Chương 1 sẽ thực hiện khảo lược cơ sở lý thuyết và các nghiên cứu trước liên quan tăng trưởng tín dụng khách hàng cá nhân của NHTM, từ đó chương này sẽ thảo luận để xác định khoảng trống nghiên cứu. CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ TĂNG TRƢỞNG TÍN DỤNG KHÁCH HÀNG CÁ NHÂN CỦA NGÂN HÀNG THƢƠNG MẠI 1. Một số khái niệm có liên quan Khái niệm tăng trƣởng Theo Viện ngôn ngữ học, 2010, tăng trưởng được hiểu là “lớn lên, tăng thêm về trọng lượng, kích thước” Với nghĩa đó, tăng trưởng dùng để chỉ quá trình biến đổi theo chiều hướng tăng lên đơn thuần về lượng của sự vật; nó không phản ánh quá trình biến đổi theo chiều hướng nâng cao về chất của sự vật. Tín dụng ngân hàng thƣơng mại (NHTM) Tín dụng ngân hàng đóng vai trò quan trọng trong việc thúc đẩy kinh tế phát triển.
Về khái niệm tín dụng ngân hàng có nhiều nghiên cứu liên quan, cụ thể: Theo điều 4 khoản 14 luật các tổ chức tín dụng năm 2010 của quốc hội Việt Nam “cấp tín dụng là việc thỏa thuận để tổ chức, cá nhân sử dụng một khoản tiền hoặc cam kết cho phép sử dụng một khoản tiền theo nguyên tắc có hoàn trả bằng nghiệp vụ cho vay, chiết khấu, cho thuê tài chính, bao thanh toán, bảo lãnh ngân hàng và các nghiệp vụ cấp tín dụng khác.” Như vậy, cấp tín dụng là việc chuyển giao quyền sử dụng một số tiền nhất định từ chủ sở hữu cho người vay có thời hạn. Theo Nguyễn Minh Kiều, 2009, “Tín dụng ngân hàng là một giao dịch về tài sản giữa bên cho vay và bên đi vay, trong đó các ngân hàng, các tổ chức tín dụng vừa là bên đi vay vừa là bên cho vay. Bên cho vay chuyển giao tạm thời quyền sử dụng tài sản cho bên đi vay trong thời gian thỏa thuận. Bên đi vay có nghĩa vụ hoàn 23 trả lại vô điều kiện đầy đủ vốn và lãi cho bên cho vay khi đến thời hạn thanh toán.” Theo đó tín dụng ngân hàng được hiểu là hoạt động tín dụng của NHTM với các chủ thể còn lại trong nền kinh tế, trong đó NHTM vừa huy động vốn vừa cấp vốn.
Theo Nguyễn Văn Tiến (2013) “Tín dụng ngân hàng là việc thỏa thuận để tổ chức, cá nhân sử dụng một khoản tiền hoặc cam kết cho phép sử dụng một khoản tiền theo nguyên tắc có hoàn trả bằng nghiệp vụ cho vay, chiết khấu, cho thuê tài chính, bao thanh toán, bảo lãnh ngân hàng và các nghiệp vụ cấp tín dụng khác” Như vậy, tín dụng ngân hàng thể hiện mối quan hệ giữa người cho vay và người vay trong đó người cho vay có nhiệm vụ chuyển giao quyền sử dụng tài sản cho người đi vay trong một thời gian nhất định. Người đi vay có nghĩa vụ trả số tiền hoặc giá trị hàng hoá đã vay khi đến hạn trả nợ có kèm hoặc không kèm theo một khoản lãi. Tín dụng khách hàng cá nhân của NHTM Tín dụng KHCN của NHTM là hình thức cấp tín dụng mà trong đó NHTM đóng vai trò là người chuyển nhượng quyền sử dụng vốn của mình cho KHCN sử dụng trong một thời hạn nhất định phải hoàn trả cả gốc và lãi với mục đích phục vụ đời sống hoặc phục vụ sản xuất kinh doanh. Tăng trƣởng tín dụng khách hàng cá nhân của NHTM Tăng trưởng tín dụng KHCN của NHTM thể hiện sự thay đổi mức cấp tín dụng của NHTM dành cho các KHCN, thường là sự thay đổi mức cấp tín dụng theo thời gian (tháng, quý hoặc năm), thể hiện ở mức cấp tín dụng cho KHCN cũ tăng lên hoặc phát triển thêm số lượng KHCN mới.
Chỉ tiêu đo lƣờng tăng trƣởng tín dụng KHCN của NHTM: Để đo lường tăng trưởng tín dụng KHCN thường sử dụng một số các chỉ tiêu sau: 24 Mức tăng/giảm số dƣ tín dụng KHCN của NHTM Mức tăng/giảm số Số dư tín dụng Số dư tín dụng = – dư tín dụng KHCN KHCN thời điểm t KHCN thời điểm t-1 Mức tăng/giảm số dư tín dụng KHCN cho biết mức tăng/giảm tuyệt đối của số dư tín dụng KHCN giữa hai thời điểm liền kề, và đó là chỉ tiêu cho biết NHTM đã cấp tín dụng cho KHCN tại thời điểm t nhiều hay ít hơn so với thời điểm t-1. Tỷ lệ tăng/giảm số dƣ tín dụng KHCN của NHTM Mức tăng/giảm số dư tín Tỷ lệ tăng/giảm số dư tín dụng dụng KHCN KHCN = Số dư tín dụng KHCN thời điểm t-1 Tỷ lệ tăng/giảm số dư tín dụng KHCN cho biết mức tăng/giảm tương đối của số dư tín dụng KHCN giữa hai thời điểm liền kề, và đó là chỉ tiêu cho biết NHTM đã cấp tín dụng cho KHCN thời điểm t nhiều hay ít hơn so với thời điểm t-1, qua đó có thể đánh giá tăng trưởng dư nợ tín dụng mạnh hay yếu qua nhiều thời điểm. Mức tăng/giảm doanh số tín dụng KHCN của NHTM Mức tăng/giảm Doanh số tín Doanh số tín doanh số tín dụng = dụng KHCN thời – dụng KHCN thời KHCN kỳ t kỳ t-1 Mức tăng/giảm doanh số tín dụng KHCN cho biết mức tăng/giảm tuyệt đối của doanh số tín dụng KHCN giữa hai thời kỳ liền kề, và đó là chỉ tiêu cho biết NHTM đã cấp tín dụng cho KHCN trong cả thời kỳ t nhiều hay ít hơn thời kỳ t-1. Tỷ lệ tăng/giảm doanh số tín dụng KHCN của NHTM Tỷ lệ tăng/giảm doanh = Mức tăng/giảm doanh số tín dụng KHCN 25 số tín dụng KHCN Doanh số tín dụng KHCN thời kỳ Tỷ lệ tăng/giảm doanh số tín dụng KHCN cho biết mức tăng/giảm tương đối của doanh số tín dụng KHCN giữa hai thời kỳ liền kề, và đó là chỉ tiêu cho biết NHTM đã cấp tín dụng cho KHCN trong thời kỳ t nhiều hay ít hơn so với thời kỳ t- 1, qua đó có thể đánh giá tăng trưởng doanh số tín dụng mạnh hay yếu qua nhiều thời kỳ.
MỐI QUAN HỆ GIỮA TĂNG TRƢỞNG TÍN DỤNG KHCN VỚI MỤC TIÊU TÀI CHÍNH CỦA NGÂN HÀNG THƢƠNG MẠI 1. Mối quan hệ giữa tăng trƣởng tín dụng với rủi ro tín dụng đối với khách hàng cá nhân của ngân hàng thƣơng mại Theo quan niệm của Ủy ban Basel (2000) “Rủi ro tín dụng là khả năng khách hàng vay hoặc bên đối tác của ngân hàng không thực hiện đúng cam kết đã thỏa thuận”. Theo khái niệm này thì RRTD có phạm vi khá rộng, không chỉ trong quan hệ tín dụng giữa ngân hàng với khách hàng mà trong cả các hoạt động khác như đầu tư, phái sinh mà ngân hàng thực hiện. Tại Việt Nam, Thông tư 02/2013/TT-NHNN giải thích rằng RRTD là tổn thất có khả năng xảy ra đối với khoản cấp tín dụng của NHTM do khách hàng không thực hiện hoặc không có khả năng thực hiện một phần hoặc toàn bộ nghĩa vụ mà họ đã cam kết.
Theo Nguyễn Minh Kiều, 2012, “RRTD là rủi ro phát sinh do khách hàng vay không thực hiện đúng các điều khoản của hợp đồng tín dụng, với biểu hiện cụ thể là khách hàng chậm trả nợ, trả nợ không đầy đủ hoặc không trả nợ khi đến hạn các khoản gốc và lãi vay, gây ra những tổn thất về tài chính và khó khăn trong hoạt động kinh doanh của NHTM”. Do đó RRTD còn được gọi là rủi ro vỡ nợ, phát sinh từ việc không chắc chắn liên quan đến việc không hoàn trả các khoản tín dụng từ phía khách hàng cho NHTM. 26 Từ những tiếp cận khác nhau, đề tài tiếp cận RRTD trong nghiệp vụ cấp tín dụng của NHTM, đó là loại rủi ro phát sinh trong quá trình cấp tín dụng của NHTM khi khách hàng không thực hiện đúng cam kết liên quan đến vốn gốc và/hoặc tiền lãi trong hợp đồng tín dụng giữa NHTM với khách hàng. Nếu RRTD xảy ra thì NHTM sẽ bị tổn thất tài chính, cụ thể là giảm lợi nhuận, thậm chí nghiêm trọng có thể đẩy NHTM vào tình trạng thua lỗ.
Bessis (2002) nhấn mạnh rằng NHTM cần đặc biệt quan tâm đến RRTD vì chỉ cần một số lượng nhỏ các khách hàng mất khả năng thanh toán cũng có thể dẫn đến những tổn thất lớn cho NHTM. Basel (1999) cũng khẳng định rằng các NHTM quản lý RRTD với mục tiêu tối đa hóa lợi nhuận bằng cách duy trì RRTD thể hiện qua thông số có thể chấp nhận được. Từ bản chất của RRTD và tính tất yếu của việc kiểm soát RRTD nhằm đảm bảo chất lượng tín dụng, qua đó góp phần tích cực vào việc thực hiện các mục tiêu tài chính nói chung và mục tiêu lợi nhuận nói riêng của NHTM, đề tài sẽ tiếp cận và phân tích RRTD trong mối quan hệ với tăng trưởng tín dụng trong nghiệp vụ cấp tín dụng dành cho KHCN của NHTM với chỉ tiêu tỷ lệ nợ xấu. Tỷ lệ tăng nợ Nợ xấu tín dụng KHCN thời kỳ t = xấu Tổng dư nợ KHCN thời kỳ t Tăng trưởng tín dụng KHCN nói riêng cũng như tăng trưởng tín dụng nói chung luôn là một trong những yêu cầu đặt ra để duy trì sự tồn tại và phát triển của NHTM.
Tuy nhiên, lĩnh vực kinh doanh tiền tệ là vấn đề nhạy cảm nên tăng trưởng tín dụng dù là dành cho khách hàng doanh nghiệp hay cá nhân đều mang đến cơ hội gia tăng thu nhập cho NHTM nhưng NHTM cũng phải chấp nhận đối mặt với sự gia tăng rủi ro tín dụng. Vì vậy, một chính sách tăng trưởng tín dụng KHCN theo hướng mở rộng sẽ tất yếu đi kèm với sự gia tăng rủi ro tín dụng, và ngược lại. Tuy nhiên, tăng trưởng tín dụng không phải lúc nào cũng làm gia tăng RRTD, mà cũng có thể làm giảm rủi ro tín dụng cho toàn bộ dư nợ tín dụng nếu tăng trưởng 27 tín dụng không bắt nguồn từ gia tăng nguồn cung mà bắt nguồn từ tăng cầu tín dụng. Bởi vì tăng cầu tín dụng do khách hàng muốn tăng tỷ trọng nguồn vốn vay NHTM trong tổng nguồn vốn.
Khi đó NHTM cấp tín dụng cho khách hàng với lãi suất cao hơn hoặc tiêu chuẩn xét duyệt cấp tín dụng khắt khe hơn theo sự gia tăng lợi thế của NHTM. Mối quan hệ tăng trƣởng tín dụng với thu nhập lãi cận biên đối với khách hàng cá nhân của ngân hàng thƣơng mại Chênh lệch giữa thu nhập lãi từ cấp tín dụng với chi phí lãi của nguồn vốn huy động sẽ góp phần hình thành lợi nhuận chủ yếu của các ngân hàng và được gọi là thu nhập lãi cận biên (NIM-Net Interest Margin). Như vậy, dưới góc độ quản trị tài chính, thu nhập lãi cận biên là chỉ tiêu phản ánh năng lực của NHTM trong việc đảm bảo sự tăng trưởng các khoản thu nhập từ cấp tín dụng và mục tiêu tiết kiệm chi phí lãi từ huy động vốn.