Luận Án Về Suất Sinh Lợi và Độ Biến Thiên Giữa Các Thị Trường Chứng Khoán

Tài liệu chuyên sâu Phân Tích Suất Sinh Lợi và Biến Thiên Thị Trường Chứng Khoán, phân tích đa chiều, cung cấp kiến thức nền tảng vững chắc cho

Chuyên ngành

Tài chính

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

luận án

2019

161
1
0

Phí lưu trữ

45 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CAM ĐOAN

LỜI CẢM ƠN

TÓM TẮT

1. CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU

1.1. Bối cảnh nghiên cứu và lý do chọn đề tài

1.2. Nền kinh tế và thị trường chứng khoán Việt Nam

1.3. Bối cảnh nghiên cứu

1.4. Lý do nghiên cứu

1.5. Vấn đề nghiên cứu

1.6. Mục tiêu và câu hỏi nghiên cứu

1.6.1. Mục tiêu nghiên cứu

1.6.2. Câu hỏi nghiên cứu

1.7. Dữ liệu và phương pháp nghiên cứu

1.8. Những đóng góp về khoa học và thực tiễn của đề tài

1.8.1. Đóng góp về khoa học

1.8.2. Đóng góp về thực tiễn

1.9. Kết cấu của đề tài

1.10. Tóm tắt chương 1

1.11. Suất sinh lợi

1.12. Khái niệm về độ biến thiên

1.13. Độ biến thiên không đổi và thay đổi theo thời gian

1.14. Mô hình hóa độ biến thiên. Mô hình ARCH (AutoRegressive Conditional Heteroscedasticity)

1.15. Mô hình GARCH

1.16. Các nghiên cứu trước về độ biến thiên và lan tỏa SSL và độ biến thiên

1.17. Miền thời gian và miền tần số

1.18. Biểu diễn dữ liệu trong miền tần số

1.19. Biến đổi Fourier

1.20. Phân tích dữ liệu trong miền tần số

1.21. Các nghiên cứu dựa trên phân tích trong miền tần số trong lĩnh vực kinh tế - tài chính

1.22. Tóm tắt chương 2

2. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1. Mô hình nghiên cứu. Thu thập dữ liệu

2.2. Phân tích tác động lan tỏa SSL giữa các thị trường

2.3. Kiểm định nhân quả Granger

2.4. Phân tích tác động lan tỏa bằng kiểm định nhân quả Granger

2.5. Phân tích tác động lan tỏa độ biến thiên giữa các thị trường

2.6. Ước lượng độ biến thiên bằng mô hình GARCH

2.7. Phân tích tác động lan tỏa độ biến thiên giữa các thị trường

2.8. Phân tích tác động lan tỏa SSL và độ biến thiên trong miền tần số

2.9. Phân tích nhân quả trong miền tần số

2.10. Phân tích lan tỏa SSL trong miền tần số

2.11. Phân tích lan tỏa độ biến thiên trong miền tần số

2.12. Tóm tắt chương 3

3. PHÂN TÍCH DỮ LIỆU VÀ KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

3.1. Các chỉ số thị trường trong thời kì nghiên cứu

3.2. SSL tại các thị trường và thống kê mô tả

3.3. Kiểm định tác động lan tỏa SSL giữa các TTCK

3.4. Kiểm định tính dừng

3.5. Kiểm định lan tỏa SSL giữa các TTCK

3.6. Kiểm định lan tỏa độ biến thiên giữa các TTCK

3.7. Kết quả ước lượng GARCH tại các thị trường

3.8. Kiểm định lan tỏa độ biến thiên giữa các TTCK

3.9. Lan tỏa SSL trong miền tần số

3.10. Lan tỏa độ biến thiên trong miền tần số

3.11. Thảo luận kết quả nghiên cứu

3.12. Tóm tắt chương 4

4. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU CHÍNH CỦA ĐỀ TÀI

4.1. Đóng góp về khoa học của đề tài

4.2. Hàm ý quản trị

4.3. Đóng góp mới của luận án

4.4. Hạn chế của đề tài và hướng nghiên cứu tiếp theo

4.4.1. Hạn chế của đề tài

4.4.2. Hướng nghiên cứu tiếp theo

4.5. Tóm tắt chương 5

DANH MỤC HÌNH VÀ ĐỒ THỊ

DANH MỤC ĐỒ THỊ

DANH MỤC BẢNG

DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT

Tóm tắt

I. Tổng quan nghiên cứu

Chương này giới thiệu tổng quát về nghiên cứu, bao gồm bối cảnh và lý do chọn đề tài. Thị trường chứng khoán (TTCK) là một kênh đầu tư quan trọng, ảnh hưởng đến quyết định đầu tư của các nhà đầu tư (NĐT). Việc phân tích suất sinh lợibiến thiên trên TTCK giúp NĐT hiểu rõ hơn về rủi ro và cơ hội đầu tư. Nghiên cứu này sẽ tập trung vào việc phân tích suất sinh lợibiến thiên giữa các TTCK, đặc biệt là sự lan tỏa từ các thị trường lớn như Mỹ, Nhật và Hàn Quốc đến TTCK Việt Nam.

1.1 Bối cảnh nghiên cứu

Việt Nam đã trải qua nhiều giai đoạn phát triển kinh tế, từ mô hình kế hoạch tập trung đến nền kinh tế thị trường. Sự phát triển của TTCK Việt Nam từ năm 2000 đến nay đã tạo ra nhiều cơ hội cho NĐT. Tuy nhiên, TTCK Việt Nam cũng chịu ảnh hưởng từ các biến động toàn cầu. Việc nghiên cứu suất sinh lợibiến thiên trong bối cảnh toàn cầu hóa là cần thiết để NĐT có thể đưa ra quyết định đầu tư chính xác hơn.

1.2 Lý do nghiên cứu

Mặc dù có nhiều nghiên cứu về suất sinh lợibiến thiên tại các TTCK khác nhau, nhưng chưa có nghiên cứu nào tập trung vào TTCK Việt Nam. Việc phân tích sự lan tỏa từ các TTCK lớn đến TTCK Việt Nam sẽ cung cấp thông tin quý giá cho NĐT và nhà quản lý. Nghiên cứu này sẽ giúp NĐT hiểu rõ hơn về rủi ro đầu tư và xây dựng chiến lược đầu tư chứng khoán hiệu quả.

II. Phân tích suất sinh lợi

Phân tích suất sinh lợi là một phần quan trọng trong nghiên cứu này. Suất sinh lợi có thể được đo lường thông qua sự biến đổi của giá cổ phiếu. Nghiên cứu sẽ sử dụng các mô hình như GARCH để ước lượng biến thiên của suất sinh lợi. Việc hiểu rõ về suất sinh lợi giúp NĐT đưa ra quyết định đầu tư hợp lý. Các yếu tố như tâm lý thị trường và xu hướng thị trường cũng sẽ được xem xét trong phân tích này.

2.1 Khái niệm về suất sinh lợi

Khái niệm suất sinh lợi được định nghĩa là tỷ lệ lợi nhuận mà NĐT nhận được từ khoản đầu tư. Suất sinh lợi có thể được tính toán dựa trên giá cổ phiếu và cổ tức. Nghiên cứu sẽ phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến suất sinh lợi, bao gồm thông tin thị trường và các yếu tố kinh tế vĩ mô. Việc nắm bắt được các yếu tố này sẽ giúp NĐT tối ưu hóa lợi nhuận từ khoản đầu tư của mình.

2.2 Phân tích biến thiên suất sinh lợi

Biến thiên của suất sinh lợi được đo lường thông qua độ lệch chuẩn. Mô hình GARCH sẽ được áp dụng để ước lượng biến thiên của suất sinh lợi. Nghiên cứu sẽ chỉ ra rằng biến thiên không chỉ phản ánh rủi ro mà còn là cơ hội cho NĐT. Việc phân tích biến thiên giúp NĐT hiểu rõ hơn về sự ổn định của suất sinh lợi và từ đó đưa ra quyết định đầu tư chính xác.

III. Phân tích dữ liệu và kết quả nghiên cứu

Chương này sẽ trình bày các phương pháp phân tích dữ liệu và kết quả nghiên cứu. Dữ liệu sẽ được thu thập từ các TTCK lớn và phân tích bằng các phương pháp định lượng. Kết quả cho thấy sự lan tỏa của suất sinh lợibiến thiên từ TTCK Mỹ sang TTCK Việt Nam là rõ ràng. Nghiên cứu cũng chỉ ra rằng các NĐT cần chú ý đến thông tin từ TTCK Mỹ để đưa ra quyết định đầu tư hiệu quả.

3.1 Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu sẽ sử dụng phương pháp định lượng để phân tích dữ liệu từ các TTCK. Các chỉ số chứng khoán sẽ được thu thập và phân tích bằng mô hình GARCH và kiểm định nhân quả Granger. Phương pháp này giúp xác định mối quan hệ giữa suất sinh lợibiến thiên giữa các TTCK. Kết quả sẽ cung cấp thông tin hữu ích cho NĐT trong việc ra quyết định đầu tư.

3.2 Kết quả nghiên cứu

Kết quả nghiên cứu cho thấy có sự lan tỏa rõ ràng của suất sinh lợibiến thiên từ TTCK Mỹ sang TTCK Việt Nam. Điều này cho thấy rằng các NĐT cần chú ý đến các biến động trên TTCK Mỹ để có thể dự đoán được xu hướng của TTCK Việt Nam. Nghiên cứu cũng chỉ ra rằng sự lan tỏa này có thể ảnh hưởng đến quyết định đầu tư của NĐT trong ngắn hạn và dài hạn.

25/01/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

mở đầu cho sự hình thành của TTCK Việt Nam. Đến năm 2007, Trung tâm được đổi tên thành Sở Giao dịch Chứng khoán TP. Hồ Chí Minh, viết tắt là HOSE (Hochiminh Stock Exchange). Sau hơn 17 năm phát triển, TTCK Việt Nam ngày càng phát triển 7 cả về quy mô lẫn số lượng công ty niêm yết và đóng vai trò ngày càng quan trọng trong nền kinh tế.6 minh họa chỉ số VN-Index, là chỉ số đại diện cho HOSE, trong giai đoạn từ 2001 đến 2016.

Đồ thị trên cho thấy sau giai đoạn tăng trưởng nóng từ khi mới hình thành đến đỉnh vào năm 2007, TTCK Việt Nam đã trải qua giai đoạn sụt giảm mạnh. Sau đó, TTCK Việt Nam dần phục hồi ổn định từ giai đoạn năm 2012 đến 2016. Như vậy, có thể thấy rằng TTCK Việt Nam từ năm 2012 bước vào thời kì phục hồi và phát triển ổn định sau giai đoạn sụt giảm mạnh.6: Chỉ số VN-Index theo năm giai đoạn 2001 - 2016 Nguồn: tác giả vẽ dựa trên nguồn dữ liệu DataStream Hoạt động trong nền kinh tế đang ngày càng hội nhập sâu hơn vào nền kinh tế thế giới, TTCK Việt Nam có thể chịu ảnh hưởng từ thay đổi của các TTCK thế giới. Mỹ là quốc gia có nền kinh tế lớn nhất thế giới và có khả năng tác động đến nhiều nền kinh tế khác trên toàn cầu, bao gồm cả Việt Nam.

Vì vậy, TTCK Việt Nam có khả năng sẽ bị tác động từ TTCK Mỹ.7 minh họa chỉ số S&P 500, một chỉ số 8 đại diện cho TTCK Mỹ. Từ đồ thị, ta thấy chỉ số này cũng bị sụt giảm trong thời kì từ 2007 đến 2009, sau đó phục hồi dần, trong đó phục hồi khá rõ nét từ giai đoạn 2012. Như vậy, có thể thấy TTCK Việt Nam có xu hướng di chuyển khá tương đồng với TTCK Mỹ trong giai đoạn phục hồi từ năm 2012 trở đi.7: Chỉ số S&P 500 theo năm giai đoạn 2001 - 2016 Nguồn: tác giả vẽ dựa trên nguồn dữ liệu DataStream 9 Đồ thị 1.8: Chỉ số Nikkei 225 theo năm giai đoạn 2001 - 2016 Nguồn: tác giả vẽ dựa trên nguồn dữ liệu DataStream Đồ thị 1.9: Chỉ số KOSPI theo năm giai đoạn 2001 - 2016 KOREA SE COMPOSITE (KOSPI) - PRICE INDEX 2500 2000 1500 1000 500 0 01/01/2013 01/01/2000 01/01/2001 01/01/2002 01/01/2003 01/01/2004 01/01/2005 01/01/2006 01/01/2007 01/01/2008 01/01/2009 01/01/2010 01/01/2011 01/01/2012 01/01/2014 01/01/2015 01/01/2016 Nguồn: tác giả vẽ dựa trên nguồn dữ liệu DataStream 10 Là nền kinh tế thuộc khu vực Đông Nam Á, TTCK Việt Nam còn có thể chịu tác động từ TTCK Nhật và Hàn Quốc, là các TTCK lớn của khu vực châu Á.9 minh họa sự thay đổi của chỉ số Nikkei 225 và KOSPI, là các chỉ số thị trường đại diện cho TTCK Nhật và Hàn Quốc. Đồ thị cũng cho thấy sau giai đoạn sụt giảm do hậu quả của khủng khoảng tài chính thế giới, chỉ số Nikkei 225 và KOSPI cũng bước vào thời kì phục hồi, bao gồm giai đoạn 2012 đến 2015.

Tóm lại, từ thực tiễn hội nhập của nền kinh tế Việt Nam cũng như dữ liệu mô tả xu hướng thay đổi tại các TTCK phát triển, TTCK Việt Nam có thể chịu tác động từ các chỉ số TTCK tại Mỹ, Nhật và Hàn Quốc. Ngoài ra, do các NĐT có thể đầu tư tại nhiều TTCK khác nhau trên thế giới, nghiên cứu ảnh hưởng lẫn nhau giữa các TTCK sẽ góp phần cung cấp các thông tin cần thiết cho các NĐT và nhà quản lý trong việc ra quyết định. Cụ thể hơn, nếu các TTCK chịu ảnh hưởng lẫn nhau, NĐT và nhà quản lý có thể dự báo sự thay đổi giá cổ phiếu tại một TTCK dựa vào các TTCK khác. Ngược lại, nếu một thị trường không chịu ảnh hưởng từ các thị trường nước ngoài, các NĐT tại nước ngoài có thể đa dạng hóa danh mục đầu tư thông qua đầu tư vào thị trường này nhằm giảm thiểu rủi ro.

Tuy nhiên, cho đến nay, tác giả chưa tìm được nghiên cứu nào đánh giá ảnh hưởng của các thị trường Mỹ, Nhật và Hàn Quốc lên TTCK Việt Nam. Vì vậy, nghiên cứu về ảnh hưởng của các TTCK Mỹ, Nhật và Hàn Quốc lên TTCK Việt Nam là cần thiết, góp phần cung cấp thông tin cho các NĐT cũng như nhà hoạch định chính sách có thêm cơ sở để ra các quyết định hợp lý. Bối cảnh nghiên cứu Một trong những nhân tố quan trọng trong quản trị doanh nghiệp là quản trị tài chính, trong đó có các quyết định đầu tư. TTCK là một kênh đầu tư phổ biến của các doanh nghiệp và cá nhân.

Vì vậy, TTCK là một thành tố quan trọng của thị trường tài chính và đóng vai trò rất quan trọng trong nền kinh tế. Suất sinh lợi (hay tỷ suất lợi nhuận) và rủi ro là những nhân tố quan trọng cần quan tâm đối với các NĐT trên TTCK. 11 Suất sinh lợi (SSL) được đo lường thông qua tỷ lệ thay đổi của các chỉ số thị trường hay giá cổ phiếu. Rủi ro có thể được định lượng thông qua độ biến thiên (volatility) của SSL, đo bằng độ lệch chuẩn có điều kiện của chuỗi SSL.

Ngoài ra, trong thực tế, các chuỗi thời gian tài chính thường có đặc điểm gọi là nhóm biến thiên (volatility clustering), nghĩa là độ biến thiên lớn thường có khuynh hướng theo sau độ biến thiên lớn, và độ biến thiên nhỏ thường có khuynh hướng theo sau độ biến thiên nhỏ, nghĩa là độ lệch chuẩn của thành phần sai số thay đổi theo thời gian. Hiện tượng này gọi là hiệu ứng GARCH (Generalised Autoregressive Conditional Heteroskedasticity). Mô hình GARCH (Bollerslev, 1986) đã mô hình hóa được hiện tượng này. Vì vậy, mô hình GARCH có vai trò then chốt trong đánh giá SSL và độ biến thiên SSL (volatility).

Trong bối cảnh toàn cầu hóa hiện nay, các hệ thống tài chính tại các nước trên thế giới sẽ có sự phụ thuộc và tác động qua lại lẫn nhau. Vì vậy, nghiên cứu về mối liên hệ về SSL và độ biến thiên giữa các TTCK sẽ giúp NĐT có thêm thông tin để dự báo lợi nhuận và rủi ro có thể gặp phải khi đầu tư cũng như có được chiến lược đa dạng hóa danh mục đầu tư (porfolio diversification) phù hợp. Lan tỏa (spillover) là khái niệm được sử dụng để đánh giá sự phụ thuộc lẫn nhau (interdependence) giữa các nền kinh tế. Sự phụ thuộc lẫn nhau (interdependence) này có nghĩa là các các sự kiện hay các biến động dù là của toàn cầu hay từng quốc gia, có thể lan truyền sang các nước khác bởi vì các nền kinh tế thường có các mối quan hệ về tài chính với nhau.

Nói cách khác, sự lan tỏa có nghĩa là sự lan truyền các biến động của thị trường từ nước này sang nước khác (Abou-Zaid, 2011). Với xu hướng toàn cầu hóa ngày càng diễn ra mạnh mẽ, các thị trường mới phát triển ngày càng đóng vai trò quan trọng trong nền kinh tế toàn cầu. Vì vậy, các nhà kinh tế không những chỉ quan tâm đến các thị trường phát triển mà còn chú ý đến các thị trường mới phát triển. Cụ thể, nghiên cứu mối liên hệ giữa nhóm thị trường phát triển và các thị trường mới phát triển sẽ đưa ra nhiều hàm ý quan trọng cho các doanh nghiệp, NĐT và các nhà quản lý chính sách.

Nếu các thị trường mới phát triển có mối 12 liên hệ yếu với các thị trường phát triển, nghĩa là các cú sốc hay sự thay đổi từ thị trường phát triển sẽ ít ảnh hưởng lên các thị trường mới phát triển, khi đó NĐT tại các thị trường phát triển có thể đa dạng hóa danh mục đầu tư thông qua đầu tư tại các thị trường này để giảm thiểu rủi ro (Li, 2007). Ngược lại, nếu các thị trường mới phát triển có mối liên hệ chặt chẽ với các thị trường phát triển, NĐT tại các thị trường phát triển nên tìm các thị trường khác để đa dạng hóa danh mục đầu tư nhằm giảm thiểu rủi ro, trong khi các NĐT tại thị trường mới phát triển có thể dự báo rủi ro dựa vào phân tích các biến động tại các thị trường phát triển và các nhà làm chính sách tại các thị trường kém phát triển hơn này cần chú ý hơn vào các biến động trên thị trường thế giới để quản trị rủi ro tại thị trường trong nước nhằm đảm bảo sự phát triển ổn định. Như vậy, có thể thấy rằng nghiên cứu về lan tỏa SSL và độ biến thiên đóng vai trò rất quan trọng, cung cấp thông tin cần thiết cho NĐT cũng như nhà quản lý chính sách, giúp họ ra quyết định chính xác hơn. Mặc dù đã có nhiều nghiên cứu đánh giá lan tỏa SSL và độ biến thiên từ thị trường phát triển sang các thị trường mới phát triển như Ng (2000), Miyakoshi (2003), Ergun & Nor (2010), Sakthivel, Bodkhe, & Kamaiah (2012), Kharchenko & Tzvetkov (2013), Nishimura, Tsutsui, & Hirayama (2015), Yarovaya, Brzeszczyński, & Lau (2016), Bahadur, Kothari, & Thagurathi (2016), Jebran, Chen, Ullah, & Mirza (2017), Ishfaq & Rehman (2018) nhưng theo tìm hiểu của tác giả thì vẫn chưa có nghiên cứu nào kiểm định tác động này tại TTCK Việt Nam.

Việc phân tích tác động lan tỏa từ các TTCK thế giới lên TTCK Việt Nam sẽ giúp các NĐT trong nước và ngoài nước có thêm thông tin để xây dựng chiến lược đầu tư và đa dạng hóa danh mục đầu tư phù hợp. Đồng thời, các nhà quản lý chính sách cũng có thêm cơ sở trong các quyết định quản lý của mình. Vì vậy, việc nghiên cứu tác động lan tỏa từ các TTCK thế giới và khu vực lên TTCK Việt Nam là cần thiết. Là nền kinh tế lớn nhất thế giới, Mỹ thường được xem là đại diện cho thị trường thế giới (Ng, 2000).

Dựa vào đó, có rất nhiều nghiên cứu thực nghiệm đã chỉ ra tác 13 động lan tỏa từ TTCK Mỹ sang các thị trường khác như các nghiên cứu của Hamao, Masulis, & Ng (1990), Ng (2000), Miyakoshi (2003), Ergun & Nor (2010) Sakthivel và cộng sự (2012), Kharchenko & Tzvetkov (2013), Yarovaya và cộng sự (2016). Như vậy, TTCK Mỹ có khả năng sẽ tác động lan tỏa đến TTCK Việt Nam. Ngoài ra, cũng theo Ng (2000), TTCK các nước còn có thể chịu tác động của chứng khoán khu vực. Nghiên cứu này đã chỉ ra Nhật có thể đại diện cho chứng khoán khu vực, và có tác động lan tỏa lên một số nước châu Á như Hong Kong, Hàn Quốc, Malaysia, Singapore, Đài Loan, và Thái Lan.

Từ đó, nhiều nghiên cứu khác cũng xác nhận tác động lan tỏa từ TTCK Nhật lên nhiều thị trường khác tại châu Á như Miyakoshi (2003), Sakthivel và cộng sự (2012), Bahadur và cộng sự (2016). Như vậy, là một quốc gia thuộc châu Á, TTCK Việt Nam có thể chịu tác động từ TTCK Nhật, đại diện cho TTCK khu vực châu Á.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Bài luận án "Luận Án Về Suất Sinh Lợi và Độ Biến Thiên Giữa Các Thị Trường Chứng Khoán" của tác giả Lê Đình Nghi, dưới sự hướng dẫn của Nguyễn Minh Kiều tại Đại học Mở Thành phố Hồ Chí Minh, tập trung vào việc phân tích suất sinh lợi và độ biến thiên của các thị trường chứng khoán. Nghiên cứu này không chỉ cung cấp cái nhìn sâu sắc về mối quan hệ giữa suất sinh lợi và độ biến thiên mà còn giúp các nhà đầu tư hiểu rõ hơn về các yếu tố ảnh hưởng đến quyết định đầu tư của họ. Đặc biệt, bài viết mang lại lợi ích cho những ai đang tìm kiếm thông tin chi tiết về cách thức hoạt động của thị trường chứng khoán và các yếu tố tác động đến hiệu suất đầu tư.

Để mở rộng thêm kiến thức của bạn về lĩnh vực này, bạn có thể tham khảo các tài liệu liên quan như Luận văn thạc sĩ về tác động của các yếu tố đến chỉ số giá chứng khoán VN-Index, nơi phân tích các yếu tố kinh tế vĩ mô ảnh hưởng đến chỉ số giá chứng khoán. Bên cạnh đó, Nghiên cứu tác động của tăng trưởng lợi nhuận tới lợi suất đầu tư cổ phiếu trên thị trường chứng khoán Việt Nam cũng sẽ cung cấp thêm thông tin về mối liên hệ giữa tăng trưởng lợi nhuận và lợi suất đầu tư. Cuối cùng, bạn có thể tìm hiểu thêm về Nghiên cứu nhân tố tác động đến tính thanh khoản cổ phiếu niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam, giúp bạn hiểu rõ hơn về các yếu tố ảnh hưởng đến tính thanh khoản trong đầu tư chứng khoán.