Chương 1. Giới thiệu: tóm lược vấn đề nghiên cứu, mục tiêu nghiên cứu, câu hỏi ngiên cứu, đối tượng nghiên cứu, phạm vi nghiên cứu, phương pháp nghiên cứu, mô hình nghiên cứu, những điểm nổi bậc của luận văn và kết cấu của luận văn. Cơ sở lý thuyết: trình bày các khái niệm, cơ sở lý luận về sự khác biệt tiền lương của người lao động khu vực kinh tế chính thức và phi chính thức, các nghiên cứu trước và mô hình nghiên cứu đề xuất. Phương pháp nghiên cứu: trình bày phương pháp nghiên cứu và số liệu nghiên cứu.
Giới thiệu sơ lược về quy trình và mô hình nghiên cứu. Phân tích kết quả nghiên cứu: trình bày kết quả nghiên cứu, phân tích các kết quả nghiên cứu từ các mô hình. Kết luận: trình bày các kết luận, các khuyến nghị chính sách và những hạn chế của luận văn. 8 Chương 2 CƠ SỞ LÝ THUYẾT 2.
Khu vực kinh tế phi chính thức Sự khác nhau giữa khu vực kinh tế chính thức và khu vực kinh tế phi chính thức là mờ nhạt (Marc Bacchetta và ctg, 2013). Các khái niệm về khu vực kinh tế phi chính thức thường mâu thuẫn lẫn nhau giữa các nhà nghiên cứu kinh tế-xã hội nói chung và các nhà thống kê lao động nói riêng và chưa có một khái niệm nào được chấp thuận một cách rộng rãi. Kể từ khi được đưa vào sử dụng từ những năm 1970, khái niệm kinh tế phi chính thức đã dấy lên các cuộc tranh luận sôi nổi. Cho đến những năm 1930, các quan điểm khác nhau có thể được phân thành ba trường phái chính: trường phái nhị nguyên, trường phái cấu trúc và trường phái pháp gia.
Trong bài viết về “Toàn cầu hóa và việc làm phi chính thức tại các nước đang phát triển”, 3 trường phái về khu vực kinh tế phi chính thức này được Marc Bacchetta và ctg (2013) tóm lược lại như sau: Trường phái nhị nguyên: được phát triển vào những thập niên 1960 và 1970, có nguồn gốc lý thuyết từ các nghiên cứu của Lewis (1954) và Harris & Todaro (1970). Các nghiên cứu nhị nguyên coi khu vực kinh tế phi chính thức là phân khúc thấp kém của thị trường lao động hai phân khúc, không có liên kết trực tiếp với khu vực kinh tế chính thức. Đó là khu vực rơi rớt lại, phát sinh trong quá trình chuyển đổi nền kinh tế đang phát triển và tồn tại bởi vì khu vực kinh tế chính thức không cung cấp đủ cơ hội làm việc cho một bộ phận lực lượng lao động. Cùng với tốc độ tăng trưởng kinh tế và quá trình chuyển đổi, khu vực kinh tế phi chính thức được dự báo sẽ hòa nhập vào khu vực chính thức.
Trường phái cấu trúc: trường phái này nhấn mạnh sự phân cấp sản xuất và các mối liên kết và phụ thuộc lẫn nhau giữa khu vực chính thức và phi chính thức (Moser, 1978). Trường phái này nhận thấy khu vực phi chính thức bao gồm các cơ sở sản xuất hoặc kinh doanh nhỏ và người lao động không đăng ký, chuyên làm thuê cho các công ty tư bản lớn. Các cơ sở này và người lao động không đăng ký cung cấp lao 9 động và đầu vào rẻ cho các công ty lớn. Theo quan điểm cấu trúc, tốc độ tăng trưởng khó có thể loại bỏ các mối quan hệ sản xuất phi chính thức, vốn gắn chặc với sự phát triển tư bản chủ nghĩa.
Theo quan điểm này, doanh nghiệp hiện đại phản ứng với toàn cầu hóa bằng cách xây dựng các hệ thống sản xuất linh hoạt hơn và mở rộng phương pháp gia công nhằm cắt giảm chi phí. Việc thiết lập mạng lưới toàn cầu như vậy thường đòi hỏi sự linh hoạt mà chỉ có khu vực kinh tế phi chính thức mới có thể cung cấp được. Trường phái pháp lí: hay còn gọi là trường phái chính thống, đại diện là De Soto trong những năm 1980 và 1990, coi khu vực kinh tế phi chính thức gồm các doanh nghiệp nhỏ, những người lựa chọn phương thức hoạt động phi chính thức để giảm chi phí đăng kí. Chừng nào các chi phí đăng ký vượt quá các lợi ích tham gia khu vực chính thức, thì các cơ sở quy mô nhỏ sẽ vẫn chọn hoạt động phi chính thức.
Như vậy, trong tương lai các cơ sở này có nhiều tiềm năng tăng trưởng và cải thiện tiêu chuẩn nếu chính phủ cải cách chính sách và giảm gánh nặng thuế. Khác với trường phái nhị nguyên và cấu trúc, trường phái này cho thấy tính chất phi chính thức có thể xuất phát từ sự tự nguyện từ phía người lao động và các cơ sở dựa trên các phân tích về chi phí – lợi ích. Kỳ hội nghị lần thứ 15 của ICLS (ILO, 2000) định nghĩa dân số làm việc trong khu vực phi chính thức là tất cả những người tại thời kỳ tham khảo cho trước được tuyển dụng bởi ít nhất một doanh nghiệp thuộc khu vực phi chính thức, không kể tình trạng việc làm của họ như thế nào và đó là công việc chính hay công việc thứ hai của họ. Một người có thể có hai hoặc nhiều hơn hai công việc tại thời kỳ tham khảo cho trước, và có thể tất cả, một số hoặc không có công việc nào được thực hiện trong các doanh nghiệp khu vực phi chính thức.
Khái niệm trên về dân số làm việc trong khu vực phi chính thức tạo ra sự khác biệt giữa người được tuyển dụng và việc làm. Mặc dù được nằm trong thuật ngữ người được tuyển dụng, khái niệm dân số làm việc trong 10 khu vực phi chính thức ám chỉ thực tế công việc ấy phải thuộc doanh nghiệp khu vực phi chính thức. Kỳ hội nghị lần thứ 15 cũng khuyến nghị rằng, nếu có thể, dân số làm việc trong khu vực phi chính thức nên được phân tổ chi tiết thành hai nhóm: nhóm những người chỉ làm việc trong khu vực phi chính thức; và nhóm những người làm việc cả trong và ngoài khu vực phi chính thức. Nhóm thứ hai nên được phân chi tiết hơn thành hai nhóm: nhóm những người có công việc chính thuộc khu vực phi chính thức, và nhóm những người có công việc thứ hai thuộc khu vực phi chính thức.
Vì thế, có những phân tổ về dân số làm việc trong khu vực phi chính thức được gợi ý như sau: - Những người chỉ làm việc trong khu vực phi chính thức - Những người làm việc cả trong và ngoài khu vực phi chính thức - Những người có công việc chính thuộc khu vực phi chính thức - Những người có công việc thứ hai thuộc khu vực phi chính thức Nếu tổng dân số làm việc được phân tổ riêng thành nhóm lao động làm việc trong và nhóm lao động làm việc ngoài khu vực phi chính thức, những người làm việc cả trong và ngoài khu vực phi chính thức nên được phân loại thành một nhóm riêng. Theo ILO (2006): khu vực kinh tế phi chính thức được hiểu ở đây sẽ gồm tất cả các hộ sản xuất kinh doanh chưa có tư cách pháp nhân, chưa có đăng ký kinh doanh hoạt động trong lĩnh vực phi nông, lâm nghiệp, thủy sản nhưng vẫn sản xuất các hàng hóa dịch vụ để bán hoặc trao đổi trên thị trường. Theo cách hiểu quốc tế, khu vực phi chính thức là tất cả các cơ sở SXKD không thực hiện đăng ký kinh doanh. Các hoạt động nông nghiệp không tính vào khu vực này do bản chất đặc thù của nó.
Trong giáo trình Thống kê kinh tế của trường Đại học kinh tế Quốc Dân năm 2013, Phan Công Nghĩa và Bùi Đức Triệu đã định nghĩa một cách ngắn gọn về khu vực kinh tế phi chính thức của nước ta theo quan điểm của Hệ thống tài khoản quốc gia (SNA) như sau: “Khu vực phi chính thức bao gồm những đơn vị kinh tế dạng hộ 11 gia đình sản xuất ra sản phẩm vật chất và dịch vụ không đang ký tư cách pháp nhân”. Theo đó, khu vực phi chính thức ở Việt Nam bao gồm: - Hộ kinh doanh nhỏ không phải đăng ký kinh doanh theo quy định của pháp luật; - Hộ sản xuất kinh doanh theo Luật phải đăng ký kinh doanh nhưng không đăng ký kinh doanh; - Các doanh nghiệp, theo Luật phải đăng ký kinh doanh nhưng không đăng ký kinh doanh. Trong phạm vi của luận văn này, khu vực kinh tế phi chính thức ở thành phố Hồ Chí Minh bao gồm: - Hộ kinh doanh nhỏ, lẻ không cần phải đăng ký kinh doanh theo quy định của pháp luật; - Hộ sản xuất kinh doanh theo Luật phải đăng ký kinh doanh nhưng không đăng ký kinh doanh. Theo khoản 1 Điều 3 Nghị định 39/2007/NĐ-CP, cá nhân hoạt động thương mại là cá nhân tự mình hàng ngày thực hiện một, một số hoặc toàn bộ các hoạt động được pháp luật cho phép về mua bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ và các hoạt động nhằm mục đích sinh lợi khác nhưng không thuộc đối tượng phải đăng ký kinh doanh theo quy định của pháp luật về đăng ký kinh doanh và không gọi là thương nhân theo quy định của Luật thương mại 2005.
Cụ thể bao gồm những cá nhân thực hiện các hoạt động thương mại sau đây: a) Buôn bán rong (buôn bán dạo) là các hoạt động mua, bán không có địa điểm cố định (mua rong, bán rong hoặc vừa mua rong vừa bán rong), bao gồm cả việc nhận sách báo, tạp chí, văn hóa phẩm của các thương nhân được phép kinh doanh các sản phẩm này theo quy định của pháp luật để bán rong; b) Buôn bán vặt là hoạt động mua bán những vật dụng nhỏ lẻ có hoặc không có địa điểm cố định; 12 c) Bán quà vặt là hoạt động bán quà bánh, đồ ăn, nước uống (hàng nước) có hoặc không có địa điểm cố định; d) Buôn chuyến là hoạt động mua hàng hóa từ nơi khác về theo từng chuyến để bán cho người mua buôn hoặc người bán lẻ; đ) Thực hiện các dịch vụ: đánh giày, bán vé số, chữa khóa, sửa chữa xe, trông giữ xe, rửa xe, cắt tóc, vẽ tranh, chụp ảnh và các dịch vụ khác có hoặc không có địa điểm cố định; e) Các hoạt động thương mại một cách độc lập, thường xuyên không phải đăng ký kinh doanh khác. Như vậy, nếu cá nhân hoạt động thương mại thuộc một trong các trường hợp trên thì không phải đăng ký kinh doanh.