CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ TÍN DỤNG VÀ TỔ CHỨC TÍN DỤNG TẠI VIỆT NAM 1. Khái niệm về tín dụng Tín dụng ra đời cùng với sự xuất hiện tiền tệ. Khi một chủ thể kinh tế cần một lượng hàng hóa cho nhu cầu tiêu dùng hoặc sản xuất trong khi chưa có tiền hoặc số tiền hiện có chưa đủ họ có thể sử dụng hình thức vay mượn để đáp ứng nhu cầu. Có hai cách vay mượn: vay chính loại hàng hóa đang có nhu cầu hoặc vay tiền để mua loại hàng hóa đó.
Quan hệ vay mượn như vậy gọi là quan hệ tín dụng. Tín dụng là quan hệ vay mượn vốn lẫn nhau dựa trên sự tin tưởng số vốn đó sẽ được hoàn lại vào một ngày xác định trong tương lai. Có thể định nghĩa tín dụng như sau: Tín dụng là quan hệ chuyển nhượng tạm thời một lượng giá trị (dưới hình thức tiền tệ hoặc hiện vật) từ người sở hữu sang người sử dụng để sau một thời gian nhất định thu hồi về một lượng giá trị lớn hơn lượng giá trị ban đầu. Như vậy một quan hệ tín dụng phải thỏa mãn những đặc trưng sau: Thứ nhất: là quan hệ chuyển nhượng mang tính chất tạm thời.
Đối tượng của sự chuyển nhượng có thể là tiền tệ hoặc là hàng hóa dưới hình thức kéo dài thời gian thanh toán trong quan hệ mua bán hàng hóa. Tính chất tạm thời của sự chuyển nhượng đề cập đến thời gian sử dụng lượng giá trị đó. Nó là kết quả của sự thỏa thuận giữa các đối tác tham gia quá trình chuyển nhượng để đảm bảo sự phù hợp giữa thời gian nhàn rỗi và thời gian cần sử dụng lượng giá trị đó. Sự thiếu phù hợp của thời gian chuyển nhượng có thể ảnh hưởng đến quyền lợi tài chính và hoạt động kinh doanh của cả hai bên và dẫn đến nguy cơ phá hủy quan hệ tín dụng.
Thực chất trong quan hệ tín dụng chỉ có sự chuyển nhượng quyền sử dụng tạm thời nhàn rỗi trong một khoảng thời gian nhất định mà không có sự thay đổi quyền sở hữu đối với lượng giá trị đó. Thứ hai: tính hoàn trả. Lượng vốn được chuyển nhượng phải được hoàn trả đúng hạn cả về thời gian và về giá trị bao gồm gốc và lãi vay. Phần lãi phải bảo đảm cho luợng giá trị hoàn trả lớn hơn giá trị ban đầu.
Sự chênh lệch này là giá trả cho sự hy sinh quyền sử dụng vốn hiện tại của người sở hữu vì thế nó phải đủ hấp dẫn để người sở hữu có thể sẵn sàng hy sinh quyền sử dụng đó. Thứ ba: quan hệ tín dụng dựa trên cơ sở sự tin tưởng giữa người đi vay và người cho vay. Có thể nói đây là điều kiện tiên quyết để thiết lập quan hệ tín dụng. Người cho vay tin tưởng rằng vốn sẽ được hoàn trả đầy đủ khi đến hạn.
Người đi vay cũng tin tưởng vào khả năng phát huy hiệu quả của vốn vay. Sự gặp gỡ giữa người đi vay và người cho vay về điểm này sẽ là điều kiện để hình thành quan hệ tín dụng. Cơ sở của sự tin tưởng này có thể do uy tín của người đi vay, do giá trị tài sản bảo đảm hoặc do sự bảo lãnh của người đi vay. Các hình thức tín dụng 1.
Căn cứ vào thời hạn tín dụng Tín dụng ngắn hạn là các khoản cho vay có thời hạn không quá 12 tháng nhằm đáp ứng các nhu cầu vốn ngắn hạn như bổ sung ngân quỹ, bảo đảm yêu cầu thanh toán đến hạn, bổ sung nhu cầu vốn lưu động hoặc đáp ứng nhu cầu tiêu dùng cá nhân. Đây là loại tín dụng có mức rủi ro thấp vì thời hạn hoàn vốn nhanh, giảm thiểu được các rủi ro về lãi suất, lạm phát cũng như sự bất ổn của môi trường kinh tế vĩ mô. Vì thế lãi suất thường thấp hơn các loại tín dụng khác. Tín dụng trung và dài hạn có thời hạn cho vay trên 1 năm.
Tín dụng trung hạn có thời hạn cho vay từ trên 1 năm đến 5 năm, tín dụng dài hạn có thời hạn cho vay trên 5 năm. Tín dụng trung dài hạn nhằm đáp ứng các nhu cầu vốn trung dài hạn của người đi vay như thực hiện các dự án đầu tư phát triển sản xuất kinh doanh hoặc phục vụ đời sống, đầu tư mở rộng sản xuất… vì thời hạn cho vay dài và kết qủa đầu tư thường là dự tính nên tín dụng trung hạn chứa đựng mức rủi ro cao, kể cả rủi ro hệ thống và rủi ro phi hệ thống. Căn cứ vào chủ thể tham gia quan hệ tín dụng Tín dụng thương mại: là quan hệ tín dụng giữa các doanh nghiệp được thực hiện thông qua hình thức mua bán chịu hàng hóa, trong đó người cho vay là người bán chịu hàng hóa vì đã chuyển nhượng tạm thời quyền sử dụng lượng giá trị hàng hóa bán chịu cho người mua. Ngược lại, thay vì việc phải trả tiền ngay, người mua được sử dụng số tiền đó một thời gian nhất định phụ thuộc vào thời gian bán chịu.
Tín dụng ngân hàng: là quan hệ vay vốn giữa ngân hàng với các chủ thể kinh tế khác trong xã hội, trong đó ngân hàng giữ vai trò vừa là người đi vay vừa là người cho vay. Tín dụng ngân hàng được thực hiện dưới hình thức tiền tệ (hiện kim). Tín dụng nhà nước: Là quan hệ tín dụng được thực hiện dưới hình thức tiền tệ hoặc hiện vật giữa một bên là Nhà nước và một bên là các chủ thể kinh tế khác trong xã hội. Trong đó Nhà nước là người đi vay bằng cách phát hành các trái phiếu và tín phiếu tùy tính chất thiếu hụt của Ngân sách.
Người mua các chứng khoán này là người cho Nhà nước vay bao gồm: các hộ gia đình, các ngân hàng và các định chế phi ngân hàng, Ngân hàng Trung ương hoặc các tổ chức nước ngoài. Tín dụng doanh nghiệp: Tín dụng doanh nghiệp là quan hệ tín dụng trực tiếp giữa các doanh nghiệp và công chúng. Quan hệ vay mượn này được thể hiện dưới hai hình thức hoàn toàn khác nhau: Thứ nhất là quan hệ tín dụng tiêu dùng giữa doanh nghiệp và khách hàng thông qua hình thức mua trả góp, trả chậm. Thứ hai là các doanh nghiệp vay vốn của các doanh nghiệp và cá nhân thông qua phát hành các loại trái phiếu trên thị trường vốn.
Chức năng và vai trò của tín dụng 1. Chức năng của tín dụng 1. Chức năng phân phối lại vốn tiền tệ trong phạm vi toàn xã hội Thông qua hoạt động tín dụng, nguồn vốn xã hội sẽ được di chuyển từ chủ thể đang thừa vốn sang chủ thể thiếu vốn. Nguồn vốn nhàn rỗi của xã hội được sử dụng vào các hoạt động đầu tư và sản xuất kinh doanh sinh lợi cao hơn, tạo cơ sở vật chất và việc làm cho xã hội.
Tín dụng cũng đem lại lợi ích cho cả chủ thể thừa vốn do thu được lãi cho vay và lợi ích của chủ thể thiếu vốn để đáp ứng nhu cầu sản xuất kinh doanh, dịch vụ và đời sống. Chức năng thanh khoản Nhìn một cách tổng quát ta thấy rằng khi một khoản tín dụng được cấp, có nghĩa là người đi vay đang thiếu thanh khoản để chi trả cho một khoản hàng hóa, dịch vụ nào đó mà họ muốn sử dụng, hay sử dụng rồi mà chưa thanh toán. Khi một khoản thặng dư tài chính chưa đuợc sử dụng, nó nằm trong vị thế là tiền cất trữ, và khi mà nó đưa ra để cho vay thì nó trở thành phương tiện lưu thông hay phương tiện thanh toán của nền kinh tế. Khi khoản thu nhập chưa sử dụng, thì khoản thu nhập đó nằm ở dạng một phương tiện thanh toán tiềm tàng và gần như nó đang ở vị thế của phương tiện cất trữ.
Chừng nào các tổ chức tín dụng hay chủ sở hữu của khoản tiền đó cấp cho một chủ thể khác để sử dụng thì thực sự khoản tiền đó sẽ đi vào lưu thông. Chức năng tạo tiền Tín dụng không những tạo ra thanh khoản mà nó còn làm cho số lượng phương tiện lưu thông và thanh toán trong nền kinh tế tăng lên. Khi một ngân hàng cấp một khoản tín dụng thì điều đó cũng đồng nghĩa với việc nó tạo ra một khoản tiền cung ứng thêm trong nền kinh tế. Thông thường các chủ thể kinh tế gửi vào ngân hàng số tiền mà mình đang cần để làm phương tiện thanh toán để sử dụng các dịch vụ thanh toán của ngân hàng như séc, ủy nhiệm chi,.
nhưng khi ngân hàng dựa trên cơ sở số dư tiền gửi này để cấp thêm một khoản tín dụng thì lập tức phương tiện thanh toán sẽ tăng lên một lượng tương ứng. Vai trò của tín dụng 1. Tín dụng góp phần thúc đẩy quá trình tái sản xuất xã hội Thứ nhất: Vai trò quan trọng nhất của tín dụng là cung ứng vốn một cách kịp thời cho các nhu cầu sản xuất và tiêu dùng của các chủ thể kinh tế trong xã hội. Nhờ đó mà các chủ thể này có thể đẩy nhanh tốc độ sản xuất cũng như tốc độ tiêu thụ sản phẩm.
Thứ hai: Một hệ thống các tổ chức tín dụng đa dạng không những thỏa mãn nhu cầu đa dạng về vốn của nền kinh tế mà còn làm cho sự tiếp cận các nguồn vốn tín dụng trở nên dễ dàng, tiết kiệm chi phí giao dịch và giảm bớt các chi phí nguồn vốn cho các chủ thể kinh doanh. Thứ ba: việc mở rộng và nâng cao hiệu quả các hình thức tín dụng sẽ tạo sự chủ động cho các doanh nghiệp trong việc thực hiện kế hoạch sản xuất kinh doanh khi nó không phải phụ thuộc quá nhiều vào nguồn vốn tự có của bản thân. Điều này giúp cho các nhà sản xuất tích cực tìm kiếm cơ hội đầu tư mới và nâng cao năng lực sản xuất của xã hội. Thứ tư: Các nguồn vốn tín dụng được cung ứng luôn kèm theo các điều kiện tín dụng để hạn chế rủi ro, buộc những người đi vay phải quan tâm thực sự đến hiệu quả sử dụng vốn để đảm bảo mối quan hệ lâu dài với các tổ chức cung ứng tín dụng.
Tín dụng là kênh chuyển tải tác động của nhà nước đến các mục tiêu vĩ mô Các mục tiêu vĩ mô của nền kinh tế bao gồm ổn định giá cả, tăng trưởng kinh tế và tạo công ăn việc làm. Việc đảm bảo đạt được mục tiêu kinh tế vĩ mô hài hòa phụ thuộc một phần vào khối lượng và cơ cấu tín dụng xét cả về mặt thời hạn cũng như đối tượng tín dụng.