Chương 1. Cơ sở lý luận về chất lượng tín dụng của NHTM và tình hình đại dịch Covid. Thực trạng chất lượng tín dụng hậu Covid tại BIDV Hà Giang. Giải pháp nâng cao chất lượng tín dụng hậu Covid tại BIDV Hà Giang.
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CHẤT LƯỢNG TÍN DỤNG CỦA NHTM VÀ TÌNH HÌNH ĐẠI DỊCH COVID – 19 1. Tổng quan về tín dụng 1. Khái niệm và đặc điểm tín dụng ngân hàng Tác giả Tô Ngọc Hưng và cộng sự (2019) “Giáo trình tín dụng ngân hàng” nêu rõ: “Tín dụng nói chung được định nghĩa là quan hệ kinh tế trong đó có sự chuyển nhượng tạm thời một lượng giá trị (dưới hình thức giá trị hoặc hiện vật) từ người sở hữu sang người sử dụng để sau một thời gian nhất định thu hồi về một lượng giá trị lớn hơn giá trị ban đầu”. “Tín dụng ngân hàng là một giao dịch về tài sản (tiền hoặc hàng hóa) giữa ngân hàng và bên đi vay (cá nhân, doanh nghiệp và các chủ thể khác), trong đó, ngân hàng chuyển giao tài sản cho bên đi vay, sử dụng trong một thời gian nhất định theo thỏa thuận, bên đi vay có trách nhiệm hoàn trả vô điều kiện vốn gốc là lãi cho ngân hàng khi đến hạn thanh toán”.
Trong nền kinh tế, ngân hàng đóng vai trò là định chế tài chính trung gian nên trong mối quan hệ tín dụng với doanh nghiệp hay cá nhân, ngân hàng vừa là người đi vay và vừa là người cho vay. Với tư cách là người đi vay, NH nhận tiền gửi của doanh nghiệp, cá nhân hoặc có thể phát hành chứng chỉ tiền gửi, trái phiếu,.để huy động vốn trong xã hội. Còn với tư cách là nguời cho vay, NH sẽ cấp tín dụng cho người đi vay. Nhìn chung, tín dụng ngân hàng có một số ưu điểm nổi bật như: Hình thức phổ biến của tín dụng ngân hàng là cho vay tiền tệ, rất linh hoạt và đáp ứng đúng nhu cầu của mọi đối tượng trong nền kinh tế.
Vì thế nên phạm vi hoạt động cũng rất lớn. Cho vay chủ yếu bằng vốn đi vay của các thành phần trong xã hội chứ không phải là vốn thuộc sở hữu hoàn toàn của một cá nhân, tổ chức như tín dụng thương mại. 7 Thỏa mãn gần như tối đa về vốn trong nền kinh tế vì nó có thể huy động nguồn vốn bằng tiền nhãn rỗi trong xã hội Thời hạn vay phong phú, có thể là ngắn hạn, trung hạn hay dài hạn đều được. Các hình thức tín dụng ngân hàng Căn cứ Giáo trình Tín dụng ngân hàng, Học viện Ngân Hàng (2019) Tô Ngọc Hưng và cộng sự, các hình thức tín dụng ngân hàng gồm: 1.
Theo hình thức cấp tín dụng - Cho vay: Cho vay là việc ngân hàng đưa tiền cho khách hàng với cam kết khách hàng phải hoàn trả cả gốc và lãi trong khoảng thời gian xác định. Nghiệp vụ này gồm có các loại sau: + Thấu chi, là nghiệp vụ cho vay qua đó ngân hàng cho phép người vay được chi trội trên số dư tiền gửi của mình đến một giới hạn nhất định (gọi là hạn mức thấu chi) và trong một khoảng thời gian nhất định. + Cho vay trực tiếp từng lần, là hình thức cho vay khá phổ biến của ngân hàng với khách hàng không có nhu cầu vay thường xuyên, không có điều kiện để cho vay thấu chi. + Cho vay theo hạn mức, là nghiệp vụ mà ngân hàng và khách hàng xác định và thoả thuận một hạn mức tín dụng duy trì trong một khoảng thời gian nhất định.
+ Cho vay luân chuyển, là nghiệp vụ cho vay dựa trên sự luân chuyển của hàng hoá, dịch vụ. Ví dụ ngân hàng có thể cho vay để mua hàng và sẽ lập tức thu nợ khi doanh nghiệp bán hàng. + Cho vay trả góp, là nghiệp vụ mà ngân hàng cho phép khách hàng trả gốc làm nhiều lần trong khoảng thời hạn tín dụng. - Bảo lãnh: Bảo lãnh ngân hàng (sau đây gọi là bảo lãnh) là hình thức cấp tín dụng, theo đó bên bảo lãnh cam kết bằng văn bản với bên nhận bảo lãnh sẽ thực hiện nghĩa vụ tài chính thay cho bên được bảo lãnh khi bên được bảo lãnh không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ đã cam kết với bên nhận bảo lãnh; bên được bảo lãnh phải nhận nợ và hoàn trả cho bên bảo lãnh theo thỏa thuận.
8 - Chiết khấu thương phiếu: Chiết khấu thương phiếu là việc ngân hàng ứng trước tiền cho khách hàng tương ứng với giá trị của thương phiếu trừ đi phần thu nhập của ngân hàng để sở hữu một thương phiếu chưa đến hạn. Thương phiếu được hình thành từ quá trình mua bán chịu hàng hoá và dịch vụ giữa các khách hàng với nhau. Ngân hàng tuy ứng tiền cho người bán, song thực chất là thay thế người mua trả tiền trước cho người bán. Người bán (hay còn gọi là người thụ hưởng) có thể giữ thương phiếu đến hạn để đòi tiền người mua (có thể là người phải trả) hoặc mang đến ngân hàng để xin chiết khấu trước hạn.
Đây được coi là một nghiệp vụ đơn giản, nó bắt nguồn từ sự tín nhiệm giữa ngân hàng và những người ký tên trên thương phiếu. Thông thường ngân hàng ký với khách hàng một hợp đồng chiết khấu do vậy độ an toàn của thương phiếu là khá cao. Khi cần chiết khấu khách hàng chỉ cần gửi thương phiếu lên ngân hàng xin chiết khấu, ngân hàng sẽ kiểm tra thương phiếu đó và thực hiện chiết khấu. Ngoài ra, các ngân hàng thương mại có thể tái chiết khấu thương phiếu tại Ngân hàng Nhà nước để đáp ứng nhu cầu thanh khoản với chi phí thấp.
- Cho thuê tài chính: cho thuê tài chính là một hoạt động tín dụng trung hạn, dài hạn trên cơ sở hợp đồng cho thuê tài sản (tài sản này có thể là máy móc, thiết bị, phương tiện vận chuyển, động sản khác.) giữa bên cho thuê là công ty cho thuê tài chính (tổ chức tín dụng phi ngân hàng) với khách hàng thuê (khách hàng có nhu cầu thuê thường là các doanh nghiệp, các bên đối tác trong liên kết kinh tế). Căn cứ theo đối tượng khách hàng vay vốn - Tín dụng đối với doanh nghiệp: Tín dụng phục vụ nhu cầu bổ sung vốn kinh doanh của các doanh nghiệp để thực hiện kế hoạch kinh doanh hoặc thực hiện các dự án đầu tư. - Tín dụng đối với cá nhân: Tín dụng phục vụ nhu cầu tiêu dùng hoặc sản xuất kinh doanh của cá nhân hộ gia đình. Căn cứ vào thời hạn cho vay Tín dụng được chia làm 03 loại - Tín dụng ngắn hạn: là loại tín dụng có thời hạn 12 tháng trở xuống, được sử dụng để bù đắp sự thiếu hụt tạm thời về vốn lưu động của các doanh nghiệp, nhu cầu 9 chi tiêu ngắn hạn của cá nhân.
Đối với loại hình tín dụng này rủi ro thường rất thấp do trong một khoảng thời gian ngắn ngân hàng có thể lường trước những biến động xảy ra và dự tính được những biến động đó cũng như các biên pháp phòng chống. Loại hình này gồm có: tín dụng chiết khấu, tín dụng bổ sung vốn lưu động, tín dụng thấu chi… - Tín dụng trung hạn: là loại tín dụng có thời hạn từ trên 1 năm đến 5 năm được sử dụng chủ yếu để đầu tư mua sắm tài sản cố định, cải tiến hoặc đổi mới thiết bị, công nghệ, mở rộng sản xuất kinh doanh, xây dựng các dự án có quy mô nhỏ và thời gian thu hồi vốn nhanh. Ngoài ra, tín dụng trung hạn cũng là nguồn hình thành vốn lưu động thường xuyên của các doanh nghiệp. Loại hình này gồm có: tín dụng cho thuê tài chính, tín dụng dự án … - Tín dụng dài hạn: là loại tín dụng có thời hạn trên 5 năm (cũng có ngân hàng quy định tới trên 7 năm) được sử dụng để cấp vốn cho các dự án đầu tư xây dựng cơ bản, các công trình thuộc cơ sở hạ tầng (đường xá, cầu cống, trường học, bến bãi, sân bay…).
Do có thời gian dài, quá trình thu hồi vốn lâu nên loại hình tín dụng này thường có mức độ rủi ro khá cao, do khó lường hết được những biến động có thể gặp phải. Căn cứ vào mục đích sử dụng vốn vay - Tín dụng cho vay sản xuất kinh doanh: Cho vay sản xuất kinh doanh là sản phẩm tín dụng nhằm đáp ứng nhu cầu vay vốn để thực hiện các dự án đầu tư, phương án sản xuất kinh doanh. - Tín dụng tiêu dùng: TD tiêu dùng là các khoản cấp tín dụng nhằm tài trợ cho nhu cầu chi tiêu của cá nhân và hộ gia đình như nhà ở, đồ dùng gia đình, phương tiện đi lại, giáo dục, y tế, du lịch … 1. Căn cứ vào tài sản đảm bảo Tài sản đảm bảo các khoản tín dụng cho phép ngân hàng có được nguồn thu nợ thứ hai bằng cách bán các tài sản đó khi nguồn thu nợ thứ nhất (từ sản xuất kinh doanh) không có hoặc không đủ.
Tín dụng có thể được phân chia thành: - Tín dụng có đảm bảo bằng uy tín của chính khách hàng 10 - Tín dụng có đảm bảo bằng thế chấp, cầm cố tài sản… 1. Vai trò của tín dụng Ngân hàng Theo tài liệu tín dụng ngân hàng (hệ chất lượng cao), Bộ môn Kinh doanh Ngân hàng – Khoa Ngân hàng, Học viện Ngân hàng. Vai trò của tín dụng Ngân hàng được thể hiện trên ba phương diện sau: Đối với ngân hàng: Hoạt động tín dụng là hoạt động mang lại nguồn thu chủ yếu. Mặt khác, hoạt động tín dụng còn là cơ sở để các ngân hàng thu hút và phát triển khách hàng.
Hơn thế nữa, hoạt động tín dụng còn làm cho NHTM trở thành một trong những trung gian tài chính quan trọng nhất của nền kinh tế. Đối với khách hàng vay: Hoạt động tín dụng đã đáp ứng kịp thời nhu cầu về số lượng và chất lượng vốn cho khách hàng. Hoạt động tín dụng giúp nhà đầu tư nắm bắt được những cơ hội kinh doanh, doanh nghiệp có vốn để mở rộng sản xuất, các cá nhân có đủ khả năng tài chính để trang trải cho các khoản chi tiêu nâng cao chất lượng cuộc sống. Ngoài ra, hoạt động tín dụng còn ràng buộc trách nhiệm khách hàng phải hoàn trả gốc và lãi trong thời hạn nhất định.
Đối với nền kinh tế: Tín dụng NHTM góp phần thúc đẩy sản xuất và lưu thông hàng hóa phát triển, là kênh truyền tải vốn tài trợ của nhà nước đến nông nghiệp, nông thôn, góp phần xóa đói giảm nghèo, ổn định chính trị, xã hội.