Mở đầu Chương này giới thiệu sơ lược về đề tài nghiên cứu, nêu rõ lý do hình thành nên đề tài, đưa ra mục tiêu và câu hỏi nghiên cứu, phương pháp và đối tượng nghiên cứu, ý nghĩa nghiên cứu và giới thiệu sơ lược kết cấu đề tài. • Chương 2: Tổng quan cơ sở lý thuyết và các nghiên cứu trước Đây là chương trình bày các lý thuyết, mô hình, các nghiên cứu trước làm cơ sở cho các lập luận trong luận văn này. Đưa ra các yếu tố ảnh hưởng đến khả năng có việc làm của sinh viên, đồng thời đề xuất mô hình nghiên cứu. • Chương 3: Phương pháp nghiên cứu Chương này đưa ra một quy trình nghiên cứu cụ thể từ nghiên cứu sơ bộ (định tính) đến nghiên cứu chính thức (định lượng).
Đồng thời tiến hành xây dựng thang đo các yếu tố ảnh hưởng và thang đo khả năng có việc làm của sinh viên. • Chương 4: Kết quả nghiên cứu Chương này sẽ trình bày kết quả phân tích dữ liệu sau khi đã thu thập xong. Các bước phân tích gồm: đặc điểm mẫu nghiên cứu, kiểm định thang đo thông qua phương pháp hệ số tin cậy Cronbach’s Alpha và phân tích khám phá EFA, kiểm định và đưa ra kết quả kiểm định của mô hình nghiên cứu và giả thuyết nghiên cứu bằng phương pháp phân tích hồi quy, kiểm định trung bình tổng thể. Các phương pháp kiểm định trên được thực hiện thông qua phần mềm SPSS.
• Chương 5: Kết luận và kiến nghị Nội dung chương này sẽ tóm tắt lại kết quả mới vừa phát hiện được trong quá trình phân tích dữ liệu, từ đó đưa ra hàm ý chính sách nhằm nâng cao cơ hội có việc làm cho sinh viên mới ra trường trên địa bàn nghiên cứu. Cuối cùng là phần hạn chế của bài nghiên cứu và hướng nghiên cứu tiếp theo. 7 CHƯƠNG 2: TỔNG QUAN CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ CÁC NGHIÊN CỨU TRƯỚC Trong chương 2, tác giả trình bày cơ sở khoa học thực tiễn, lý thuyết và mô hình nghiên cứu của đề tài. KHÁI NIỆM KHẢ NĂNG CÓ VIỆC LÀM 2.
Việc làm Theo tổ chức lao động Quốc tế (ILO) (1983) “Người có việc làm là những người làm việc hoặc những người tham gia vào các hoạt động mang tính chất tự tạo việc làm vì lợi ích hay vì thu nhập gia đình, không được nhận tiền công hay nhận hiện vật”. Theo Bộ luật lao động của nước CHXHCN Việt Nam đã đưa ra khái niệm về việc làm có tính thống nhất và bao quát cao: “ Mọi hoạt động lao động tạo ra thu nhập, không bị pháp luật cấm đều được thừa nhận là việc làm.” “Việc làm” là một phạm trù tổng hợp liên kết các quá trình kinh tế - xã hội và nhân khẩu. Khái niệm “việc làm” và khái niệm “lao động” liên quan chặt chẽ với nhau nhưng không hoàn toàn giống nhau. Có thể hiểu, Việc làm là những dạng hoạt động có ích, không bị luật pháp nghiêm cấm nhằm đem lại thu nhập cho bản thân, gia đình.
Việc làm là khái niệm chỉ hoạt động thực tiễn của con người, là hoạt động chỉ dành cho con người và do con người thực hiện với các điều kiện vật chất, khoa học, kỹ thuật và công nghệ tương ứng hay nói cách khác, đó là nhu cầu sử dụng sức lao động của con người. Có thể hiểu, Việc làm là những dạng hoạt động có ích, không bị luật pháp nghiêm cấm nhằm đem lại thu nhập cho bản thân, gia đình. Theo Nguyễn Quang Thiều (1996), việc làm là trạng thái phù hợp giữa sức lao động và tư liệu sản xuất, tức là các điều kiện cần thiết về sử dụng sức lao động đó. Theo quan niệm này, thì việc làm chính là sự phù hợp của các điều kiện vật chất, kỹ thuật,… phù hợp vơi sức lao động của con người trong quá trình thực hiện hoạt động lao động, để sử dụng sức lao động.
Như vậy cách hiểu này tương đối phù hợp với sự 8 phát triển của công nghệ, một yếu tố đóng góp chủ yếu vào tư liệu sản xuất, sức lao động của người lao động phải bắt buộc phù hợp với trình độ của công nghệ được áp dụng trong quá trình sản xuất, kinh doanh của các doanh nghiệp. Đương nhiên, nếu người lao động không làm chủ được công nghệ thì sẽ bị đào thải khỏi dây chuyền sản xuất, kinh doanh. Có thể phân loại việc làm thành hai loại, dựa trên các tiêu chí chủ yếu như, mức độ sử dụng thời gian lao động, mức thu nhập và năng suất lao động: Việc làm đầy đủ: Là những công việc sử dụng đầy đủ thời gian lao động theo chế độ và mang lại thu nhập, mức thu nhập không thấp hơn mức tiền lương tối thiểu theo quy định của Pháp luật. Người lao động trong trường hợp này phải là những người có năng lực làm chủ công nghệ và lao động với hiệu suất cao.
Việc làm không đầy đủ: Là trạng thái trung gian giữa có việc làm và thất nghiệp. Đó là trạng thái có việc làm nhưng do nguyên nhân khách quan ngoài ý muốn của người lao động, họ phải làm không hết thời gian theo quy định và có thu nhập thấp hơn mức tiền lương tối thiểu. Trong trường hợp này, có thể doanh nghiệp có năng lực cạnh tranh thấp do sử dụng công nghệ lạc hậu, hoặc có sử dụng công nghệ cao nhưng năng lực làm chủ công nghệ của người lao động thấp. Vì nhiều lý do, doanh nghiệp không thể đào thải người lao động mà vẫn phải sử dụng họ.
Khả năng có việc làm Cơ hội việc làm là hoàn cảnh thuận lợi để có cơ hội tốt cho sự thăng tiến hay tiến triển trong sự nghiệp. Đa số các công ty đều đưa ra nhiều cơ hội đa dạng cho sinh viên mới tốt nghiệp, lý do là các nhà tuyển dụng muốn cho phép các cá nhân để xây dựng trên kiến thức, kỹ năng của họ và lợi ích, và khởi động một nghề nghiệp xứng đáng. Các công ty tạo ra cơ hội việc làm và sinh viên mới tốt nghiệp nhận được cơ hội công việc nếu họ có đủ điều kiện để đáp ứng nhu cầu sử dụng lao động đó. Khả năng có việc làm là khả năng người lao động có được một việc làm sử dụng đầy đủ thời gian lao động theo chế độ và mang lại thu nhập, mức thu nhập không thấp hơn mức tiền lương tối thiểu theo quy định của Pháp luật.
Người lao động trong trường hợp này phải là những người có năng lực làm chủ công nghệ và lao động với 9 hiệu suất cao. Ngoài ra, định nghĩa khả năng có việc làm còn được hiểu theo nghĩa mở rộng là cơ hội có được một việc làm tốt hơn hay khả năng thăng tiến, phát triển sự nghiệp (Ali và Fereshteh, 2010). Theo Fang và cộng sự (2004), khả năng có việc làm được đo lường thông qua cảm nhận về việc họ có dễ dàng kiếm được một công việc phù hợp hay công việc hiện tại có đáp ứng được mục tiêu nghề nghiệp mà họ đặt ra, việc tìm kiếm một công việc phù hợp với ngành học khá dễ dàng và họ cảm thấy hài lòng với công việc hiện tại. TỔNG QUAN VỀ THỊ TRƯỜNG LAO ĐỘNG TP HCM 2.
Thực trạng thị trường lao động TP HCM năm 2015 Sinh viên trường ĐH Mở đến từ khắp nơi và tìm việc làm ở hầu hết các tỉnh thành. Tuy nhiên đa số sau khi tốt nghiệp sẽ ở lại TP HCM để phát triển sự nghiệp vì đây là một môi trường năng động, đa dạng về việc làm và thu hút rất nhiều nguồn đầu tư. TP HCM dễ dàng đáp ứng nhu cầu việc làm cũng như việc học lên bậc cao hơn. Nền kinh tế thành phố tăng trưởng khá, các lĩnh vực công nghiệp, thương mại tiếp tục tăng trưởng đóng góp đáng kể vào tăng trưởng GDP của thành phố, điều này tác động tích cực đến thị trường lao động, nhu cầu tuyển dụng của doanh nghiệp trong 06 tháng cuối năm 2015 tăng 24,02% so với 06 tháng đầu năm 2015; tăng 5,96% so với 06 tháng cuối năm 2014.
Cuối năm 2015, chính quyền thành phố tiếp tục đẩy mạnh cải thiện môi trường kinh doanh; tăng cường tiếp xúc, nắm bắt khó khăn, vướng mắc của doanh nghiệp, có biện pháp hỗ trợ doanh nghiệp nâng cao năng lực cạnh tranh, thúc đẩy đổi mới công nghệ, đầu tư chiều sâu để tăng năng suất, chất lượng hoạt động; các doanh nghiệp tiếp tục triển khai các điểm bán hàng bình ổn giá, đẩy mạnh tiến độ hoàn thành các đơn đặt hàng, thị trường bán lẻ phát triển sôi động là nguyên nhân chính dẫn đến việc tăng nhu cầu tuyển dụng lao động, đặc biệt lao động thời vụ - bán thời gian. 10 Một số nhóm ngành nghề có nhu cầu tuyển dụng lao động cao như: Kinh doanh – Bán hàng; Du lịch – Nhà hàng – Khách sạn, Kinh doanh tài sản – Bất động sản, Dịch vụ phục vụ (nhân viên giới thiệu sản phẩm (PG), nhân viên vệ sinh, nhân viên giữ kho theo thời vụ, nhân viên bốc xếp…). Đồng thời các doanh nghiệp tập trung đẩy mạnh tiến độ hoàn thành các đơn đặt hàng, nhu cầu sản xuất các doanh nghiệp tuyển dụng lao động thời vụ ở các vị trí như: gia công, kiểm hàng, nhân viên giao nhận, nhân viên soát vé… ở các nhóm ngành nghề như: Dệt may – Giày da, Chế biến lương thực thực phẩm, Vận tải kho bãi – Xuất nhập khẩu… Thị trường lao động cuối năm 2015 tiếp tục phát triển theo hướng tăng yêu cầu chất lượng, trình độ và hạn chế về số lượng, yêu cầu đối với sinh viên mới ra trường và người lao động có nghề chuyên môn phải tự trang bị kiến thức – kỹ năng nghề nghiệp (ngoại ngữ, đạo đức nghề nghiệp) gia nhập vào thị trường lao động. Năm 2015, ước tính cơ cấu dân số trong độ tuổi lao động có 5.134 người chiếm 71,59% so tổng dân số; lực lượng lao động có 4.578 người chiếm 51,51% so tổng dân số, trong đó lao động đang làm việc chiếm 96,17%.
Trong tổng số lao động đang làm việc chuyên môn kỹ thuật bậc cao chiếm 15,20%; chuyên môn kỹ thuật bậc trung chiếm 5,90%; các nghề giản đơn và thợ chiếm 41,40% và các loại công việc khác chiếm 33,10%. Dân số và Lao động thành phố Hồ Chí Minh (%) Chỉ tiêu 2014 2015* Dân số 100% 100% Tổng số dân trong độ tuổi lao động 71.6% Lực lượng lao động 51.5% Tổng số lao động có việc làm 50% 49.5% Lao động cần giải quyết việc làm 3.5% Nguồn: Tổng cục thống kê 11 Bảng 2.