MỞ ĐẦU Trong ngành dược phẩm, nhân viên kinh doanh được gọi là người giới thiệu thuốc (NGTT). Họ là cầu nối quan trọng giữa cơ sở kinh doanh (CSKD) với các bác sĩ và dược sĩ, những người quyết định việc lựa chọn thuốc cho người dân 56. Phần lớn thời gian làm việc của họ là cung cấp những thông tin về thuốc, hội nghị, thử nghiệm lâm sàng… do các CSKD tài trợ, nhằm tác động đến hành vi kê đơn thuốc của bác sĩ 34. Do đó, nếu NGTT làm việc hiệu quả thì việc đánh giá và cân nhắc các liệu pháp thay thế trong quy trình kê đơn của bác sĩ đều có thể bị ảnh hưởng 35.
Từ đó cho thấy, ngành tiếp thị dược phẩm vốn năng động và đầy thách thức này, chủ yếu là dựa vào bán hàng cá nhân. Vì vậy, một đội ngũ NGTT năng lực và có tính gắn kết với CSKD là tài sản vô giá, là nhân tố có ý nghĩa quyết định cho sự thành công và phát triển bền vững cho một CSKD 44. Cụ thể, sự gắn kết của nhân viên với CSKD sẽ thúc đẩy họ tập trung vào mối quan hệ lâu dài với CSKD, tìm hiểu và đầu tư tối đa vào kiến thức chuyên môn nhằm đạt được hiệu suất công việc tốt hơn 54. Xét trong lĩnh vực tiếp thị dược phẩm, sự gắn kết của NGTT sẽ góp phần tối ưu hóa công việc thông tin thuốc, tư vấn đầy đủ, khách quan và kịp thời cho bác sĩ, hỗ trợ bác sĩ phát hiện ra các sai sót trong vấn đề sử dụng thuốc trong điều trị.
Do đó, việc cải thiện sự gắn kết của NGTT không những phù hợp với chiến lược quản trị nguồn nhân lực hiệu quả giúp phát huy mọi nguồn sáng tạo của CSKD, tạo ra lợi thế cạnh tranh và mang lại hiệu quả cao hơn trong hoạt động kinh doanh 1; mà còn phù hợp với chính sách của nhà nước ta về việc bảo đảm người dân được tiếp cận kịp thời với thuốc có chất lượng, an toàn, hiệu quả và chi phí hợp lý 10. Tuy nhiên, việc nhân viên gắn kết suốt đời với một CSKD hiện đã không còn phổ biến 24,54. Các CSKD có tỷ lệ nhân viên nghỉ việc cao không chỉ phải đối mặt với những bất lợi về tài chính mà còn có thể đối mặt với những bất lợi khi bí mật kinh doanh bị những nhân viên này chuyển giao cho các CSKD đối thủ. Đặc biệt trong xu hướng liên doanh liên kết trong ngành dược cùng với các biện pháp tiết kiệm từ hoạt động kinh doanh hay gần đây là xu hướng giảm tương tác trực tiếp sau khi dịch COVID-19 kết thúc, đã và đang tạo làn sóng cắt giảm việc làm trên diện rộng, gây ra các động tiêu cực đối với những nhân viên ở lại.
Chính vì vậy, để thu hút và giữ chân nhân tài, các CSKD. 2 không ngừng hoàn thiện chính sách quản lý nguồn nhân lực, đặc biệt là việc tăng sự gắn kết của nhân viên với CSKD. Hiện nay trên thế giới đã có nhiều nghiên cứu về các yếu tố ảnh hưởng đến sự gắn kết của nhân viên với CSKD. Trong đó chỉ ra rằng, một chế độ đãi ngộ tốt là động lực thúc đẩy nhân viên tăng gắn kết với CSKD.
Tương tự, khi sự phát triển nghề nghiệp của nhân viên được chính CSKD hiện tại tạo điều kiện củng cố thì cũng sẽ tác động tích cực đến sự gắn kết của nhân viên. Vậy nên chế độ đãi ngộ và sự phát triển nghề nghiệp có thể liên quan đến sự gắn kết của NGTT với CSKD. Thế nhưng ở Việt Nam, rất hiếm có các nghiên cứu về sự gắn kết của NGTT với CSKD, sự phát triển nghề nghiệp cũng như chế độ đãi ngộ của NGTT trong lĩnh vực dược phẩm để hỗ trợ cho việc đề ra các quyết định quản lý. Xuất phát từ các vấn đề tồn tại trên, nghiên cứu “Phân tích các yếu tố liên quan đến sự gắn kết của người giới thiệu thuốc với nơi làm việc tại thành phố Hồ Chí Minh giai đoạn 2021-2022” được thực hiện nhằm cung cấp các thông tin khoa học hỗ trợ các nhà lãnh đạo của các CSKD có căn cứ đưa ra các chính sách, quyết định về quản trị nhân sự phù hợp nhằm tạo được sự gắn kết lâu dài, thúc đẩy sự hăng say, cống hiến, sự đổi mới, sáng tạo trong công việc của NGTT.
Từ đó góp phần thúc đẩy chính sách sử dụng thuốc an toàn, hợp lý, hiệu quả của chính phủ. Cụ thể, nghiên cứu này được thực hiện với 3 mục tiêu sau: 1. Mô tả đặc điểm chung của người giới thiệu thuốc tham gia vào nghiên cứu. Mô tả nhận định của người giới thiệu thuốc về chính sách của cơ sở kinh doanh trong mẫu nghiên cứu.
Phân tích các yếu tố liên quan đến sự gắn kết của người giới thiệu thuốc với cơ sở kinh doanh tại thành phố Hồ Chí Minh giai đoạn 2021-2022. TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. TỔNG QUAN VỀ NGÀNH DƯỢC PHẨM TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH 1. Mục tiêu của chính phủ và chủ trương chính sách Theo Chiến lược quốc gia phát triển ngành dược Việt Nam giai đoạn năm 2020 và tầm nhìn đến năm 2030 10, chính phủ Việt Nam đã xác định ngành dược phẩm là ngành công nghiệp chủ chốt trong việc phát triển kinh tế và tạo ra phúc lợi cho người dân trong tương lai.
Các lĩnh vực trọng tâm trong Chiến lược quốc gia bao gồm: - Bảo hiểm Y tế toàn dân: đây là chính sách lớn, là trụ cột trong hệ thống an sinh xã hội và luôn được Nhà nước ta quan tâm. Với chỉ tiêu “có số dân tham gia bảo hiểm y tế đạt 80% vào năm 2020” thì năm 2016 ngành Bảo hiểm xã hội Việt Nam đã hoàn thành trước thời hạn. Đến năm 2020, chỉ tiêu này lại tiếp tục tăng vượt trên 10%, do đó tiến tới mục tiêu Bảo hiểm Y tế toàn dân là có khả năng sẽ đạt được 59. - Tiếp cận dược phẩm chất lượng với giá cả hợp lý cho người bệnh: bởi lẽ khi người bệnh không được tiếp cận với các loại thuốc cần thiết, sẽ tạo ra các ảnh hưởng kinh tế và xã hội quan trọng đến ảnh hưởng toàn bộ nền kinh tế.
Điều này sẽ giới hạn khả năng của chính phủ trong việc đạt được các mục tiêu của Chiến lược quốc gia. - Phát triển ngành công nghiệp dược nội địa: thuốc sản xuất trong nước cơ bản đáp ứng nhu cầu sử dụng, sản xuất được thuốc chuyên khoa đặc trị, chủ động sản xuất vắc xin, sinh phẩm cho phòng chống dịch bệnh, sản xuất được nguyên liệu làm thuốc. Hệ thống kiểm nghiệm, phân phối thuốc, công tác dược lâm sàng, thông tin thuốc ngang bằng các nước tiên tiến trong khu vực. Để đạt được mục tiêu trong các lĩnh vực trọng tâm trên, chính phủ đã ban hành nhiều chính sách, được liệt kê trong bảng 1.
Chính sách được Chính phủ ban hành hỗ trợ mục tiêu Chiến lược Quốc gia giai đoạn năm 2020 và tầm nhìn đến năm 2030 Văn bản Ngày Nội dung pháp lý ban hành Mục tiêu cải thiện môi trường kinh doanh trong nước và khả năng Nghị quyết Số 10/01/2022 cạnh tranh với các nước khác thuộc Hiệp hội các Quốc gia Đông 02/NQ-CP 13 Nam Á (ASEAN). Chương trình sức khỏe Việt Nam với mục tiêu giải quyết các nhu cầu y tế của người bệnh nhằm tăng cường sức khỏe, vóc dáng, tuổi Quyết định Số thọ và mức sống của người dân Việt Nam. Về lâu dài, hướng đến 02/09/2018 1092/QĐ-TTg 14 việc thực hiện các chương trình quản lý y tế công cộng liên tục và dài hạn, tập trung vào các bệnh lý có thể phòng ngừa và tình trạng tử vong. Quyết định số Bộ Y tế phê duyệt kế hoạch thực hiện chương trình sức khỏe Việt 29/12/2021 5924/QĐ-BYT 15 Nam giai đoạn 2021-2025 1.
Các cơ quan tham gia quản lý và các quy định pháp lý về thị trường dược phẩm Việt Nam Cơ quan hiện tại tham gia quản lý thị trường dược phẩm Việt Nam bao gồm: Bộ Y tế Việt Nam (www.vn), Cục quản lý dược trực thuộc Bộ Y tế (www.vn), Bộ Công thương (www.vn), Bộ Kế hoạch và Đầu tư (www.vn), Bộ Tài chính (www.vn) và Cục quản lý giá Bộ Tài chính (www.vn/portal/page/portal/qlg). Bên cạnh đó, thị trường dược phẩm Việt Nam còn được điều chỉnh và quản lý bởi một hệ thống văn bản quy phạm pháp luật, được trình bày theo bảng 1. Hệ thống văn bản quy phạm pháp luật đối với thị trường dược phẩm Việt Nam Văn bản Ngày Nội dung pháp lý ban hành Đây là bộ luật nền tảng của ngành dược Việt Nam, luật này quy định việc Luật Dược số kinh doanh thuốc; đăng ký, lưu hành thuốc; sử dụng thuốc; cung ứng 105/2016/Q 06/04/2016 thuốc; thông tin, quảng cáo thuốc; thử thuốc trên lâm sàng; quản lý thuốc H13 16 gây nghiện, thuốc hướng tâm thần, tiền chất dùng làm thuốc và thuốc phóng xạ; tiêu chuẩn chất lượng thuốc và kiểm nghiệm thuốc. Thông tư số CSKD có vốn đầu tư nước ngoài tại Việt Nam không được phép phân phối 34/2013/TT- 24/12/2013 mặt hàng thuốc gồm thuốc thành phẩm, nguyên liệu làm thuốc, vắc xin, BCT 17 sinh phẩm y tế, trừ thực phẩm chức năng.
5 Văn bản Ngày Nội dung pháp lý ban hành Sửa đổi, bổ sung một số điều của thông tư số 03/2018/TT-BYT quy định về thực hành tốt phân phối thuốc, nguyên liệu làm thuốc. Mục đích là để Thông tư số bảo đảm cung cấp thuốc có chất lượng đến tay người sử dụng thông qua 09/2020/TT- 10/06/2020 các yêu cầu cần thiết cho việc vận chuyển, bảo quản, phân phối thuốc để BYT 5 bảo đảm việc cung cấp thuốc đến tay người tiêu dùng một cách kịp thời, đầy đủ và đảm bảo chất lượng. Văn bản hợp nhất số 26/11/2021 Quy định việc đấu thầu thuốc tại các cơ sở y tế công lập 14/VBHN- BYT 19 Thông tư số 15/2019/TT- 11/07/2019 Hướng dẫn lập hồ sơ mời thầu mua thuốc trong các cơ sở y tế BYT 20 Luật đấu Điều 50 mục 3 chương V của luật này quy định rõ: “Đối với thuốc trong thầu mới nước được Bộ Y tế công bố đáp ứng yêu cầu về điều trị, giá thuốc và khả nhất được năng cung cấp thì trong hồ sơ mời thầu, hồ sơ yêu cầu phải quy định nhà quy định 11/01/2022 thầu không được chào thuốc nhập khẩu” nhằm giảm thiểu ảnh hưởng tiêu trong Luật cực từ nhiều loại thuốc giá rẻ của Trung Quốc và Ấn Độ trong đấu thầu dược số 6,21 .Tuy nhiên, luật đấu thầu số 43/2013/QH13 ban hành ngày 26/11/2013 03/2022/QH hiện vẫn còn giá trị hiệu lực 1 15 6 Quy định về gia công thuốc, hồ sơ đăng ký gia công thuốc, trình tự, thủ tục đăng ký, tạm ngừng và rút số đăng ký thuốc gia công.