phần mở đầu, tác giả đã giới thiệu tổng quát về đề tài nghiên cứu. Chương này sẽ giới thiệu các lý thuyết có liên quan đến đề tài nghiên cứu. Đầu tiên là tóm tắt lý thuyết về các khái niệm chính của nghiên cứu: thu nhập và các nhân tố tác động đến thu nhập theo lý thuyết của Mankiw, khái niệm về dịch vụ và đặc điểm của dịch vụ. Tiếp theo tác giả trình bày những kết quả nghiên cứu của các tác giả trong và ngoài nước về chủ đề này và đề xuất mô hình và các giả thuyết nghiên cứu.
1 Khái niệm về thu nhập Chúng ta có thể hiểu một cách đơn giản thu nhập là khoản tiền mà người lao động trong doanh nghiệp được người sử dụng lao động trả theo lao động và là khoản thu thường xuyên, tính bình quân tháng trong năm bao gồm: Tiền lương, tiền thưởng, chia phần lợi nhuận, các khoản phụ cấp lương, những chi phí thường xuyên ổn định mà người sử dụng lao động chi trực tiếp cho người lao động như tiền ăn giữa ca, tiền ăn trưa, tiền xăm lốp xe.và các khoản thu khác, trong đó tiền lương là một phần chủ yếu trong thu nhập. Adam Smith, nhà kinh tế học nổi tiếng đại diện cho trường phái kinh tế cổ điển đã viết trong tác phẩm “Wealth of nations” (Sự giàu có của các quốc gia): “tiền lương, lợi nhuận, địa tô là ba nguồn gốc đầu tiên của mọi thu nhập” 1. Như vậy có thể hiểu theo Adam Smith thì thu nhập trong nền kinh tế bao gồm ba bộ phận đó là tiền lương, lợi nhuận và địa tô mà những người thuê đất phải nộp. 1: Theo Ts Nguyễn Hữu Thảo và cộng sự (2001) “lịch sử các học thuyết kinh tế”, trang 40 7 Trong tác phẩm “Phê phán cương lĩnh của Gôta” (1875) của CacMac, ông đã chỉ ra, thu nhập lao động theo nghĩa là sản phẩm lao động thì thu nhập tập thể của lao động sẽ có nghĩa là tổng sản phẩm xã hội.
Khi thu nhập là giá trị sản phầm lao động thì giá trị sản phẩm được sản xuất ra trong một thời kỳ nhất định gồm các thành phần C + V +M. Với C là phần bù đắp giá trị những tư liệu sản xuất đã tiêu dùng,V là phần thu nhập của người lao động và C là thu nhập của người chủ. Như vậy thu nhập của nền kinh tế bằng thu nhập của người lao động và thu nhập của người chủ. Khái niệm và đặc điểm của dịch vụ 1.1 Khái niệm dịch vụ Nền kinh tế thế giới ngày nay không chỉ tồn tại các sản phẩm vật chất cụ thể mà còn tồn tại cả những sản phẩm phi vật chất hay còn gọi là sản phẩm dịch vụ.
Ở các nước đang phát triển, tỷ trọng dịch vụ trong tổng sản phẩm quốc dân thường rất cao và ngày càng được các quốc gia quan tâm đầu tư phát triển. Vậy chúng ta hiểu dịch vụ như thế nào? Theo C.Mac, dịch vụ là con đẻ của nền kinh tế sản xuất hàng hóa, khi mà kinh tế hàng hóa phát triển mạnh, đòi hỏi một sự lưu thông trôi chảy, thông suốt, liên tục để thỏa mãn nhu cầu ngày càng cao của con người thì dịch vụ phát triển. Như vậy chúng ta có thể hiểu dịch vụ theo hai nghĩa: * Theo nghĩa rộng: Dịch vụ là lĩnh vực kinh tế thứ 3 trong nền kinh tế quốc tế quốc dân. Theo cách hiểu này tất cả các hoạt động kinh tế nằm ngoài hai ngành công nghiệp và nông nghiệp đều thuộc lĩnh vực dịch vụ, ở các nước phát triển giá trị của ngành dịch vụ chiếm từ 70 – 80% GDP, ở Việt Nam giá trị dịch vụ chiếm khoảng 40% GDP.
8 * Theo nghĩa hẹp: Dịch vụ là những hoạt động hổ trợ cho quá trình kinh doanh bao gồm các hổ trợ trước, trong và sau khi bán, là phần mềm của sản phẩm được cung ứng cho khách hàng [2, trang 312] 1.2 Đặc điểm của dịch vụ Về bản chất, dịch vụ và hàng hóa vật chất có nhiều điểm rất khác biệt. Dịch vụ có những đặc điểm cụ thể như sau: - Là sản phẩm vô hình nên chất lượng dịch vụ rất khó đánh giá và không ổn định vì nó chịu nhiều sự tác động từ nhiều yếu tố như người bán, người mua, thời điểm mua bán hàng hóa. - Sản phẩm dịch vụ có sự khác biệt về chi phí so với sản phẩm vật chất, đối với các sản phẩm dịch vụ thì chi phí nhân công chiếm một tỷ lệ lớn và các chi phí khác rất khó xác định. - Sản xuất và tiêu dùng dịch vụ diễn ra đồng thời do vậy cung cầu dịch vụ không thể tách ra mà diễn ra đồng thời, người tiêu dùng dịch vụ cũng đồng thời là người tham gia vào quá trình sản xuất dịch vụ.
- Do sản xuất và tiêu dùng diễn ra đồng thời nên dịch vụ không thể cất giữ trong kho, làm phần đệm để điều chỉnh sự thay đổi nhu cầu thị trường như các sản phẩm hữu hình [2, trang 313]. Chính những đặc điểm của dịch vụ như vậy nên nó cũng có những nhân tố tác động đến thu nhập cũng có sự khác biệt so với các lĩnh vực khác 1.3 Tóm tắt các lý thuyết liên quan đến các nhân tố tác động đến thu nhập 1.1 Lý thuyết tiền lương theo quan điểm kinh tế học. Theo quan điểm của các nhà kinh tế học như N.Pindyck và Daniel L.Rubinfeld đã cho thấy mức lương được hình thành trên 9 cơ sở cân bằng cung và cầu về lao động. Tiền lương cân bằng thị trường sẽ là mức tiền lương mà tại đó lượng cầu về lao động bằng với lượng cung về lao động.
Chúng ta có thể biểu diễn theo đồ thị sau: Tiền lương W DL=MRPL SL=AE W* 0 L* L- lượng lao động Đường cầu lao động thể hiện mối quan hệ giữa mức tiền lương và lượng lao động các hãng sẽ thuê. Chúng ta đã biết, để tối đa hóa lợi nhuận các hãng sẽ thuê lao động cho đến khi nào mà doanh thu sản phẩm biên của lao động (doanh thu bổ sung do tăng một đơn vị lao động - MRPL) bằng với tiền lương. Do đó đường cầu về lao động cũng chính là đường MRPL. Ta thấy: MRPL = MPL.MR Với MPL là sản phẩm biên của lao động và MR là doanh thu biên.
Trong điều kiện thị trường cạnh tranh hoàn hảo thì MR = P. Như vậy đường cầu về lao động có xu hướng dốc xuống vì khi lượng lao động càng tăng sản phẩm biên của lao động có xu hướng giảm. Do đó đường cầu của lao động sẽ chịu tác động của hai nhân tố đó là năng suất biên của lao động và doanh thu biên hay giá cả sản phẩm trong điều kiện thị trường cạnh tranh hoàn hảo. 10 Đối với cung về lao động thể hiện mối quan hệ giữa mức lương và lượng lao động cung ứng trên thị trường.
Đường cung về lao động có thể dốc lên nhưng cũng có thể uốn ngược lại, nghĩa là mức tiền công cao có thể dẫn đến cung nhỏ hơn về lao động do khi thu nhập cao lên người lao động có xu hướng nghỉ ngơi nhiều hơn. Cung về lao động sẽ chịu sự tác động của các yếu tố đó là sự thay đổi trong nhận thức và sự di cư. Khi người ta muốn tham gia lao động nhiều hơn và ở những vùng kinh tế phát triển mạnh lượng dân di cư tới nhiều hơn thì lượng cung về lao động cũng tăng lên. Như vậy, trong điều kiện thị trường cạnh tranh, tiền lương phụ thuộc vào cung và cầu về lao động.
Tiền lương sẽ tăng khi cầu về lao động tăng lên hoặc cung lao động giảm và sẽ giảm nếu cầu về lao động giảm và cung về lao động tăng. Tuy nhiên trong điều kiện thị trường không cạnh tranh dưới áp lực của công đoàn, của luật tiền lương tối thiểu và của thuyết tiền lương hiệu quả, mức tiền lương sẽ có thể cao hơn mức cân bằng. Trên cơ sở lý thuyết về lao động và tiền lương trong kinh tế học chúng ta có thể thấy năng suất biên của lao động, số người tham gia cung ứng lao động là yếu tố quan trọng ảnh hưởng đến thu nhập. Với những người có kỹ năng, kinh nghiệm và có học vấn cao năng suất biên sẽ cao hơn và tiền lương của họ cũng cao hơn, với những công việc nhàn hạ sạch sẽ và an toàn thì lượng cung về lao động cao hơn do đó tiền lương trong những ngành này giảm xuống.
Như vậy theo quan điểm của kinh tế học, những nhân tố tác động đến tiền lương đó là: đặc điểm nghề nghiệp, giáo dục đào tạo, kỹ năng của người lao động.2 Hàm thu nhập của Mincer (1774) Hàm thu nhập của Mincer được mọi người biết đến và ứng dụng rất nhiều trong các đề tài nghiên cứu về thu nhập. Ông đã đưa ra hàm toán học để biểu thị 11 mối quan hệ giữa số năm đi học, kinh nghiệm làm việc với thu nhập của một cá nhân. Mô hình thu nhập bỏ qua yếu tố kinh nghiệm của Mincer được biểu thị như sau: Gọi: S: là số năm đi học Y0 : là thu nhập hàng năm của người không có đi học Ys : là thu nhập hàng năm của người có S năm đi học r : là lợi suất biên, tức tỷ lệ phần trăm thu nhập tăng lên khi tăng thêm một năm đi học. Thì hàm thu nhập theo số năm đi học của Mincer là: lnYs = lnY0 + r.S Phương trình trên trình bày kết luận căn bản rằng, logarithm của thu nhập là hàm tỷ lệ thuận với số năm đi học S, và hệ số của S biểu thị tỷ lệ phần trăm gia tăng thu nhập khi tăng thêm một năm đi học chính là tỷ suất biên r.
Đây là hàm thu nhập thô sơ nhất Mô hình học vấn trở nên đầy đủ hơn khi xét đến cả yếu tố kinh nghiệm như là quá trình đào tạo sau khi thôi học và sự đào tạo này là có chi phí. Diễn dịch toán học của Mincer đã qui đổi yếu tố kinh nghiệm về đơn vị thời gian, từ đó dẫn đến hàm thu nhập phụ thuộc vào cả số năm đi học và số năm kinh nghiệm. Hàm được thể hiện như sau : lnYt = ao + a1S + a2t + a3t2 + V Các biến số trong hàm thu nhập Mincer: • Biến phụ thuộc Yt , thu nhập ròng trong năm t, được xem là mức thu nhập của dữ liệu quan sát được. • Biến độc lập S là số năm đi học của quan sát cá nhân có mức thu nhập Yt .