Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn phát triển QHTM Việt Nam –Lào Chương 2: Thực trạng QHTM Việt Nam Lào từ năm 1990 đến nay Chương 3: Giải pháp phát triển QHTM Việt Nam – Lào 14 Chƣơng 1 Cơ sở lý luận và thực tiễn của quan hệ thƣơng mại Việt Nam-Lào 1.1 Cơ sở lý luận của quan hệ thƣơng mại Việt Nam - Lào 1.1 Những vấn đề cơ bản của thương mại quốc tế 1.1 Khái niệm và xu hướng của thương mại quốc tế - Khái niệm thương mại quốc tế Thuật ngữ kinh doanh đã được Aristot sử dụng vào những năm 380 -332 trước công nguyên và được dùng trong thời kỳ Hy Lạp. Sự phát triển nền văn minh của loài người đã gắn liền với các hoạt động buôn bán. Quan hệ trao đổi hàng hóa nội bộ, trong từng buôn làng, từng vùng đã dần dần được mở rộng ra khỏi phạm vi quốc gia. Đây là hình thức của quan hệ thương mại quốc tế.
Hoạt động thương mại quốc tế là một tất yếu lịch sử, mang tính khách quan. Khi nghiên cứu “Tư Bản” Các Mác đã định nghĩa “Thương mại quốc tế là sự mở rộng hoạt động thương mại ra khỏi phạm vi một nước. Đó là lĩnh vực trao đổi hàng hóa trên thị trường thế giới. Thông qua hoạt động thương mại quốc tế, các nước buôn bán những hàng hóa dịch vụ để thu lợi nhuận” Thương mại quốc tế là một hoạt động nằm trong khâu lưu thông hàng hóa.
Từ xưa người ta đã biết nhiều đến sự trao đổi hàng hóa giữa các nước thông qua các hoạt động mua và bán qua biên giới mà sau này gọi là hoạt động ngoại thương. Sau chiến tranh thế giới thứ hai trật tự kinh tế, chính trị của thế giới đã được sắp đặt lại cùng với thành tựu rực rỡ về khoa học kỹ thuật và công nghệ đã dẫn đến sự phát triển đa dạng các hình thức quan hệ kinh tế, thương mại giữa các nước. Khái niệm kinh tế đối ngoại đã ra đời để chỉ các hoạt động đó. Khái niệm này chủ yếu được các nước có nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung sử dụng, nó bao gồm các hoạt động khác nhau như ngoại thương, hợp tác quốc tế về đầu tư và thu hút nguồn vốn đầu tư của nước ngoài, hợp tác quốc tế về khoa học công nghệ và các hoạt động thu ngoại tệ khác.
Khái niệm thương mại quốc tế có nội dung rộng hơn khái niệm ngoại 15 thương, không chỉ bao gồm các hàng hóa hữu hình mà còn bao gồm các dịch vụ liên quan đến hàng hóa thông thường như dịch vụ và kỹ thuật, mua bán phát minh sáng chế, dịch vụ vận tải, thương mại. Khái niệm thương mại quốc tế được dùng nhiều nhất cùng với sự hình thành của GATT và ngày nay là WTO. Khái niệm này gắn liền với nội dung điều chỉnh của GATT đó là thương mại quốc tế. Khi GATT được thành lập từ năm 1948, Hiệp ước này chủ yếu điều tiết thương mại hàng hóa hữu hình.
Từ đó tới nay, thương mại quốc tế đã phát triển nhanh chóng, mở rộng sang cả lĩnh vực dịch vụ như: Bảo hiểm, vận tải hàng không, vận tải biển, du lịch, xây dựng, tư vấn. Các loại hình dịch vụ này, cùng với các vấn đề thương mại trong đầu tư và bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ liên quan đến thương mại, đã phát triển nhanh chóng trở thành một bộ phận quan trọng của thương mại quốc tế. GATT đã không còn đáp ứng được với thực tiễn thương mại thế giới và đến năm 1995 WTO ra đời theo Hiệp Định Marrakesh[38]. WTO hoạt động dựa trên một bộ các luật lệ và quy tắc điều chỉnh các lĩnh vực thương mại quốc tế.
Tất cả đều được xây dựng trên cơ sở các nguyên tắc cơ bản như: thương mại không có sự phân biệt đối xử, chỉ bảo hộ bằng thuế quan, tạo dựng một nền tảng ổn định cho thương mại. Thương mại ngày càng tự do hơn thông qua đàm phán. nhằm phát triển hơn nữa các quan hệ thương mại quốc tế, đẩy mạnh tự do hóa thương mại toàn cầu. Từ 1/1/1995, với sự ra đời của tổ chức Thương mại Thế giới, khái niệm thương mại quốc tế đã được chuẩn hóa và được sử dụng rộng rãi hơn.
Ngày nay khái niệm thương mại quốc tế được hiểu là “Thương mại quốc tế là quá trình trao đổi hàng hóa, dịch vụ (hàng hóa hữu hình và hàng hóa vô hình) giữa các nước thông qua mua bán, lấy tiền làm môi giới, nhằm mục đích kinh tế và lợi nhuận”. Cách định nghĩa này được sử dụng nhiều nhất khi xem xét dựa vào các chức năng của thương mại quốc tế. Vai trò của thương mại như chiếc cầu nối giữa cung, cầu hàng hóa, dịch vụ xét về số lượng, chất lượng và thời gian sản xuất. Trong nhiều trường hợp, trao đổi hàng hóa và dịch vụ được đi kèm với việc trao đổi các yếu tố sản xuất như lao động và vốn, đặc biệt trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế.
16 Cơ sở của quan hệ thương mại quốc tế là do yêu cầu khách quan của sự phát triển và xã hội hóa lực lượng sản xuất thế giới mà nền tảng của nó dựa trên sự phân công lao động quốc tế. Quan hệ thương mại quốc tế là toàn bộ các hoạt động trao đổi, hợp tác giữa các quốc gia, các khối liên kết trong lĩnh vực thương mại dựa trên cơ sở các hiệp định thương mại, các cam kết thương mại song phương và đa phương. Ngày nay, các quốc gia phát triển theo xu hướng toàn cầu hóa cùng nhau hội nhập và phát triển. Việc tăng cường phát triển các mối quan hệ thương mại quốc tế là yêu cầu cấp thiết và tất yếu.
Phát triển quan hệ thương mại quốc tế chính là tăng cường các hoạt động giữa các quốc gia trong khu vực và trên toàn thế giới. Lý thuyết lợi thế tuyệt đối là một căn cứ để mỗi quốc gia đánh giá khả năng tham gia thương mại quốc tế với các quốc gia có cơ cấu kinh tế khác biệt, hay là giữa các quốc gia có cơ cấu kinh tế bổ sung nhau. Lý thuyết này không chỉ đưa ra những hướng chuyên môn hóa, trao đổi giữa các quốc gia, mà còn là công cụ để các quốc gia tăng sự giàu có của mình. Tuy nhiên, trên thực tế, lợi thế tuyệt đối của mỗi quốc gia không có nhiều, có những quốc gia hoàn toàn không có lợi thế tuyệt đối so với quốc gia khác và đại bộ phận nền thương mại thế giới là sự hợp tác quốc tế không phải chỉ dựa trên lợi thế tuyệt đối mà phải dựa trên lợi thế bao quát hơn.
Đó là lợi thế tương đối hay lợi thế so sánh. - Xu hướng của thương mại quốc tế Những năm gần đây tình hình kinh tế thế giới có nhiều thay đổi kéo theo sự thay đổi của xu hướng thương mại quốc tế, được thể hiện rõ nhất qua các đặc điểm sau: Thương mại quốc tế những năm gần đây có xu hướng tăng với tốc độ nhanh, cao hơn tốc độ tăng trưởng của nền sản xuất, điều đó đưa đến tỷ trọng kim ngạch ngoại thương trong tổng sản phẩm quốc dân của mỗi quốc gia ngày càng lớn, thể hiện mức độ mở cửa gia tăng của nền kinh tế mỗi quốc gia ra thị trường thế giới. Tốc độ tăng trưởng của thương mại quốc tế “vô hình” nhanh hơn tốc độ tăng trưởng “hữu hình” thể hiện ở sự biến đổi sâu sắc trong cơ cấu kinh tế, cơ cấu hàng 17 xuất nhập khẩu của mỗi quốc gia. Điều này đã kéo theo nhiều quốc gia đang có sự đầu tư phát triển nhiều lĩnh vực dịch vụ.
Cơ cấu mặt hàng trong thương mại quốc tế cũng có những thay đổi sâu sắc với những xu hướng chính sau: Giảm đáng kể tỷ trọng của nhóm hàng nguyên vật liệu, tăng nhanh tỷ trọng của dầu mỏ và khí đốt. Giảm tỷ trọng hàng thô, tăng nhanh tỷ trọng sản phẩm công nghiệp chế tạo, nhất là máy móc, thiết bị và những mặt hàng tinh chế. Giảm tỷ trọng buôn bán những mặt hàng chứa đựng nhiều lao động giản đơn, tăng nhanh những mặt hàng kết tinh lao động thành thạo, lao động phức tạp. Tỷ trọng buôn bán những mặt hàng chứa đựng hàm lượng vốn lớn, công nghệ cao tăng nhanh.
Sự phát triển của nền thương mại thế giới ngày càng mở rộng, phạm vi và phương thức cạnh tranh với nhiều công cụ khác nhau, không những về mặt chất lượng, giá cả, mà còn về điều kiện giao hàng, bao bì, mẫu mã, thời hạn thanh toán, các dịch vụ sau bán hàng… và các tiêu chuẩn khác gắn với trách nhiệm xã hội và quyền lợi người tiêu dùng. Trình độ phát triển của các quan hệ thị trường càng cao, càng mở rộng phạm vi thị trường sang các lĩnh vực tài chính- tiền tệ. Công cụ tài chính – tiền tệ ngày càng đóng vai trò quan trọng trong quan hệ kinh tế quốc tế. Đi đôi với các quan hệ mậu dịch, sự phân công lao động quốc tế, hợp tác đầu tư, hợp tác khoa học, kỹ thuật, chuyển giao công nghệ …ngày càng đa dạng, phong phú, bổ sung cho nhau, thúc đẩy nhau phát triển.
Chu kỳ sống của từng loại sản phẩm ngày càng được rút ngắn, việc đổi mới thiết bị, đổi mới công nghệ, đổi mới mẫu mã hàng hóa diễn ra liên tục, đòi hỏi các doanh nghiệp phải năng động, nhạy bén khi gia nhập thị trường thế giới. Các sản phẩm có hàm lượng khoa học và công nghệ cao có sức cạnh tranh mạnh mẽ trong khi các sản phẩm nguyên liệu thô ngày càng mất giá, kém sức cạnh tranh. 18 Sự phát triển của các quan hệ kinh tế quốc tế một mặt thúc đẩy tự do hóa thương mại song phương. Mặt khác, giữa các khối liên kết kinh tế cũng hình thành các hàng rào mở, yêu cầu bảo hộ mậu dịch ngày càng tinh vi hơn.2 Các học thuyết về thương mại quốc tế làm cơ sở phát triển quan hệ thương mại giữa hai nước Lý thuyết giải thích cơ sở và vai trò của thương mại quốc tế được khái quát từ lý thuyết của trường phái trọng thương, với đại diện là Thomas Mun.
Ông cho rằng tiền tệ là tiêu chuẩn cơ bản của của cải quốc gia, hàng hóa chỉ là phương tiện để tăng tiền tệ thông qua hoạt động ngoại thương và đặc biệt là vai trò bảo hộ của nhà nước trong hoạt động ngoại thương. Đến lý thuyết “Lợi thế tuyệt đối”, mà đại diện là Adam Smith. Trong tác phẩm “Nghiên cứu về bản chất và nguyên nhân giàu có của các dân tộc”(năm 1776). Ông cho rằng nguồn gốc của thương mại quốc tế bắt nguồn từ nguyên tắc phân công lao động.