mở đầu cho sự hình thành của TTCK Việt Nam. Đến năm 2007, Trung tâm được đổi tên thành Sở Giao dịch Chứng khoán TP. Hồ Chí Minh, viết tắt là HOSE (Hochiminh Stock Exchange). Sau hơn 17 năm phát triển, TTCK Việt Nam ngày càng phát triển 7 cả về quy mô lẫn số lượng công ty niêm yết và đóng vai trò ngày càng quan trọng trong nền kinh tế.6 minh họa chỉ số VN-Index, là chỉ số đại diện cho HOSE, trong giai đoạn từ 2001 đến 2016.
Đồ thị trên cho thấy sau giai đoạn tăng trưởng nóng từ khi mới hình thành đến đỉnh vào năm 2007, TTCK Việt Nam đã trải qua giai đoạn sụt giảm mạnh. Sau đó, TTCK Việt Nam dần phục hồi ổn định từ giai đoạn năm 2012 đến 2016. Như vậy, có thể thấy rằng TTCK Việt Nam từ năm 2012 bước vào thời kì phục hồi và phát triển ổn định sau giai đoạn sụt giảm mạnh.6: Chỉ số VN-Index theo năm giai đoạn 2001 - 2016 Nguồn: tác giả vẽ dựa trên nguồn dữ liệu DataStream Hoạt động trong nền kinh tế đang ngày càng hội nhập sâu hơn vào nền kinh tế thế giới, TTCK Việt Nam có thể chịu ảnh hưởng từ thay đổi của các TTCK thế giới. Mỹ là quốc gia có nền kinh tế lớn nhất thế giới và có khả năng tác động đến nhiều nền kinh tế khác trên toàn cầu, bao gồm cả Việt Nam.
Vì vậy, TTCK Việt Nam có khả năng sẽ bị tác động từ TTCK Mỹ.7 minh họa chỉ số S&P 500, một chỉ số 8 đại diện cho TTCK Mỹ. Từ đồ thị, ta thấy chỉ số này cũng bị sụt giảm trong thời kì từ 2007 đến 2009, sau đó phục hồi dần, trong đó phục hồi khá rõ nét từ giai đoạn 2012. Như vậy, có thể thấy TTCK Việt Nam có xu hướng di chuyển khá tương đồng với TTCK Mỹ trong giai đoạn phục hồi từ năm 2012 trở đi.7: Chỉ số S&P 500 theo năm giai đoạn 2001 - 2016 Nguồn: tác giả vẽ dựa trên nguồn dữ liệu DataStream 9 Đồ thị 1.8: Chỉ số Nikkei 225 theo năm giai đoạn 2001 - 2016 Nguồn: tác giả vẽ dựa trên nguồn dữ liệu DataStream Đồ thị 1.9: Chỉ số KOSPI theo năm giai đoạn 2001 - 2016 KOREA SE COMPOSITE (KOSPI) - PRICE INDEX 2500 2000 1500 1000 500 0 01/01/2013 01/01/2000 01/01/2001 01/01/2002 01/01/2003 01/01/2004 01/01/2005 01/01/2006 01/01/2007 01/01/2008 01/01/2009 01/01/2010 01/01/2011 01/01/2012 01/01/2014 01/01/2015 01/01/2016 Nguồn: tác giả vẽ dựa trên nguồn dữ liệu DataStream 10 Là nền kinh tế thuộc khu vực Đông Nam Á, TTCK Việt Nam còn có thể chịu tác động từ TTCK Nhật và Hàn Quốc, là các TTCK lớn của khu vực châu Á.9 minh họa sự thay đổi của chỉ số Nikkei 225 và KOSPI, là các chỉ số thị trường đại diện cho TTCK Nhật và Hàn Quốc. Đồ thị cũng cho thấy sau giai đoạn sụt giảm do hậu quả của khủng khoảng tài chính thế giới, chỉ số Nikkei 225 và KOSPI cũng bước vào thời kì phục hồi, bao gồm giai đoạn 2012 đến 2015.
Tóm lại, từ thực tiễn hội nhập của nền kinh tế Việt Nam cũng như dữ liệu mô tả xu hướng thay đổi tại các TTCK phát triển, TTCK Việt Nam có thể chịu tác động từ các chỉ số TTCK tại Mỹ, Nhật và Hàn Quốc. Ngoài ra, do các NĐT có thể đầu tư tại nhiều TTCK khác nhau trên thế giới, nghiên cứu ảnh hưởng lẫn nhau giữa các TTCK sẽ góp phần cung cấp các thông tin cần thiết cho các NĐT và nhà quản lý trong việc ra quyết định. Cụ thể hơn, nếu các TTCK chịu ảnh hưởng lẫn nhau, NĐT và nhà quản lý có thể dự báo sự thay đổi giá cổ phiếu tại một TTCK dựa vào các TTCK khác. Ngược lại, nếu một thị trường không chịu ảnh hưởng từ các thị trường nước ngoài, các NĐT tại nước ngoài có thể đa dạng hóa danh mục đầu tư thông qua đầu tư vào thị trường này nhằm giảm thiểu rủi ro.
Tuy nhiên, cho đến nay, tác giả chưa tìm được nghiên cứu nào đánh giá ảnh hưởng của các thị trường Mỹ, Nhật và Hàn Quốc lên TTCK Việt Nam. Vì vậy, nghiên cứu về ảnh hưởng của các TTCK Mỹ, Nhật và Hàn Quốc lên TTCK Việt Nam là cần thiết, góp phần cung cấp thông tin cho các NĐT cũng như nhà hoạch định chính sách có thêm cơ sở để ra các quyết định hợp lý. Bối cảnh nghiên cứu Một trong những nhân tố quan trọng trong quản trị doanh nghiệp là quản trị tài chính, trong đó có các quyết định đầu tư. TTCK là một kênh đầu tư phổ biến của các doanh nghiệp và cá nhân.
Vì vậy, TTCK là một thành tố quan trọng của thị trường tài chính và đóng vai trò rất quan trọng trong nền kinh tế. Suất sinh lợi (hay tỷ suất lợi nhuận) và rủi ro là những nhân tố quan trọng cần quan tâm đối với các NĐT trên TTCK. 11 Suất sinh lợi (SSL) được đo lường thông qua tỷ lệ thay đổi của các chỉ số thị trường hay giá cổ phiếu. Rủi ro có thể được định lượng thông qua độ biến thiên (volatility) của SSL, đo bằng độ lệch chuẩn có điều kiện của chuỗi SSL.
Ngoài ra, trong thực tế, các chuỗi thời gian tài chính thường có đặc điểm gọi là nhóm biến thiên (volatility clustering), nghĩa là độ biến thiên lớn thường có khuynh hướng theo sau độ biến thiên lớn, và độ biến thiên nhỏ thường có khuynh hướng theo sau độ biến thiên nhỏ, nghĩa là độ lệch chuẩn của thành phần sai số thay đổi theo thời gian. Hiện tượng này gọi là hiệu ứng GARCH (Generalised Autoregressive Conditional Heteroskedasticity). Mô hình GARCH (Bollerslev, 1986) đã mô hình hóa được hiện tượng này. Vì vậy, mô hình GARCH có vai trò then chốt trong đánh giá SSL và độ biến thiên SSL (volatility).
Trong bối cảnh toàn cầu hóa hiện nay, các hệ thống tài chính tại các nước trên thế giới sẽ có sự phụ thuộc và tác động qua lại lẫn nhau. Vì vậy, nghiên cứu về mối liên hệ về SSL và độ biến thiên giữa các TTCK sẽ giúp NĐT có thêm thông tin để dự báo lợi nhuận và rủi ro có thể gặp phải khi đầu tư cũng như có được chiến lược đa dạng hóa danh mục đầu tư (porfolio diversification) phù hợp. Lan tỏa (spillover) là khái niệm được sử dụng để đánh giá sự phụ thuộc lẫn nhau (interdependence) giữa các nền kinh tế. Sự phụ thuộc lẫn nhau (interdependence) này có nghĩa là các các sự kiện hay các biến động dù là của toàn cầu hay từng quốc gia, có thể lan truyền sang các nước khác bởi vì các nền kinh tế thường có các mối quan hệ về tài chính với nhau.
Nói cách khác, sự lan tỏa có nghĩa là sự lan truyền các biến động của thị trường từ nước này sang nước khác (Abou-Zaid, 2011). Với xu hướng toàn cầu hóa ngày càng diễn ra mạnh mẽ, các thị trường mới phát triển ngày càng đóng vai trò quan trọng trong nền kinh tế toàn cầu. Vì vậy, các nhà kinh tế không những chỉ quan tâm đến các thị trường phát triển mà còn chú ý đến các thị trường mới phát triển. Cụ thể, nghiên cứu mối liên hệ giữa nhóm thị trường phát triển và các thị trường mới phát triển sẽ đưa ra nhiều hàm ý quan trọng cho các doanh nghiệp, NĐT và các nhà quản lý chính sách.
Nếu các thị trường mới phát triển có mối 12 liên hệ yếu với các thị trường phát triển, nghĩa là các cú sốc hay sự thay đổi từ thị trường phát triển sẽ ít ảnh hưởng lên các thị trường mới phát triển, khi đó NĐT tại các thị trường phát triển có thể đa dạng hóa danh mục đầu tư thông qua đầu tư tại các thị trường này để giảm thiểu rủi ro (Li, 2007). Ngược lại, nếu các thị trường mới phát triển có mối liên hệ chặt chẽ với các thị trường phát triển, NĐT tại các thị trường phát triển nên tìm các thị trường khác để đa dạng hóa danh mục đầu tư nhằm giảm thiểu rủi ro, trong khi các NĐT tại thị trường mới phát triển có thể dự báo rủi ro dựa vào phân tích các biến động tại các thị trường phát triển và các nhà làm chính sách tại các thị trường kém phát triển hơn này cần chú ý hơn vào các biến động trên thị trường thế giới để quản trị rủi ro tại thị trường trong nước nhằm đảm bảo sự phát triển ổn định. Như vậy, có thể thấy rằng nghiên cứu về lan tỏa SSL và độ biến thiên đóng vai trò rất quan trọng, cung cấp thông tin cần thiết cho NĐT cũng như nhà quản lý chính sách, giúp họ ra quyết định chính xác hơn. Mặc dù đã có nhiều nghiên cứu đánh giá lan tỏa SSL và độ biến thiên từ thị trường phát triển sang các thị trường mới phát triển như Ng (2000), Miyakoshi (2003), Ergun & Nor (2010), Sakthivel, Bodkhe, & Kamaiah (2012), Kharchenko & Tzvetkov (2013), Nishimura, Tsutsui, & Hirayama (2015), Yarovaya, Brzeszczyński, & Lau (2016), Bahadur, Kothari, & Thagurathi (2016), Jebran, Chen, Ullah, & Mirza (2017), Ishfaq & Rehman (2018) nhưng theo tìm hiểu của tác giả thì vẫn chưa có nghiên cứu nào kiểm định tác động này tại TTCK Việt Nam.
Việc phân tích tác động lan tỏa từ các TTCK thế giới lên TTCK Việt Nam sẽ giúp các NĐT trong nước và ngoài nước có thêm thông tin để xây dựng chiến lược đầu tư và đa dạng hóa danh mục đầu tư phù hợp. Đồng thời, các nhà quản lý chính sách cũng có thêm cơ sở trong các quyết định quản lý của mình. Vì vậy, việc nghiên cứu tác động lan tỏa từ các TTCK thế giới và khu vực lên TTCK Việt Nam là cần thiết. Là nền kinh tế lớn nhất thế giới, Mỹ thường được xem là đại diện cho thị trường thế giới (Ng, 2000).
Dựa vào đó, có rất nhiều nghiên cứu thực nghiệm đã chỉ ra tác 13 động lan tỏa từ TTCK Mỹ sang các thị trường khác như các nghiên cứu của Hamao, Masulis, & Ng (1990), Ng (2000), Miyakoshi (2003), Ergun & Nor (2010) Sakthivel và cộng sự (2012), Kharchenko & Tzvetkov (2013), Yarovaya và cộng sự (2016). Như vậy, TTCK Mỹ có khả năng sẽ tác động lan tỏa đến TTCK Việt Nam. Ngoài ra, cũng theo Ng (2000), TTCK các nước còn có thể chịu tác động của chứng khoán khu vực. Nghiên cứu này đã chỉ ra Nhật có thể đại diện cho chứng khoán khu vực, và có tác động lan tỏa lên một số nước châu Á như Hong Kong, Hàn Quốc, Malaysia, Singapore, Đài Loan, và Thái Lan.
Từ đó, nhiều nghiên cứu khác cũng xác nhận tác động lan tỏa từ TTCK Nhật lên nhiều thị trường khác tại châu Á như Miyakoshi (2003), Sakthivel và cộng sự (2012), Bahadur và cộng sự (2016). Như vậy, là một quốc gia thuộc châu Á, TTCK Việt Nam có thể chịu tác động từ TTCK Nhật, đại diện cho TTCK khu vực châu Á.