Chương 1: Giới thiệu − Chương 2: Cơ sở lý thuyết và mô hình nghiên cứu ứng dụng − Chương 3: Thực trạng về vay tiêu dùng − Chương 4: Kết quả nghiên cứu và hàm ý chính sách − Chương 5: Kế hoạch triển khai các giải pháp 8 CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU ỨNG DỤNG 2.Giới thiệu chương Trong chương này, tác giả sẽ trình bày các lý thuyết kinh tế và tài chính liên quan đến hành vi tiêu dùng và quyết định vay vốn, đồng thời nghiên cứu các mô hình đã được ứng dụng thành công trong lĩnh vực. Các nhân tố như chính sách tín dụng, lãi suất, chất lượng dịch vụ, thương hiệu và marketing sẽ được phân tích chi tiết và đề ra các giả thuyết. Chương 2 cung cấp một nền tảng lý thuyết vững chắc và xây dựng một mô hình nghiên cứu cụ thể để đánh giá mức độ ảnh hưởng của từng nhân tố. Qua đó, tác giả hướng đến việc hiểu rõ hơn về những động lực và rào cản trong quyết định vay tiêu dùng của KHCN, từ đó đề xuất các chiến lược hiệu quả nhằm nâng cao khả năng tiếp cận và chất lượng dịch vụ vay tiêu dùng tại Agribank Tiền Giang.
Khái niệm về cho vay tiêu dùng Theo Điều 2, quyết định số 1627/2001/QĐ-NHNN ngày 31/12/2001 về việc ban hành quy chế cho vay của tổ chức tín dụng đối với khách hàng đưa ra định nghĩa: “Cho vay là một hình thức cấp tín dụng, theo đó tổ chức tín dụng giao cho khách hàng sử dụng một khoản tiền để sử dụng vào mục đích và thời gian nhất định theo thoả thuận với nguyên tắc có hoàn trả cả gốc và lãi”. Theo Điều 1, số 127/2005/QĐ-NHNN ngày 03/02/2005 về việc sửa đổi, bổ sung một số điều của quy chế cho vay của tổ chức tín dụng đối với khách hàng ban hành theo quyết định số 1627/2001/QĐ-NHNN ngày 31/12/2001 của Thống đốc Ngân hàng Nhà Nước nêu rõ: “Khách hàng vay tại tổ chức tín dụng là các tổ chức, cá nhân Việt Nam và nước ngoài có nhu cầu vay vốn, có khả năng trả nợ để thực hiện các dự án đầu tư, phương án sản xuất, kinh doanh, dịch vụ hoặc dự án đầu tư, phương án phục vụ đời sống ở trong nước và nước ngoài”. Cho vay tiêu dùng từ các ngân hàng, quỹ tín dụng nhân dân và tổ chức tài chính vi mô được mô tả là "cho vay phục vụ nhu cầu đời sống”. Cho vay phục vụ nhu cầu đời sống là quá trình tổ chức tín dụng cung cấp khoản vay cho khách hàng cá nhân nhằm thanh toán các chi phí liên quan đến mục đích tiêu dùng, sinh hoạt cá nhân và gia đình 9 của cá nhân theo khoản 6 Điều 3 của Nghị định 39/2014/NĐ-CP và khoản 4 Điều 2 của Thông tư 39/2016/TT-NHNN.
Sự lựa chọn ngôn ngữ khác nhau xuất phát từ việc Luật Các tổ chức tín dụng chỉ đề cập đến từ "tiêu dùng" trong hoạt động của công ty tài chính, như được quy định tại điểm d khoản 1 Điều 108 Luật các tổ chức tín dụng năm 2010. Tóm lại, cho vay tiêu dùng là quá trình mà một tổ chức tài chính, thường là ngân hàng cung cấp một khoản tiền cho người vay để sử dụng cho các mục đích cá nhân hoặc gia đình. Khi người vay nhận được khoản vay, họ có thể sử dụng nó để mua sắm, chi trả hóa đơn, đi du lịch, hoặc đáp ứng bất kỳ nhu cầu cá nhân hàng ngày. Khoản vay tiêu dùng thường có thể được cung cấp dưới dạng vay không có tài sản đảm bảo, có nghĩa là không cần phải cung cấp tài sản nào làm đảm bảo cho khoản vay.
Đặc điểm cho vay tiêu dùng Cho vay tiêu dùng có những đặc điểm riêng so với tín dụng ngân hàng: - Đối tượng cho vay tiêu dùng: là các cá nhân, hộ gia đình. Nhu cầu vay của cá nhân phụ thuộc vào tình hình tài chính của họ. Cá nhân có mức thu nhập thấp, nhu cầu tín dụng thường không cao, nó chỉ xuất hiện nhằm thỏa mãn nhu cầu gia đình tạo sự cân đối giữa thu nhập và chi tiêu. Cá nhân có mức thu nhập trung bình, nhu cầu tín dụng phát triển mạnh do ý muốn vay mượn để mua hàng tiêu dùng lớn hơn khoản tiền dự phòng của chính họ.
Đối với những người có thu nhập cao, nhu cầu tín dụng tiêu dùng nảy sinh nhằm tăng thêm khả năng thanh toán hoặc một khoản tài trợ linh hoạt trong chi tiêu khi nguồn vốn của khách hàng đã nằm trong khoản đầu tư. - Mục đích vay: nhằm phục vụ nhu cầu tiêu dùng của cá nhân, hộ gia đình và không phải xuất phát từ mục đích kinh doanh. Do đó phụ thuộc vào nhu cầu, tính cách của từng đối tượng khách hàng và chu kỳ kinh tế của khách hàng vay. - Số lượng khách hàng lớn: mỗi thành viên trong mỗi gia đình sẽ có những mục đích tiêu dùng riêng và thường khác nhau, do đó số lượng người tiêu dùng rất đông.
Vì vậy các khoản vay tiêu dùng rất đa dạng và phong phú. - Quy mô hợp đồng vay nhỏ: do mục đích vay là tiêu dùng nên số tiền sử dụng không lớn. Bên cạnh đó, khoản vay này sử dụng để mua sắm, nên không sinh lời, vì vậy 10 để đảm bảo người vay có khả năng hoàn trả được, ngân hàng chỉ cho vay với số tiền hạn mức, nhỏ hơn so với khoản vay của doanh nghiệp. - Chi phí cho vay tiêu dùng cao: khoản cho vay tiêu dùng thường không lớn trong khi ngân hàng mất nhiều thời gian và nhân lực để điều tra thu thập thông tin của chủ thể vay tiền.
Bên cạnh đó, ngân hàng phải quản lý các khoản cho vay nhỏ lẻ nhưng khối lượng là rất lớn. Do đó chi phí cho vay tiêu dùng lãi suất thường lớn hơn cho vay thương mại. Về lãi suất, do quy mô các khoản vay thường nhỏ dẫn đến chi phí để cho vay cao, do vậy lãi suất cho vay tiêu dùng thường cao hơn lãi suất cho vay thương mại. - Rủi ro tín dụng cao: + Khách hàng vay tiêu dùng thường là các cá nhân nên việc chứng mình tài chính thường khó.
Nếu như các doanh nghiệp có bảng cân đối kế toán, báo cáo kết quả kinh doanh để chứng minh nguồn thu nhập và chi tiêu của mình thì thu nhập của các cá nhân vay tiêu dùng chính là căn cứ để ngân hàng xét cho vay và thu nợ. Khi nền kinh tế rơi vào tình trạng suy thoái, người vay có thể bị thất nghiệp, do đó ngân hàng sẽ gặp nhiều rủi ro hơn trong việc thu hồi nợ. + Do người vay là cá nhân, thường là công nhân viên, giới trẻ mới ra trường, hay mới lập gia đình, … nên không có tài sản đảm bảo hay thế chấp. Vì vậy rủi ro nợ quá hạn và mất khả năng hoàn trả rất cao và cao nhất trong danh mục cho vay của ngân hàng.
Vì vậy các ngân hàng thường yêu cầu lãi suất cao, yêu cầu người vay phải mua bảo hiểm thất nghiệp, bảo hiểm nhân thọ, bảo hiểm hàng hóa đã mua, … - Nhu cầu vay tiêu dùng có tính nhạy cảm và phụ thuộc vào chu kỳ kinh tế: Trong thời kỳ kinh tế tăng trưởng tốt và ổn định, người lao động cảm thấy lạc quan về tương lai nên họ sẽ tăng mua sắm, vì vậy nhu cầu tiêu dùng sẽ tăng lên. Ngược lại, khi nền kinh tế rơi vào tình trạng suy thoái, tâm lý chung của cá nhân là lo lắng về cuộc sống tương lai, do đó việc tiêu dùng sẽ phải hạn chế tối đa, đồng thời hoạt động vay mượn ngân hàng giảm đi rất nhiều. - Người tiêu dùng kém nhạy cảm với lãi suất: Người tiêu dùng thường quan tâm sản phẩm vay có thỏa mãn được nhu cầu của họ không và số tiền phải trả trong mỗi kỳ là bao nhiêu, hơn là lãi suất mà họ phải chịu, mặc dù lãi suất là yếu tố biểu hiện chi phí họ phải bỏ ra để có được số tiền vay. Ngoài ra, sản phẩm vay tiêu dùng, khoản vay thấp, và không vì mục đích kinh doanh, nên người vay thường ít quan tâm đến chi phí phải 11 trả.
Hơn nữa, đối tượng vay tiêu dùng thường là những người lao động bình thường, công nhân viên chức, … nên khách hàng ít am hiểu về ngân hàng như lãi suất, … - Hiệu quả của vay tiêu dùng phụ thuộc rất nhiều vào từng cá nhân: + Yếu tố chủ quan: sự cam kết trả nợ, độ tín nhiệm của cá nhân đi vay, … là một trong các yếu tố định tính rất khó xác định, tuy nhiên nó lại rất quan trọng, có tính quyết định cho sự hoàn trả của khoản vay. + Yếu tố khách quan: rủi ro không trả nợ cho ngân hàng không chỉ xuất phát do chủ quan từ phía người vay, nó còn chịu ảnh hưởng trực tiếp hay gián tiếp từ các yếu tố khách quan như rủi ro về mất việc làm, bệnh tật, tai nạn, chết, các sự cố xảy ra trong gia đình, … Nhưng vì số lượng khách hàng rất nhiều nên những rủi ro này được phân tán, không tập trung vào một đầu mối, vì vậy giảm được những tổn thất lớn cho ngân hàng. Phân loại cho vay tiêu dùng Các ngân hàng trên thế giới thường sử dụng 2 phương pháp chính, đó là: - Phương pháp hệ thống điểm: là tập hợp các tiêu thức khác nhau liên quan đến từng đối tượng khách hàng. Mỗi tiêu thức tương ứng với một điểm số nhất định, tùy theo từng tiêu thức và tầm quan trọng trong hệ thống các tiêu thức.
Tuy nhiên, phương pháp hệ thống điểm số trên phụ thuộc vào nhiều yếu tố khác như môi trường, kinh tế xã hội, … nếu các yếu tố này có biến động lớn thì ngân hàng cần phải xem xét điều chỉnh lại các tiêu thức cho phù hợp đảm bảo chất lượng cho vay và thu hồi nợ. - Phương pháp phán đoán: là quá trình trong đó ngân hàng tiến hành phân tích, đánh giá toàn bộ thông tin định tính và định lượng về khách hàng nhằm hạn chế các khoản vay có rủi ro cao. Vì thế khi quyết định cho vay, ngân hàng cần phải quan tâm đến nhiều vấn đề khác như khả năng trả nợ của khách hàng, điều kiện kinh tế hiện tại của khách hàng, các điều kiện khác của khách hàng có phù hợp với cơ chế, chính sách của ngân hàng hay không …. Sự khác nhau giữa khách hàng cá nhân và khách hàng doanh nghiệp Nguyễn Thế Doanh (năm 2017) cho rằng khách hàng cá nhân thường vay các khoản vay nhỏ lẻ, không thường xuyên và không ổn định.