Chương 1: Cơ sở lý luận về chất lượng tín dụng của ngân hàng thương mại. Chương 2: Thực trạng chất lượng tín dụng tại Ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam – Chi nhánh Bắc Hải Dương. Chương 3: Một số giải pháp nâng cao chất lượng tín dụng tại Ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam – Chi nhánh Bắc Hải Dương. 8 CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ CHẤT LƢỢNG TÍN DỤNG CỦA NGÂN HÀNG THƢƠNG MẠI 1.
Tổng quan về ngân hàng thƣơng mại 1. Khái niệm, chức năng, vai trò của ngân hàng thương mại * Khái niệm NHTM NHTM là một tổ chức trung gian tài chính có vị trí quan trọng trong nền kinh tế quốc dân. Có nhiều khái niệm về NHTM: - Tại Hoa Kỳ: NHTM được định nghĩa là công ty kinh doanh tiền tệ, hoạt động chính trong ngành công nghiệp dịch vụ tài chính và chuyên cung cấp dịch vụ tài chính cho khách hàng. - Tại Pháp, Đạo luật ngân hàng của Pháp (1941) cũng đưa ra định nghĩa: NHTM là những công ty hay cơ sở mà nghề nghiệp thường xuyên là nhận tiền bạc của công chúng dưới hình thức ký thác hoặc dưới các hình thức khác và sử dụng tài nguyên đó cho chính họ trong các nghiệp vụ về chiết khấu, tín dụng và tài chính.
- Tại Việt Nam, Luật các TCTD số 47/2010/QH12 đưa ra khái niệm: “NHTM là loạ hình n n hàn được thực h ện tất c các hoạt độn n n hàn và các hoạt độn k nh doanh khác theo quy định nhằm mục t êu lợ nhuận”. Trong đó, hoạt động ngân hàng là việc kinh doanh, cung ứng thường xuyên một hoặc một số các nghiệp vụ sau đây gồm nhận tiền gửi, cấp tín dụng và cung ứng dịch vụ thanh toán qua tài khoản. * Vai trò của NHTM trong nền kinh tế thị trƣờng - Đối với các cá nhân, các tổ chức kinh tế: NHTM nhận tiền của cá nhân, tổ chức kinh tế thông qua các tài khoản mở tại các NHTM hoặc ngân hàng nhận giữ hộ các tài sản quý, các giấy tờ có giá. Từ đó giúp tiết kiệm được các chi phí cất giữ, bảo quản tài sản, tiền tệ.
Bên cạnh đó, trên cơ sở số tiền gửi của khách hàng, NHTM còn thực hiện các dịch vụ thanh toán, chuyển tiền, các hoạt động thanh toán không 9 dùng tiền mặt đó giúp làm giảm chi phí lưu thông tiền tệ, đảm bảo an toàn thuận tiện và lợi ích cho tất cả các chủ thể trong nền kinh tế. - Đối với lĩnh vực sản xuất xã hội: Nhờ chức năng trung gian tín dụng của mình, NHTM có khả năng tập trung huy động một khối lượng lớn vốn tạm thời nhàn rỗi của các cá nhân, tổ chức trong nền kinh tế và thông qua nghiệp vụ tín dụng, NHTM sử dụng nguồn vốn huy động được để đầu tư, cho vay đáp ứng kịp thời mọi nhu cầu vốn của các thành phần kinh tế trong xã hội. Nhờ đó mà các DN, các tổ chức kinh tế và các cá nhân có điều kiện để mở rộng sản xuất, mua sắm, cải tiến máy móc thiết bị, nâng cao hiệu quả kinh tế, thúc đẩy quá trình tái sản xuất phát triển, tạo ra giá trị sản xuất nhiều hơn cho xã hội. - Đối với lĩnh vực lưu thông tiền tệ: NHTM giữ vai trò là cơ quan tổ chức điều hoà lưu thông tiền tệ, từ đó giúp hạn chế tăng khối lượng tiền cần thiết trong lưu thông, giảm bớt chi phí cho xã hội, tiến tới xã hội không dùng tiền mặt trong thời gian tới.
* Chức năng của ngân hàng thƣơng mại NHTM là trung gian tài chính, cầu nối giữa người đi vay và người cho vay. NHTM có các chức năng chính sau: - Chức năng trung gian tín dụng: đây là chức năng quan trọng và cơ bản nhất của các NHTM, thể hiện qua việc NHTM thu hút các khoản tiền nhàn rỗi trong nền kinh tế rồi dùng số tiền đã huy động được để thực hiện cho vay đối với khách hàng trong xã hội, hay nói cách khác là một tổ chức đóng vai trò là cầu nối giữa các cá nhân, tổ chức thừa vốn với các cá nhân, tổ chức thiếu vốn thiếu vốn. Thông qua sự điều chuyển này, NHTM có vai trò quan trong trong việc thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, tăng việc làm, cải thiện mức sống dân cư, ổn định thu chi của Nhà nước. Đồng thời chức năng này còn góp phần quan trọng trong việc điều hoà việc lưu thông tiền tệ, kiềm chế lạm phát trong nền kinh tế.
- Chức năng trung gian thanh toán: với chức năng này, NHTM đóng vai trò là thủ quỹ cho các tổ chức và cá nhân, thực hiện các thanh toán theo yêu cầu của khách hàng như trích tiền từ tài khoản tiền gửi để thanh toán tiền hàng hóa, dịch vụ 10 hoặc nhập tiền gửi của khách hàng, tiền thu bán hàng và các khoản thu khác theo yêu cầu của khách hàng vào tài khoản. Các NHTM cung cấp cho khách hàng nhiều phương tiện thanh toán tiện lợi như các loại thẻ rút tiền, thẻ thanh toán, thẻ tín dụng, ủy nhiệm chi, ủy nhiệm thu để khách hàng có thể lựa chọn phương thức thanh toán phù hợp. Đồng thời, nhờ chức năng trên của NHTM mà các chủ thể kinh tế không phải sử dụng tiền mặt trong các hoạt động thanh toán, hoàn trả các khoản nợ dù khoảng cách có xa hay gần mà chỉ cần thực thiện thanh toán qua tài khoản tại ngân hàng. Do vậy giúp tiết kiệm được rất nhiều chi phí, thời gian, lại đảm bảo thanh toán an toàn.
Chức năng này đã thúc đẩy lưu thông hàng hóa, đẩy nhanh tốc độ thanh toán, tốc độ lưu chuyển vốn, từ đó góp phần phát triển KTXH. - Chức năng tạo tiền: Đây là chức năng quan trọng, phản ánh rõ bản chất của NHTM trong nền kinh tế. Các NHTM với mục tiêu là theo đuổi lợi nhuận để tồn tại và phát triển, trong quá trình sử dụng các nghiệp vụ kinh doanh mang tính đặc thù của mình đồng thời cũng thực hiện chức năng tạo tiền cho nền kinh tế. Chức năng tạo tiền được thực hiện trên cơ sở hai chức năng khác của NHTM là chức năng tín dụng và chức năng thanh toán.
Thông qua chức năng trung gian tín dụng, ngân hàng sử dụng số vốn huy động được để cho vay, số tiền cho vay ra lại được khách hàng sử dụng để mua hàng hóa, thanh toán dịch vụ trong khi số dư trên tài khoản tiền gửi thanh toán của khách hàng vẫn được coi là một bộ phận của tiền giao dịch, được họ sử dụng để mua hàng hóa, thanh toán dịch vụ. Với chức năng này, hệ thống NHTM đã làm tăng tổng phương tiện thanh toán trong nền kinh tế, đáp ứng nhu cầu thanh toán, chi trả của xã hội. Bên cạnh đó, khả năng tạo tiền của NHTM phụ thuộc vào tỉ lệ dự trữ bắt buộc của NHTW quy định cho các NHTM. Do vậy NHTW có thể thay đổi tỷ lệ này để điều tiết lượng tiền lưu thông trong nền kinh tế.
Các hoạt động của ngân hàng thương mại Các NHTM đóng vai trò vô cùng quan trọng trong việc huy động, cung cấp vốn cho nền kinh tế. Với sự phát triển kinh tế, sự bùng nổ của khoa học, công nghệ hiện nay, hoạt động của NHTM ngày càng đa dạng, phong phú hơn song các NHTM vẫn duy trì các hoạt động cơ bản sau: 11 a. Hoạt động huy động vốn Đây là hoạt động cơ bản, quan trọng nhất, ảnh hưởng lớn nhất tới hiệu quả hoạt động của NHTM. Ngân hàng huy động vốn dưới nhiều hình thức khác nhau như huy động tiền gửi của dân cư, các tổ chức kinh tế, DN, đi vay của các tổ chức khác hoặc phát hành giấy tờ có giá.
Mặt khác trên cơ sở nguồn vốn huy động được, ngân hàng tiến hành cho vay phục vụ cho nhu cầu phát triển SXKD của các nhân, tổ chức, đóng góp cho sự phát triển chung của nền kinh tế. Hoạt động huy động vốn của ngân hàng ngày càng mở rộng, tạo uy tín của ngân hàng ngày càng cao, các NHTM chủ động trong hoạt động kinh doanh, mở rộng quan hệ tín dụng với các cá nhân, các tổ chức từ đó mang lại lợi nhuận cho ngân hàng. Do đó các NHTM phải căn cứ vào chiến lược phát triển của ngân hàng, mục tiêu phát triển kinh tế của đất nước, tình trạng vốn nhàn rỗi trong dân cư để đưa ra các loại hình huy động vốn phù hợp nhằm đáp ứng nhu cầu vốn cho khách hàng trong nền kinh tế. Hoạt động sử dụng vốn Đây là hoạt động trực tiếp mang lại lợi nhuận cho các NHTM.
Ngân hàng có hiệu quả sẽ nâng cao uy tín của ngân hàng, quyết định năng lực cạnh tranh của ngân hàng trên thị trường. Do vậy ngân hàng cần phải nghiên cứu và đưa ra chiến lược sử dụng vốn của mình sao cho hợp lý nhất. Đối với hoạt động cho vay: Đây là hoạt động quan trọng nhất của các NHTM, tạo ra hơn 70% tổng thu nhập của ngân hàng. Ngân hàng phát triển hay phá sản tùy thuộc chủ yếu vào việc thực hiện kế hoạch tín dụng của ngân hàng.
Các loại cho vay có thể phân loại bằng nhiều cách, bao gồm mục đích, hình thức bảo đảm, kỳ hạn, nguồn gốc và phương pháp hoàn trả. Đối với việc tiến hành đầu tư: Với tư cách là một chủ thể hoạt động trong lĩnh vực dịch vụ, đòi hỏi ngân hàng phải luôn nắm bắt được thông tin, đa dạng các nghiệp vụ để cung cấp đầy đủ kịp thời nguồn vốn cho nền kinh tế. Ngoài hình thức phổ biến là cho vay, ngân hàng còn sử dụng vốn để đầu tư. Có 2 hình thức chủ yếu mà các NHTM có thể tiến hành là đầu tư vào mua bán kinh doanh các chứng khoán 12 hoặc đầu tư góp vốn vào các DN, các công ty khác, đầu tư vào trang thiết bị tài sản cố định phục vụ cho hoạt động kinh doanh của ngân hàng.
Nghiệp vụ ngân quỹ Đối với ngân hàng cũng như các tổ chức kinh doanh, lợi nhuận luôn là mục tiêu cuối cùng mà các chủ thể khi tham gia vào nền kinh tế. Tuy nhiên, đằng sau mục tiêu quan trọng đó là hàng loạt các điều kiện cần quan tâm. Một trong những điều kiện đó là tính an toàn. Hoạt động ngân hàng là hoạt động luôn chứa đựng sự rủi ro, mạo hiểm, càng cần phải chú ý đến sự an toàn.
Vì vậy, ngoài việc cho vay và đầu tư để thu được lợi nhuận, ngân hàng còn phải sử dụng một phần nguồn vốn huy động được để đảm bảo an toàn về khả năng thanh toán và thực hiện các quy định về dự trữ bắt buộc do NHTW đề ra.