MỞ ĐẦU CHƢƠNG 2: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ RỦI RO TÍN DỤNG VÀ QUẢN TRỊ RỦI RO TÍN DỤNG CHƢƠNG 3: THỰC TRẠNG CÔNG TÁC QUẢN TRỊ RỦI RO TÍN DỤNG TẠI NGÂN HÀNG THƢƠNG MẠI CỔ PHẦN ĐẦU TƢ VÀ PHÁT Luan van 7 TRIỂN VIỆT NAM – CHI NHÁNH TỈNH LONG AN VÀ PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU CHƢƠNG 4: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN CHƢƠNG 5: KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ Luan van 8 KẾT LUẬN CHƢƠNG 1 Hoạt động tín dụng đem lại nguồn thu nhập chủ yếu cho các NHTM. Song hoạt động này cũng luôn tiềm ẩn nhiều nguy cơ rủi ro cao. Chính vì vậy, NHTM phải thƣờng xuyên thực hiện nhiều biện pháp phù hợp nhằm tăng cƣờng quản trị rủi ro, hạn chế rủi ro trong hoạt động tín dụng. Với vốn kiến thức ít ỏi của mình, bằng cách sử dụng phƣơng pháp nghiên cứu định tính làm phƣơng pháp nghiên cứu chính kết hợp với phƣơng pháp định lƣợng để xác định các chỉ tiêu đánh giá.
Qua đó tác giả sẽ tiếp cận và tìm hiểu quy trình quản trị rủi ro tín dụng tại Ngân hàng đầu tƣ và Phát triển Việt Nam – Chi nhánh tỉnh Long An. Luan van 9 CHƢƠNG 2: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ RỦI RO TÍN DỤNG VÀ QUẢN TRỊ RỦI RO TÍN DỤNG 2.1 Một số vấn đề chung về rủi ro tín dụng 2.1 Khái niệm về rủi ro tín dụng: Khái niệm về tín dụng Có nhiều khái niệm về tín dụng để tham khảo: Theo Lê Thị Mận (2009) thì nếu hiểu theo nghĩa rộng, tín dụng là quan hệ xã hội, quan hệ sử dụng vốn lẫn nhau giữa chủ thể kinh tế này với chủ thể kinh tế khác trên nguyên tắc có hoàn trả. Nói cách khác, tín dụng là sự chuyển nhƣợng tạm thời quyền sử dụng một lƣợng giá trị nhất định dƣới hình thức hiện vật hay tiền tệ trong một thời hạn nhất định từ ngƣời cho vay (ngƣời sở hữu) sang ngƣời đi vay (ngƣời sử dụng) và khi đến hạn phải hoàn trả lại với một lƣợng giá trị lớn hơn cái ban đầu. Khoản giá trị dôi ra này đƣợc gọi là lợi tức tín dụng.
Theo Trần Huy Hoàng (2010) thì tín dụng là một phạm trù kinh tế tồn tại qua các hình thái xã hội khác nhau. Hiểu một cách thông thƣờng nhất, tín dụng là vay mƣợn. Tín dụng ngân hàng là quan hệ chuyển nhƣợng quyền sử dụng vốn từ ngân hàng cho khách hàng trong một thời gian nhất định với một khoản chi phí nhất định. Theo Nguyễn Minh Kiều (2012) thì tín dụng, theo tiếng Latinh gọi là creditium, tiếng Anh gọi là credit, có nghĩa là sự vay mƣợn.
Về mặt tài chính, tín dụng là quan hệ chuyển nhƣợng quyền sử dụng dụng vốn từ ngƣời sở hữu sang cho ngƣời sử dụng trong một thời gian nhất định với một khoản chi phí nhất định. Từ việc tham khảo các khái niệm trên tác giả rút ra khái niệm về tín dụng: tín dụng là quan hệ chuyển nhƣợng quyền sử dụng dụng vốn từ ngƣời sở hữu sang cho ngƣời sử dụng trong một thời gian nhất định với một khoản chi phí nhất định. Khoản chi phí này còn đƣợc gọi là lợi tức tín dụng. Khái niệm về rủi ro tín dụng Theo Lê Thị Mận (2009) thì rủi ro tín dụng là loại rủi ro phát sinh do khách hàng vay nợ không đủ khả năng chi trả cho ngân hàng.
Luan van 10 Theo Trần Huy Hoàng (2010) thì rủi ro tín dụng còn đƣợc gọi là rủi ro mất khả năng chi trả và rủi ro sai hẹn. Rủi ro tín dụng đƣợc hiểu là loại rủi ro phát sinh trong quá trình cấp tín dụng của ngân hàng, biểu hiện trên thực tế qua việc khách hàng không trả đƣợc nợ hoặc trả nợ không đúng hạn cho ngân hàng theo hợp đồng. Cũng theo khoản 01 Điều 03 của Thông tƣ 02/2013/TT-NHNN ngày 21/01/2013 của Ngân hàng nhà nƣớc quy định về phân loại tài sản có, mức trích, phƣơng pháp trích lập dự phòng rủi ro và việc sử dụng dự phòng để xử lý rủi ro trong hoạt động của tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nƣớc ngoài thì “Rủi ro tín dụng trong hoạt động ngân hàng (sau đây gọi tắt là rủi ro) là tổn thất có khả năng xảy ra đối với nợ của tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nƣớc ngoài do khách hàng không thực hiện hoặc không có khả năng thực hiện một phần hoặc toàn bộ nghĩa vụ của mình theo cam kết ”. Từ những nội dung trình bày ở trên có thể hiểu rủi ro tín dụng loại rủi ro phát sinh trong quá trình cho vay của ngân hàng, biểu hiện trên thực tế qua việc khách hàng không trả đƣợc nợ hoặc trả nợ không đúng hạn cho ngân hàng.
Rủi ro tín dụng còn đƣợc gọi là rủi ro mất khả năng chi trả và rủi ro sai hẹn.2 Phân loại rủi ro tín dụng Phân loại theo nguyên nhân phát sinh Theo Trần Huy Hoàng (2010) thì nếu căn cứ vào nguyên nhân phát sinh rủi ro, rủi ro tín dụng đƣợc phân chia thành các loại sau: Sơ đồ 2.1: Phân loại rủi ro tín dụng Luan van 11 Rủi ro tín dụng đƣợc chia thành hai loại là rủi ro giao dịch (transaction risk) và rủi ro danh mục (Portfolio risk): Rủi ro giao dịch: Là một hình thức của rủi ro tín dụng mà nguyên nhân phát sinh là do những hạn chế trong quá trình giao dịch và xét duyệt cho vay, đánh giá khách hàng. Rủi ro giao dịch có ba bộ phận: + Rủi ro lựa chọn là rủi ro liên quan đến quá trình đánh giá phân tích tín dụng, khi ngân hàng lựa chọn phƣơng án vay vốn có hiệu quả để ra quyết định cho vay. + Rủi ro bảo đảm phát sinh từ các tiêu chuẩn đảm bảo nhƣ các điều khoản trong hợp đồng cho vay, các loại tài sản đảm bảo, chủ thể đảm bảo, cách thức đảm bảo và mức cho vay trên trị giá của tài sản đảm bảo. + Rủi ro nghiệp vụ là rủi ro liên quan đến công tác quản lý khoản vay và hoạt động cho vay, bao gồm cả việc sử dụng hệ thống xếp hạng rủi ro và kỹ thuật xử lý các khoản cho vay có vấn đề.
Rủi ro danh mục: Là một hình thức của rủi ro tín dụng mà nguyên nhân phát sinh là do những hạn chế trong quản lý danh mục cho vay của Ngân hàng, đƣợc phân thành hai loại: rủi ro nội tại (Intrinsic) và rủi ro tập trung (Concentration risk). + Rủi ro nội tại xuất phát từ các yếu tố, các đặc điểm riêng có mang tính riêng biệt bên trong của mỗi chủ thể đi vay hoặc ngành, lĩnh vực kinh tế. Nó xuất phát từ đặc điểm hoạt động hoặc đặc điểm sử dụng vốn của khách hàng vay vốn. + Rủi ro tập trung là trƣờng hợp ngân hàng tập trung vốn cho vay quá nhiều đối với một số khách hàng, cho vay quá nhiều doanh nghiệp hoạt động trong cùng một ngành, lĩnh vực kinh tế; hoặc trong cùng một vùng địa lý nhất định; hoặc cùng một loại hình cho vay có rủi ro cao.
Phân loại rủi ro theo khả năng trả nợ của khách hàng Nếu căn cứ vào khả năng trả nợ của khách hàng, rủi ro tín dụng đƣợc phân chia thành các loại sau: Rủi ro không hoàn trả nợ đúng hạn và rủi ro do không có khả năng trả nợ: - Rủi ro không hoàn trả nợ đúng hạn (rủi ro đọng vốn): Khi thiết lập mối quan hệ tín dụng, ngân hàng và khách hàng phải quy ƣớc về khoảng thời gian hoàn Luan van 12 trả nợ vay. Tuy nhiên đến thời hạn mà ngân hàng vẫn chƣa thu hồi đƣợc vốn vay, những tổn thất xảy ra trong trƣờng hợp này ngƣời ta gọi đó là rủi ro không hoàn trả nợ đúng hạn. - Rủi ro do không có khả năng trả nợ: là rủi ro xảy ra trong trƣờng hợp khách hàng đi vay đã mất khả năng chi trả. Do vậy ngân hàng phải thanh lý tài sản của khách hàng để thu nợ.2: Các hình thức rủi ro tín dụng (Nguồn: Trần Huy Hoàng, 2010).
Khi không thu đƣợc lãi đúng hạn, nguy cơ rủi ro đang ở mức thấp và chỉ cần đƣa vào mục lãi treo phát sinh. Nếu NH không thể thu đủ lãi thì sẽ có khoản mục lãi treo đóng băng, trừ những trƣờng hợp NH miễn giảm lãi đó cho doanh nghiệp. Khi không thu đƣợc vốn đúng hạn, ngân hàng sẽ có khoản nợ quá hạn phát sinh. Tuy nhiên, khoản này vẫn chƣa thể coi là khoản mất mát hoàn toàn của ngân hàng vì có thể bởi lý do nào đó mà doanh nghiệp chậm trả nợ gốc và sẽ trả sau hạn cam kết trong hợp đồng.
Nếu khoản cho vay này ngân hàng không thể thu hồi đƣợc (ví dụ do doanh nghiệp bị phá sản) thì lúc này ngân hàng coi nhƣ gặp rủi ro tín dụng ở mức độ cao vì đã phát sinh khoản nợ không có khả năng thu hồi, trừ những trƣờng hợp đặc biệt, doanh nghiệp vay vốn hội tụ đủ các điều kiện theo quy định về xóa nợ thì ngân hàng có thể xem xét để xóa nợ cho doanh nghiệp. Các nguy cơ xảy ra rủi ro nhƣ lãi treo thƣờng đƣợc chú trọng nhiều hơn trong phân tích, đánh giá, còn lãi treo đóng băng và nợ quá hạn không có khả năng Luan van 13 thu hồi đƣợc coi là các tình huống rủi ro thực sự nên thƣờng đƣợc xem xét để giải quyết hậu quả và rút ra bài học.3 Nguyên nhân rủi ro tín dụng Theo Nguyễn Kim Anh (2010) thì rủi ro tín dụng do các nguyên nhân sau: Nguyên nhân khách quan từ môi trƣờng bên ngoài - Nguyên nhân bất khả kháng: Thiệt hại do thiên tai, bão lụt, hạn hán …, động đất gây ra, thay đổi về nhu cầu của ngƣời tiêu dùng, lạc hậu khoa học kỹ thuật một ngành công nghiệp ảnh hƣởng hoạt động kinh doanh ngƣời đi vay,… - Thông tin bất cân xứng: Thông tin bất cân xứng trên thị trƣờng tài chính dẫn đến sự lựa chọn đối nghịch dẫn đến rủi ro cho cả ngƣời đi vay và ngân hàng cho vay. - Môi trƣờng kinh tế: Tình hình lạm phát, lãi suất, tỷ giá, sức mua nền kinh tế có ảnh hƣởng mạnh đối với ngƣời đi vay và ngân hàng cho vay. - Môi trƣờng pháp lý: Cùng với môi trƣờng kinh tế, môi trƣờng pháp lý tạo nên môi trƣờng cho vay của các NHTM.
Một sự thay đổi chính sách tiền tệ và chính sách tài khóa, các qui định ngành liên quan cũng sẽ ảnh hƣởng hoạt động kinh doanh cả ngƣời đi vay và ngân hàng. Môi trƣờng cho vay có thể ảnh hƣởng tích cực hay tiêu cực, có thể làm hạn chế hay tăng thêm rủi ro đối với hoạt động kinh doanh tín dụng của các NHTM.