Chương 1: Cơ sở lý luận về quản lý RRTD tại các ngân hàng thương mại Chương 2: Thực trạng quản lý RRTD tại Agribank - Chi nhánh Hà Tĩnh Chương 3: Định hướng và giải pháp tăng cường quản lý RRTD tại Agribank - Chi nhánh Hà Tĩnh 6 z Chƣơng 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ RỦI RO TÍN DỤNG TẠI NGÂN HÀNG THƢƠNG MẠI 1. Rủi ro tín dụng 1. Khái niệm và phân loại 1. Khái niệm Rủi ro tín dụng Trong hoạt động kinh doanh ngân hàng, tín dụng là hoạt động kinh doanh đem lại lợi nhuận chủ yếu của ngân hàng nhƣng cũng là nghiệp vụ tiềm ẩn rủi ro rất lớn.
Mặc dù hiện nay đã có sự chuyển dịch trong cơ cấu lợi nhuận của ngân hàng. Theo đó, thu nhập từ hoạt động tín dụng có xu hƣớng giảm xuống và thu nhập từ các dịch vụ khác có xu hƣớng tăng lên nhƣng thu nhập từ tín dụng vẫn chiếm tỷ lệ cao trong toàn bộ thu nhập ngân hàng. Các chuyên gia cho rằng một số tài sản của ngân hàng (đặc biệt là các khoản cho vay) giảm giá trị hay không thể thu hồi là biểu hiện của RRTD. Do vốn chủ sở hữu của ngân hàng so với tổng giá trị của tài sản là rất nhỏ nên chỉ cần một tỷ lệ nhỏ trong danh mục cho vay có vấn đề thì sẽ có thể đẩy một ngân hàng tới nguy cơ phá sản.
Kinh doanh ngân hàng là kinh doanh luôn tiền ẩn rủi ro, theo đuổi lợi nhuận với rủi ro chấp nhận đƣợc là bản chất ngân hàng. Có nhiều định nghĩa khác nhau về RRTD: Trong tài liệu “Financial Institutions Management – A Modern Perpective”, A. Lange định nghĩa RRTD là: “Khoản lỗ tiềm tàng khi ngân hàng cấp tín dụng cho một khách hàng, nghĩa là khả năng các luồng thu nhập dự tính mang lại từ khoản cho vay của ngân hàng không thể được thực hiện đầy đủ cả về số lượng và thời hạn”. [20] Theo cuốn Risk Management in Banking của Joel Bessis thì: “RRTD là 7 z những tổn thất do khách hàng không trả được nợ hoặc làm giảm sút chất lượng tín dụng của các khoản vay”.
[21] Theo quan điểm của Uỷ ban Basel về giám sát nghiệp vụ ngân hàng, RRTD đƣợc định nghĩa là những rủi ro khi khách hàng vay hay đối tác không thực hiện đầy đủ nghĩa vụ cam kết theo hợp đồng tín dụng. Ở Việt Nam, theo điều 2.1, chƣơng I, Quyết định 493/2005/QĐ-NHNN ngày 22/4/2005 ban hành Quy định về phân loại nợ, trích lập và sử dụng dự phòng để xử lý RRTD trong hoạt động ngân hàng của TCTD thì: “RRTD trong hoạt động ngân hàng của TCTD là khả năng xảy ra tổn thất trong hoạt động ngân hàng của TCTD do khách hàng không thực hiện hoặc không có khả năng thực hiện nghĩa vụ của mình theo cam kết” [9] RRTD xảy ra khi khách hàng sai hẹn hoặc không có khả năng thực hiện nghĩa vụ của mình theo cam kết. Biểu hiện nhƣ: Ngân hàng sẽ không thu đƣợc lãi đúng hạn, không thu đƣợc vốn đúng hạn, không thu đủ lãi, không thu đủ vốn. Trong hoạt động tín dụng, khi ngân hàng thực hiện nghiệp vụ tín dụng thì đó mới chỉ là một giao dịch chƣa hoàn thành.
Giao dịch tín dụng chỉ đƣợc coi là hoàn thành khi ngân hàng thu hồi đƣợc khoản tín dụng gồm cả gốc và lãi. RRTD luôn tiềm ẩn và có thể xảy ra bất cứ lúc nào. Điều này có nghĩa là một khoản vay dù chƣa quá hạn nhƣng vẫn tiềm ẩn nguy cơ xảy ra tổn thất, một ngân hàng có tỷ lệ nợ quá hạn thấp cũng chƣa thể nói RRTD thấp, nguy cơ RRTD sẽ cao nếu danh mục đầu tƣ tập trung vào một nhóm khách hàng hoặc một ngành hàng tiềm ẩn nhiều rủi ro. Vì vậy, ngân hàng không thể loại trừ khả năng rủi ro, luôn chủ động phòng ngừa, ngăn chặn và hạn chế tối đa những thiệt hại tổn thất khi rủi ro xảy ra.
RRTD có ảnh hƣởng rất lớn đến hoạt động kinh doanh của ngân hàng. Khi RRTD xảy ra nó có thể gây ảnh hƣởng nghiêm trọng đối với hoạt động kinh tế - xã hội của một quốc gia, thậm chí có thể lan rộng trên phạm vi toàn 8 z cầu. Có thể nói, RRTD giống nhƣ là “ngòi nổ” tự mình nó phá hoại và kích nổ sự phá hoại lan truyền [6]. Thứ nhất, RRTD gây ra hậu quả nặng nề đối với các chủ thể tham gia trực tiếp vào quan hệ tín dụng đó là: NHTM và khách hàng.
Đối với các khách hàng khi phát sinh RRTD thì phần lớn đều trong tình trạng kinh doanh sa sút hoặc nằm trên bờ vực phá sản …Còn đối với các NHTM, hậu quả to lớn tác động trên nhiều phƣơng diện: Chi phí gia tăng do việc phải trích lập dự phòng tổn thất hoặc các chi phí liên quan trong vấn đề xử lý các khoản rủi ro đó. Bên cạnh đó, do e ngại rủi ro sẽ làm cho các ngân hàng hạn chế cho vay, doanh thu hạn chế khiến hậu quả kinh doanh giảm, thậm chí bị thua lỗ, uy tín và vị thế trên thị trƣờng giảm sút có thể dẫn đến phá sản. RRTD kéo dài làm thất thoát lƣợng vốn lớn: Vì ngân hàng có chức năng là đi vay để cho vay, do không thu hồi đƣợc nợ trong khi ngân hàng vẫn phải chi trả tiền lãi cho nguồn vốn hoạt động, mất cân đối trong thu chi làm cho lợi nhuận bị giảm sút và có thể bị rơi vào mất khả năng chi trả thanh toán hoặc có thể trầm trọng hơn thì dẫn đến tình trạng phá sản. Thứ hai, RRTD có thể gây ra hậu quả đối với hệ thống tài chính của cả quốc gia.
Vì giữa các ngân hàng luôn có sự ràng buộc và liên quan với nhau. Sự ràng buộc tất yếu và ngày càng chặt chẽ này mà RRTD có thể châm ngòi cho hiệu ứng đổ vỡ dây chuyền khiến hệ thống trung gian tài chính bị khủng hoảng nghiêm trọng mà một số trƣờng hợp điển hình là khủng hoảng đã xảy ra ở Albani, một số nƣớc Đông Nam Á hay Argentina trong thời gian vừa qua. Nếu một ngân hàng bị phá sản sẽ có những tác động dây chuyền và vô hình chung các ngân hàng khác cũng bị ảnh hƣởng nghiêm trọng. Thứ ba, RRTD có thể gây ra hậu quả tiêu cực tới mọi đối tƣợng trong xã hội.
Vì bắt nguồn từ bản chất và chức năng của ngân hàng là một trung 9 z gian tài chính, là kênh thu hút và bơm tiền cho nền kinh tế. Vì vậy, hoạt động ngân hàng có mối quan hệ chặt chẽ với nền kinh tế và mang tính xã hội hoá cao nên khi mà RRTD gây nên sự phá sản của một ngân hàng sẽ làm cho nền kinh tế bị rối loạn, hoạt động kinh tế mất ổn định, làm giảm lòng tin của công chúng vào sự vững chắc và lành mạnh của hệ thống tài chính, cũng nhƣ hiệu lực các chính sách tài chính tiền tệ của Chính phủ. Phân loại rủi ro tín dụng * Căn cứ vào tính chất của rủi ro, RRTD bao gồm: Rủi ro sai hẹn: Đó là RRTD khi ngƣời vay sai hẹn trong việc thực hiện nghĩa vụ trả nợ theo hợp đồng đã ký kết bao gồm gốc và/hoặc lãi vay. Sự sai hẹn này do trễ hạn.
Rủi ro mất vốn: Đó là rủi ro mà ngƣời vay không thực hiện đƣợc nghĩa vụ trả nợ theo hợp đồng bao gồm cả gốc và/hoặc lãi vay. * Căn cứ vào nguyên nhân gây ra rủi ro, RRTD bao gồm: Rủi ro chủ quan Đó là những rủi ro do các nguyên nhân thuộc về chủ quan của ngƣời cho vay và ngƣời vay vì vô tình hay cố ý làm thất thoát vốn vay. Cụ thể: Những nguyên nhân thuộc về năng lực quản trị của ngân hàng Chính sách tín dụng không hợp lý, quá nhấn mạnh hay chú trọng vào mục tiêu lợi nhuận dẫn đến cho vay đầu tƣ quá mạo hiểm hoặc tập trung nguồn vốn quá nhiều chủ yếu vào một doanh nghiệp hoặc một ngành kinh tế nào đó. Quy trình tín dụng, công cụ đánh giá rủi ro… còn hạn chế, lỏng lẻo, bất cập,….
Do thiếu am hiểu thị trƣờng, thiếu thông tin hoặc phân tích thông tin không đầy đủ kịp thời dẫn đến cho vay hoặc đầu tƣ không hợp lý. Do cạnh tranh các ngân hàng mong muốn có chiếm đƣợc thị trƣờng cao hơn các ngân hàng khác nên mở rộng cho vay và đầu tƣ mạo hiểm, chạy theo 10 z quy mô số lƣợng mà bỏ qua các tiêu chuẩn điều kiện trong cho vay, không chú ý đến chất lƣợng. Do trình độ của cán bộ nhân viên, sự tuân thủ và ý thức và trách nhiệm của cán bộ nhân viên: Cán bộ tín dụng yếu kém về trình độ, nghiệp vụ và kinh nghiệm thực tế. Vi phạm đạo đức nghề nghiệp.
Ý thức tuân thủ kém hoặc không tuân thủ, không chấp hành các quy trình và chính sách cho vay của ngân hàng. Định giá tài sản không chính xác, không thực hiện đầy đủ các thủ tục pháp lý cần thiết; hoặc tài sản nhận đảm bảo không đảm bảo đƣợc các yêu cầu cần thiết của tài sản đảm bảo là: dễ tiêu thụ, dễ chuyển nhƣợng… Các nguyên nhân thuộc về phía khách hàng Khách hàng sử dụng vốn vay không đúng mục đích, kém hiệu quả. Ngƣời sử dụng vốn vay ngân hàng do kinh doanh yếu kém, không hiệu quả, dẫn đến nguồn trả nợ ngân hàng bị ảnh hƣởng. Chủ doanh nghiệp thiếu năng lực điều hành quản lý và kinh doanh.
Mất đoàn kết trong nội bộ doanh nghiệp, Hội đồng quản trị, ban điều hành…. Rủi ro khách quan Là những loại rủi ro mà nguyên nhân gây ra nó vƣợt quá tầm kiểm soát của ngƣời vay và ngƣời cho vay. Nhóm nguyên nhân này là do các nhân tố khách quan gây nên nhƣ môi trƣờng kinh tế, môi trƣờng tự nhiên, môi trƣờng xã hội (Ví dụ nhƣ do thiên tai, dịch bệnh, hỏa hoạn…); khủng hoảng hoặc suy thoái kinh tế, lạm phát, mất cân bằng cán cân thanh toán quốc tế, tỷ giá hối đoái biến động bất thƣờng…; những chính sách thay đổi ở tầm vĩ mô vƣợt quá tầm kiểm soát của cả ngân hàng và khách hàng. Nhƣ vây, có nhiều nguyên nhân dẫn đến RRTD với mức độ tác động của từng nguyên nhân đến RRTD của mỗi ngân hàng là khác nhau.
Trong điều kiện nền kinh tế có nhiều biến động phức tạp, các NHTM cần nhận biết 11 z đƣợc các nguyên nhân ảnh hƣởng đến RRTD từ đó có các biện pháp cụ thể để phòng ngừa RRTD, góp phần nâng cao hiệu quả hoạt động tín dụng nói riêng, hoạt động kinh doanh nói chung. Đặc điểm của RRTD ngân hàng RRTD có những đặc điểm cơ bản sau: Thứ nhất: RRTD mang tính chất gián tiếp.