Lời mở đầu Phần 2: Cơ sở lý luận cơ bản về các nhân tố ảnh hưởng đến khả năng sinh lời của các DNBH Phần 3: Số liệu sử dụng và phương pháp nghiên cứu Phần 4: Các nhân tố ảnh hưởng đến khả năng sinh lời của các (DNBH) ở Việt Nam Phần 5: Kết luận 6 PHẦN 2: CƠ SỞ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN KHẢ NĂNG SINH LỜI CỦA CÁC DOANH NGHIỆP BẢO HIỂM 2. Cơ sở lý luận cơ bản về doanh nghiệp bảo hiểm và hoạt động của doanh nghiệp bảo hiểm 2. Cơ sở lý luận chung về bảo hiểm 2.1 Khái niệm bảo hiểm Bảo hiểm là một lĩnh vực rộng và phức tạp, nó hàm chứa cả yếu tố kinh doanh, quản lý và kỹ thuật nghiệp vụ đặc trưng nên rất khó tìm ra một khái niệm hoàn hảo thể hiện được tất cả các khía cạnh, do vậy, tuỳ theo các quan điểm khác nhau sẽ có các khái niệm khác nhau về bảo hiểm. Đứng trên góc độ tài chính: Bảo hiểm là những quan hệ kinh tế gắn với quá trình hình thành, phân phối và sử dụng quỹ bảo hiểm nhằm xử lý các rủi ro, các biến cố bảo hiểm, bảo đảm cho quá trình tái sản xuất và đời sống của xã hội diễn ra bình thường.
Đứng trên góc độ pháp lý: Bảo hiểm thực chất là sự cam kết giữa 2 bên mà trong đó một bên cam kết bồi thường cho bên kia nếu bên kia đóng phí bảo hiểm. Đứng trên góc độ lập quỹ dự trữ bảo hiểm: Bảo hiểm là một quá trình lập quỹ dự trữ bằng tiền do những người có cùng khả năng gặp một loại rủi ro nào đó đóng góp tạo nên. Đứng trên góc độ kinh doanh bảo hiểm: Bảo hiểm là một cơ chế chuyển giao rủi ro theo hợp đồng, theo đó DNBH chấp nhận rủi ro của người được bảo hiểm, trên cơ sở bên mua bảo hiểm đóng phí để DNBH 7 trả tiền bảo hiểm cho người thụ hưởng hoặc bồi thường cho người được bảo hiểm khi rủi ro hay sự kiện bảo hiểm xảy ra. Trên cơ sở khái quát một số quan điểm về bảo hiểm, có thể đưa ra một khái niệm chung như sau: Bảo hiểm là một hoạt động dịch vụ tài chính, theo đó DNBH chấp nhận rủi ro của bên mua bảo hiểm, trên cơ sở bên mua bảo hiểm chấp nhận đóng phí bảo hiểm và DNBH sẽ cam kết bồi thường hoặc chi trả tiền bảo hiểm theo cam kết trong hợp đồng bảo hiểm nếu rủi ro hay sự kiện bảo hiểm xảy ra.2 Phân loại bảo hiểm Có nhiều cách phân loại bảo hiểm, nhưng nếu chia theo loại hình bảo hiểm, bảo hiểm sẽ bao gồm BHNT, BHPNT, BHSK.
Phân loại theo tiêu thức này sẽ có 2 loại hình bảo hiểm: bảo hiểm xã hội (BHXH) và bảo hiểm thương mại (BHTM) o Bảo hiểm xã hội (bảo hiểm phi thương mại): là loại hình bảo hiểm do Nhà nước thực hiện, hoạt động không vì mục tiêu lợi nhuận mà vì mục tiêu xã hội, mục tiêu cộng đồng Các sản phẩm bảo hiểm phi thương mại bao gồm: Bảo hiểm xã hội: Đây là sản phẩm bảo hiểm do Nhà nước cung cấp với sự tham gia đóng góp của người lao động và người sử dụng lao động (đóng góp cho người lao động của mình), ngoài ra, quỹ BHXH còn được sự đóng góp bởi NSNN và các khoản hình thành khác. Mục đích của BHXH là đảm bảo thay thế hoặc bù đắp một phần thu nhập của người lao động và gia đình họ khi họ gặp phải những biến cố làm giảm hoặc mất khả năng lao động, mất việc làm. Theo khuyến nghị của ILO đã nêu trong Công ước số 102 tháng 6 năm 1952 tại Giơ -ne-vơ, hệ thống các chế độ BHXH bao gồm: 8 (1) Chăm sóc y tế (2) Trợ cấp ốm đau (3) Trợ cấp thất nghiệp (4) Trợ cấp tuổi già (5) Trợ cấp tai nạn lao động và bệnh nghề nghiệp (6) Trợ cấp gia đình (7) Trợ cấp sinh đẻ (8) Tợ cấp khi tài phế (9) Tợ cấp cho người còn sống (trợ cấp mất người nuôi dưỡng) Tùy theo điều kiện kinh tế - xã hội mà mỗi nước tham gia công ước Giơ-ne-vơ thực hiện khuyến nghị đó ở mức độ khác nhau, nhưng ít nhất phải thực hiện được 3 chế độ. Trong đó có ít nhất phải có một trong năm chế độ: (3), (4), (5), (8), (9).
Bảo hiểm y tế Bảo hiểm y tế (bảo hiểm sức khỏe) là loại hình bảo hiểm thuộc lĩnh vực chăm sóc sức khỏe cộng đồng. Theo đó, người mua bảo hiểm y tế sẽ được chi trả một phần hoặc toàn bộ chi phí thăm khám, điều trị, phục hồi sức khỏe,. nếu không may xảy ra tai nạn, ốm đau. Bảo hiểm tiền gửi Bảo hiểm tiền gửi là loại hình bảo hiểm phi thương mại, được điều chỉnh bằng một quy chế pháp lý riêng (Luật bảo hiểm tiền gửi có quy định về điều kiện bảo hiểm, mức phí bảo hiểm mà các tham gia quan hệ bảo hiểm có nghĩa vụ phải thực hiện.
Bảo hiểm tiền gửi được áp dụng bắt buộc đối với các tổ chức tín dụng nhận tiền gửi, mục đích nhằm xử lí rủi ro đối với tổ chức nhận tiền gửi, bảo vệ lợi ích của người gửi 9 tiền và đồng thời còn bảo vệ sự an toàn cho cả hệ thống các tổ chức tín dụng, sự ổn định tiền tệ quốc gia. o Bảo hiểm thương mại Bảo hiểm thương mại (bảo hiểm kinh doanh): Hoạt động của BHTM chịu chi phối bởi luật pháp (nhất là luật kinh doanh bảo hiểm), các điều ước quốc tế và tập quán quốc tế. BHTM không chỉ xâm nhập vào mọi hoạt động kinh tế xã hội của đất nước mà còn phát triển mở rộng ra thị trường thế giới thông qua hoạt động phân tán rủi ro. BHTM gồm có bảo hiểm phi nhân thọ và BHNT Bảo hiểm phi nhân thọ (BHPNT): là loại hình bảo hiểm bảo hiểm có đối tượng là tài sản, trách nhiệm dân sự (TNDS) và các nghiệp vụ bảo hiểm con người không thuộc BHNT.
BHPNT bao gồm: bảo hiểm tài sản, bảo hiểm trách nhiệm dân sự, bảo hiểm con người phi nhân thọ. Bảo hiểm tài sản: bao gồm những nghiệp vụ bảo hiểm có đối tượng bảo hiểm là các tài sản và những lợi ích liên quan. Bảo hiểm trách nhiệm dân sự: bao gồm những nghiệp vụ bảo hiểm có đối tượng bảo hiểm là trách nhiệm bồi thường của người được bảo hiểm phát sinh theo quy định về TNDS của pháp luật. Bảo hiểm sức khỏe: là loại hình bảo hiểm chỉ liên quan đến các rủi ro tai nạn, sức khỏe và khả năng lao động của con người.
Bảo hiểm nhân thọ: BHNT là loại hình bảo hiểm có đối tượng bảo hiểm là tuổi thọ, tính mạng, tình trạng sức khỏe con người hoặc các sự kiện liên quan tới cuộc sống và có ảnh hưởng tới cuộc sống con người. Khái niệm doanh nghiệp bảo hiểm Doanh nghiệp bảo hiểm là doanh nghiệp được thành lập, tổ chức và hoạt động theo quy định của Luật này và luật khác có liên quan để kinh doanh bảo hiểm, kinh doanh tái bảo hiểm, nhượng tái bảo hiểm. Doanh nghiệp bảo hiểm bao gồm doanh nghiệp bảo hiểm nhân thọ, doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ, doanh nghiệp bảo hiểm sức khỏe. Các loại hình doanh nghiệp bảo hiểm Luật KDBH của các quốc gia thường có quy định về các loại hình tổ chức kinh doanh bảo hiểm.
Cũng giống như các tổ chức kinh tế khác, trong TTBH bao gồm nhiều hình thức tổ chức sau: DNBH Nhà nước; Công ty cổ phẩn bảo hiểm; Công ty trách nhiệm hữu hạn bảo hiểm; DNBH liên doanh; DNBH 100% vốn đầu tư nước ngoài; Doanh nghiệp tư nhân; Tổ chức bảo hiểm tương hỗ; Hợp tác xã bảo hiểm. Đây là hình thức tổ chức của các công ty độc lập. Ngoài ra, còn có công ty trực thuộc các tổng công ty (hay tập đoàn) kinh tế lớn. Chẳng hạn, công ty bảo hiểm quốc tế AIA thuộc tập đoàn bảo hiểm và dịch vụ tài chính hàng đầu thế giới AIG; Công ty bảo hiểm Samsung trong hãng Samsung; Công ty bảo hiểm Dầu khí trong Tổng công ty Dầu khí., theo đó: DNBH Nhà nước: DNBH Nhà nước là doanh nghiệp do Nhà nước thành lập, đầu tư vốn và quản lý với tư cách là người chủ sở hữu.
DNBH Nhà nước là một pháp nhân kinh tế hoạt động theo pháp luật và bình đẳng trước pháp luật Công ty cổ phần bảo hiểm: Công ty cổ phần bảo hiểm là loại doanh nghiệp do các cổ đông tham gia đóng góp vốn thông qua hình thức phát hành cổ phiếu, trái phiếu và có trách nhiệm hữu hạn tương ứng với số vốn góp, đồng thời chịu sự chi phối bởi Luật doanh nghiệp, công ty cổ phần bảo hiểm có đầy đủ các tính chất của một doanh nghiệp cổ phần nói chung. Theo đó, vốn điều lệ của công ty được chia thành nhiều phần bằng nhau (cổ phần), 11 được phát hành rộng rãi ra ngoài công chúng. Người mua cổ phần của công ty có thể là pháp nhân hoặc cá nhân, sở hữu một phần vốn của công ty được gọi là cổ đông. Trong quá trình hoạt động công ty cổ phần có quyền phát hành chứng khoán các loại để huy động vốn.
Công ty trách nhiệm hữu hạn Được thành lập và chịu sự điều chỉnh theo Luật doanh nghiệp, nhưng điểm khác biệt căn bản với công ty cổ phần là vốn điều lệ của công ty trách nhiệm hữu hạn không được chia thành các cổ phần và bán ra bên ngoài mà do các thành viên (pháp nhân hoặc cá nhân) tham gia góp vốn. Trong quá trình hoạt động, công ty trách nhiệm hữu hạn không được phát hành cổ phiếu để huy động vốn, việc chuyển nhượng phần vốn góp cũng được quy định chặt chẽ hơn so với chuyển nhượng cổ phần của các công ty cổ phần. Thành viên của công ty sẽ chịu trách nhiệm về các khoản nợ và nghĩa vụ tài sản khác của công ty giới hạn trong phạm vi số vốn đã góp. DNBH liên doanh DNBH được thành lập trên cơ sở góp vốn của các doanh nghiệp (trong nước và nước ngoài).
Chẳng hạn, của bên Việt Nam và bên nước ngoài. Vị trí các bên trong doanh nghiệp phụ thuộc mức vốn góp. Các thành viên trong doanh nghiệp hưởng lợi nhuận cũng như chịu thua lỗ tương ứng mức vốn góp. DNBH 100% vốn đầu tư nước ngoài Đây là loại hình DNBH do nước ngoài đầu tư 100% vốn, hoạt động tại nước sở tại theo pháp luật của nước sở tại; đồng thời chịu sự chỉ đạo của công ty mẹ ở chính quốc.