạt, tập trung xử lý các điểm nghẽn về cấu trúc vốn đòn bẩy cao, sự sụt giảm của tỷ suất sinh lời tài chính và chi phí hoa hồng đại lý chưa phân bổ gia tăng (cuối năm 2022 số dư khoản này tăng hơn 170 tỷ đồng do trích trước lớn hơn doanh số thực tế). Các nhóm giải pháp hoàn thiện bao gồm việc tối ưu hóa danh mục đầu tư tài chính, kiểm soát chi phí bán hàng và chi phí quản lý, nâng cao chất lượng thẩm định đối tác đại lý và quản lý công nợ khách hàng lớn. Đồng thời, tác giả đưa ra các kiến nghị đối với Bộ Tài chính về cơ chế giám sát biên khả năng thanh toán, hướng dẫn thực thi Luật Kinh doanh bảo hiểm mới có hiệu lực từ năm 2023 và hoàn thiện khung pháp lý cho hoạt động bảo hiểm liên kết ngân hàng, bảo hiểm tiêu dùng.
Kết quả và đóng góp
Khóa luận làm rõ bức tranh tài chính của Tổng CTCP Bảo hiểm Quân đội trong giai đoạn bản lề 2020 - 2022 với các phát hiện cụ thể:
- Làm sáng tỏ nghịch lý tài chính năm 2022 của MIC: Doanh thu thuần kinh doanh bảo hiểm ghi nhận sự mở rộng lớn (tăng hơn 1.100 tỷ đồng, lợi nhuận gộp hoạt động bảo hiểm đạt gần 580 tỷ đồng) nhưng lợi nhuận sau thuế lại tăng trưởng âm. Nguyên nhân chính được bóc tách từ sự sụt giảm gần 90 tỷ đồng lợi nhuận hoạt động tài chính và chi phí quản lý doanh nghiệp tăng thêm khoảng 95 tỷ đồng.
- Bóc tách bản chất khoản nợ phải thu ngắn hạn tăng đột biến 68,4% trong năm 2022: Tác giả chỉ ra mức tăng này không xuất phát từ nợ xấu hay suy giảm chất lượng tín dụng thương mại mà do tính chất dồn tích hợp đồng cuối năm của nhóm khách hàng quốc phòng lớn (>216 tỷ đồng) và khoản nợ nhận tái bảo hiểm mới từ Công ty TNHH AON (66 tỷ đồng). Mức trích lập dự phòng nợ khó đòi thực tế vẫn duy trì ổn định ở ngưỡng 9,5 - 10,6 tỷ đồng.
- Đánh giá cơ cấu nguồn vốn tiềm ẩn rủi ro: Khóa luận chỉ ra tỷ lệ VCSH/Tổng nguồn vốn của MIC năm 2022 chỉ đạt 22% (giảm 5,5% so với các năm trước), thấp hơn đáng kể so với mức bình quân dưới 50% của các doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ cùng ngành như BIC, BMI, VNR (chỉ cao hơn PGI). Việc gia tăng nguồn vốn chủ yếu dựa vào nợ phải trả (tăng 1.800 tỷ đồng năm 2022) và trả cổ tức bằng cổ phiếu, khiến bộ đệm vốn chủ sở hữu bị thu hẹp tương đối trước các rủi ro bồi thường.
- Đóng góp thực tiễn: Khóa luận chỉ ra hiệu quả và hệ lụy của kênh phân phối qua công ty tài chính (FE Credit, M Credit) và kênh đại lý truyền thống, cảnh báo việc trích lập chi phí hoa hồng trả trước vượt quá khả năng bán hàng thực tế của đại lý (làm tăng số dư chưa phân bổ thêm 170 tỷ đồng năm 2022).
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
Khóa luận còn tồn tại một số hạn chế do điều kiện thực hiện:
- Hạn chế về dữ liệu và kỹ thuật phân tích: Tác giả mới chỉ tiếp cận được các báo cáo tài chính tổng hợp và sổ sách kế toán trong phạm vi 3 năm (2020 - 2022); chưa thể triển khai đầy đủ các phương pháp phân tích nâng cao như mô hình Dupont toàn diện hay phân tích chi tiết dòng tiền từng phân khúc nghiệp vụ do hạn chế về nguồn thông tin kế toán quản trị nội bộ.
- Hạn chế trong phân tích danh mục đầu tư cổ phiếu: Việc đánh giá hoạt động đầu tư cổ phiếu chỉ căn cứ trên số dư tại thời điểm kết thúc năm tài chính trên Bảng cân đối kế toán, chưa phản ánh được các biến động giao dịch liên tục và rủi ro thị trường trong suốt các phiên giao dịch của năm.
- Hướng nghiên cứu tiếp: Cần mở rộng chuỗi dữ liệu sang giai đoạn 2023 trở đi để kiểm chứng tác động thực tế của Luật Kinh doanh bảo hiểm mới; ứng dụng các thước đo hiệu quả hiện đại như Giá trị kinh tế gia tăng (EVA) và Giá trị thị trường gia tăng (MVA) theo hướng tiếp cận của các nghiên cứu đi trước; đồng thời nghiên cứu sâu hơn về tác động của chuyển đổi số và kênh khai thác trực tuyến đến cơ cấu chi phí bồi thường và chi phí quản lý của doanh nghiệp bảo hiểm.
Giá trị tham khảo
Công trình là tài liệu tham khảo hữu ích cho:
- Sinh viên, học viên chuyên ngành Tài chính - Ngân hàng, Kế toán - Kiểm toán và Quản trị Bảo hiểm: Cung cấp phương pháp luận và kỹ thuật phân tích báo cáo tài chính áp dụng trực tiếp vào loại hình định chế tài chính đặc thù có chu chuyển dòng tiền "thu phí trước - bồi thường sau".
- Người làm đề tài nghiên cứu về bảo hiểm phi nhân thọ: Cung cấp khung số liệu chi tiết và bài học xử lý các khoản mục kế toán đặc thù như tài sản tái bảo hiểm, trích lập dự phòng nghiệp vụ (dự phòng phí và dự phòng bồi thường), hoa hồng chưa phân bổ và chi phí kinh doanh chờ phân bổ từ các hợp đồng bảo hiểm tín dụng.
- Cán bộ quản trị tài chính tại các doanh nghiệp bảo hiểm: Tham khảo góc nhìn thực tế về việc cân đối giữa tốc độ mở rộng doanh thu bán bảo hiểm với áp lực chi phí quản lý, chi phí tài chính và an toàn tỷ lệ vốn chủ sở hữu.
Câu hỏi thường gặp
1. Vì sao các khoản phải thu từ hợp đồng bảo hiểm của MIC lại tăng mạnh trong năm 2022?
Khoản phải thu từ hợp đồng bảo hiểm năm 2022 tăng từ 85 tỷ đồng lên 302 tỷ đồng không phải do doanh nghiệp gặp rủi ro công nợ khó đòi mà do việc ghi nhận dồn tích các đơn bảo hiểm giá trị lớn khai thác vào cuối tháng 12 năm 2022 từ các đơn vị thuộc Bộ Quốc phòng chưa kịp thanh toán phí (tổng cộng hơn 216 tỷ đồng từ Bộ Tư lệnh Phòng không Không quân, Bộ Tư lệnh Cảnh sát biển, Quân chủng Hải quân, Cục Xăng dầu và Bộ Tư lệnh Bộ đội Biên phòng). Ngoài ra, khoản phải thu từ nhận tái bảo hiểm phát sinh thêm 66 tỷ đồng từ đối tác mới là Công ty TNHH AON.
2. Cơ cấu đầu tư tài chính của MIC trong giai đoạn 2020 - 2022 gồm những kênh nào và có đặc điểm gì?
Hoạt động đầu tư của MIC tập trung vào 3 kênh chính: hợp đồng tiền gửi ngân hàng, ủy thác đầu tư (qua MB Capital) và trái phiếu doanh nghiệp. Năm 2022, doanh nghiệp ký mới 609 tỷ đồng tiền gửi kỳ hạn 1-2 năm để củng cố thanh khoản. Trái phiếu doanh nghiệp được mua bổ sung đều đặn 200 - 300 tỷ đồng mỗi năm thay thế cho các khoản đáo hạn. Khoản ủy thác đầu tư tại MB Capital được bổ sung 400 tỷ đồng trong năm 2021 (gồm 398,4 tỷ đồng tiền mặt và 1,6 tỷ đồng cổ phiếu HAG), nâng giá trị ghi nhận cuối năm 2022 lên 833,6 tỷ đồng.
3. Tại sao doanh thu thuần bảo hiểm năm 2022 của MIC tăng hơn 1.100 tỷ đồng nhưng lợi nhuận sau thuế lại tăng trưởng âm?
Dù doanh thu thuần tăng và lợi nhuận gộp kinh doanh bảo hiểm đạt gần 580 tỷ đồng, lợi nhuận sau thuế của MIC năm 2022 vẫn tăng trưởng âm do hai nguyên nhân chính: lợi nhuận từ hoạt động tài chính giảm khoảng 90 tỷ đồng so với năm 2021 (vừa sụt giảm doanh thu vừa tăng chi phí tài chính) và chi phí quản lý doanh nghiệp tăng thêm khoảng 95 tỷ đồng.
4. Tỷ lệ vốn chủ sở hữu trên tổng nguồn vốn của MIC đứng ở mức nào so với các doanh nghiệp bảo hiểm khác trong năm 2022?
Năm 2022, tỷ lệ VCSH/Tổng nguồn vốn của MIC ở mức 22% (giảm 5,5% so với giai đoạn trước). Đây là mức tỷ lệ thấp khi so sánh với các doanh nghiệp cùng ngành có quy mô tương đương như BIC, BMI, VNR (các doanh nghiệp này đều duy trì tỷ lệ dưới 50% nhưng cao hơn MIC), và MIC chỉ có tỷ lệ vốn chủ sở hữu nhỉnh hơn PGI.
5. Khoản mục chi phí kinh doanh chờ phân bổ tại MIC tăng mạnh xuất phát từ hoạt động nào?
Khoản mục này tăng hơn 286 tỷ đồng từ năm 2021 xuất phát từ việc MIC đẩy mạnh hợp tác khai thác bảo hiểm tín dụng cá nhân và bảo hiểm sức khỏe người đi vay thông qua hai công ty tài chính tiêu dùng là FE Credit (doanh thu tháng 4/2020 đạt 442 tỷ đồng) và M Credit (doanh thu năm 2021 đạt 182 tỷ đồng). Chi phí này gồm các khoản chi cho đào tạo bán hàng, quản trị bán hàng, nghiên cứu thị trường và chăm sóc khách hàng được phân bổ theo tỷ lệ doanh thu.
Kết luận
Khóa luận tốt nghiệp của tác giả Nguyễn Việt Long đã hệ thống hóa cơ sở lý luận về phân tích tài chính doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ và phản ánh chi tiết thực trạng tài chính của Tổng CTCP Bảo hiểm Quân đội trong giai đoạn 2020 - 2022. Công trình bóc tách rõ nét sự đối lập giữa tốc độ tăng trưởng doanh thu phí bảo hiểm với sự sụt giảm lợi nhuận ròng, đồng thời chỉ ra rủi ro suy giảm tỷ trọng vốn chủ sở hữu và áp lực gia tăng chi phí quản lý, chi phí tài chính. Hệ thống giải pháp và kiến nghị được xây dựng bám sát số liệu thực tế, cung cấp tài liệu tham khảo học thuật có giá trị cho sinh viên ngành tài chính - ngân hàng và các nhà phân tích nghiệp vụ bảo hiểm.