chương I giới thiệu, danh mục tài liệu tham khảo, đề tài gồm có các chương: Chương 2: Tổng quan lý thuyết về BHYT và các phương thức thanh toán chi phí khám chữa bệnh BHYT. Chương 3: Thực trạng của các phương thức thanh toán chi phí KCB tại Việt Nam Chương 4: Phân tích các phương thức thanh toán chi phí KCB BHYT. Chương 5: Đề xuất giải pháp và Kết luận 7 CHƯƠNG 2 TỔNG QUAN LÝ THUYẾT 2.1 Lược khảo lý thuyết về hiệu quả trong BHYT 2.1 Khái niệm về hiệu quả trong BHYT Theo ý nghĩa kinh tế học, nói đến tính hiệu quả là nói đến sự sinh lợi trên một đồng vốn đầu tư (tỷ suất lợi nhuận). Theo nghĩa rộng, tính hiệu quả được hiểu là việc sử dụng tối thiểu các nguồn lực nhưng vẫn đảm bảo đạt được các mục tiêu của công ty.
Nói cách khác tính hiệu quả nhằm hướng đến việc cải tiến hoạt động để giảm giá thành hoặc giảm được nguồn lực sử dụng trên một đơn vị kết quả tạo ra (Võ Tất Thắng, 04/2016). Trên thực tế, tính hiệu quả của một hệ thống y tế được xem xét trên hai tiêu chí lớn: tiêu chí thứ nhất là tính công bằng trong việc tiếp cận với hệ thống y tế này, có nghĩa là khả năng được chăm sóc y tế tùy thuộc vào nhu cầu về y tế của người bệnh và không phụ thuộc vào phương tiện tài chính mà họ có; tiêu chí thứ hai là chất lượng dịch vụ y tế, có nghĩa là một loại hình dịch vụ y tế được tổ chức để đáp ứng tốt những mong đợi của người dân, có sự tham gia của các nhân viên y tế được đào tạo, với số lượng đủ cũng như có những trang thiết bị chăm sóc y tế đáp ứng tiêu chí an toàn- vệ sinh và các cơ sở y tế này được phân bổ trên toàn quốc (Võ Tất Thắng, 04/2016). Hiệu quả được gắn với một mục tiêu cụ thể, hiệu quả trong vấn đề gì. Những nhà kinh tế thường phân biệt ba khái niệm khác nhau của tính hiệu quả: Hiệu quả kỹ thuật, hiệu quả chi phí và hiệu quả phân bổ.
Xét trên khía cạnh phân bổ nguồn lực, tính hiệu quả trong hệ thống y tế được thể hiện thông qua việc phân bổ hợp lý các nguồn lực đầu tư. Lấy ví dụ về việc đầu tư xây dựng cơ bản cho các bệnh viện, liệu 8 người ta nên đầu tư xây dựng các bệnh viện tuyến trung ương hay lấy số tiền đó để củng cố các bệnh viện tuyến dưới. Có 2 dạng quan trọng của tính bất định trong lĩnh vực chăm sóc sức khỏe: tính bất định trong cầu dịch vụ chăm sóc sức khỏe và tính bất định trong hiệu quả của phương án chữa trị. Dù cho những nghiên cứu y tế có thể chỉ ra tính hiệu quả trung bình của một phương án chữa trị trong những điều kiện nhất định, nhưng nói cho cùng, nó không thể mô tả liệu một phương án chữa trị có thể hiệu quả cho một cá nhân cụ thể trong một điều kiện cụ thể (Arrow, 1963).
CÁC PHƯƠNG PHÁP ĐO LƯỜNG HIỆU QUẢ TRONG LĨNH VỰC KINH TẾ SỨC KHỎE a) Phương pháp Phân tích lợi ích-chi phí (Cost-benefit analysis:CBA) Vào năm 1950, một tiểu bang thuộc quốc hội Mỹ đã khuyến cáo các nước dùng tỷ số lợi ích và chi phí để so sánh các dự án. Việc ra đời Medicare và Medicaid vào năm 1965 đã làm cho các nhà kinh tế tập trung nhiều vào phương pháp CBA, đó là bối cảnh của sự ra đời phương pháp CBA (Võ Tất Thắng, 04/2016). CBA đo lường lợi ích và chi phí của các dự án bằng tiền điều này yêu cầu chúng ta phải quy thành tiền giá của những cải thiện về mặt sức khỏe và phúc lợi. Những thách thức này dẫn đến sự phát triển những ý tưởng mới và các nhà phân tích sức khỏe dùng một thuật ngữ chung là đánh giá kinh tế (economic evaluation) để đại diện cho toàn bộ các công cụ đánh giá.
* Nguyên tắc cơ bản: Trong phạm vi của kinh tế học sức khỏe, tranh cãi nảy sinh ở các chương trình tiêm chủng, giám sát bằng sáng chế phát minh, hoặc cấy ghép tim thường bao gồm nhiều vấn đề và chỉ trích mà tư duy theo lợi ích- chi phí đề cập đến. Phương pháp CBA dựa trên tiền đề rằng một dự án hay một chính sách sẽ cải thiện phúc lợi xã hội nếu lợi ích đi cùng với nó lớn hơn chi phí. Chúng ta phải tính toán không chỉ những lợi ích và chi phí có liên quan trực tiếp đến dự án mà còn tính 9 luôn những lợi ích và chi phí gián tiếp thông qua ngoại tác (externalities) hay tác động bên thứ 3 (Võ Tất Thắng, 04/2016). *Đo lường chi phí: Như trong lý thuyết kinh tế chuẩn, chi phí được đo lường bằng chi phí cơ hội.
Điểm khác biệt phổ biến giữa việc đánh giá dự án công và tư là ở chỗ các dự án công thường có chi phí cơ hội mà không có thị trường để giúp xác định giá. Điều gây tranh cãi nhất của phương pháp CBA là cách định giá không chính xác đối với những việc rất khó để định giá lợi ích và chi phí. b) Phân tích hiệu quả- chi phí (cost-effectiveness analysis:CEA) Do có khó khăn trong việc định giá sự sống và sức khỏe bằng tiền, cũng như xác định giá của các lợi ích vô hình, phương pháp phân tích CEA đôi khi cung cấp một cách tiếp cận thực tế hơn để ra quyết định hơn là phương pháp phân tích CBA. Trong phân tích CEA, chúng ta giả định rằng mục tiêu là rất đáng mong muốn ngay cả khi lợi ích chưa được đánh giá bằng tiền, tức là chúng ta không cần quan tâm tới lợi ích là bao nhiêu vì mục tiêu đã được xác định là cần phải thực hiện.
Việc so sánh chi phí trên mỗi đơn vị đầu ra trong phương pháp CEA có chính xác hay không phụ thuộc vào tỷ số chi phí gia tăng với mức đầu ra gia tăng. Gỉa sử mức chi phí mà xã hội gánh chịu do có dự án là C1-C0 và đầu ra đạt được về mặt sức khỏe là E1-E0 hiệu quả của dự án sẽ được so sánh dựa vào tỷ số Tỷ số CEA= C1-C0 E1-E0 Trong đó chi phí được đo lường bằng đơn vị tiền tệ, các đầu ra là các đo lường về mặt sức khỏe. Có thể thấy, để so sánh các dự án với nhau thì các đầu ra phải được đo lường cùng một đơn vị (Võ Tất Thắng, 04/2016).2 Lý thuyết về cầu bảo hiểm sức khỏe Cầu bảo hiểm sức khỏe có nhiều thông tin không hoàn hảo, nhiều sự lựa chọn của các cá nhân như người tiêu dùng hay nhà cung ứng dịch vụ chăm sóc sức khỏe có liên quan đến một mức độ bất định đáng kể (Santerre và Neun, 2010). Ví dụ, đối với một người tiêu dùng, nhiều loại bệnh tật xảy đến một cách ngẫu nhiên, và vì thế số lượng chi tiêu y tế là bất định.
Tương tự từ góc nhìn của nhà cung ứng dịch vụ chăm sóc sức khỏe, số lượng bệnh nhân và các loại hình chữa trị là không thể biết trước khi chúng thực sự xảy ra. Do đó với những sự kiện không thể tiên đoán được và đi kèm là một mức độ rủi ro đáng kể nên hầu hết mọi người nhìn chung không thích rủi ro và sẵn lòng chi trả mộ số tiền để né tránh (Võ Tất Thắng, 04/2016). Chi tiêu cho y tế hay những khoản mất mát trong sức khỏe là yếu tố quyết định đến việc mua bảo hiểm y tế, khi việc chi tiêu cho y tế tăng lên để giảm thiểu chi tiêu cho y tế hay để được chi trả một khoản cho sức khỏe thì người tiêu dùng phải tham gia BHYT nhằm né tránh rủi ro trong lĩnh vực sức khỏe. Tổ chức bảo hiểm y tế với hoạt động trên quy mô lớn, cơ quan bảo hiểm trải đều rủi ro cho nhiều người tiêu dùng sao cho, về trung bình, tổng số phí bảo hiểm thu được ít nhất đủ bù đắp cho tổng chi phí phải trả cho các dịch vụ chăm sóc sức khỏe.
Bảo hiểm thanh toán bằng cách chỉ trả chi phí y tế tạo ra với rủi ro đạo đức hiệu quả lẫn không hiệu quả. Cầu bảo hiểm y tế thực sự phản ánh một hàm cầu phái sinh bởi giá trị của nó xuất phát từ khả năng của dịch vụ y tế trong việc tái tạo, duy trì và cải thiện chất lượng, số lượng cuộc sống. Vì vậy, bảo hiểm y tế mang lại giá trị cho người tiêu dùng thông qua việc cải thiện khả năng nhận thức của họ đối với dịch vụ y tế. Mức giá dịch vụ y tế cao có thể khuyến khích sự hiệu quả thông qua việc hạn chế tiêu dùng dịch vụ y tế và ngăn cản rủi ro đạo đức (không hiệu quả).3 Lý thuyết về hiệu quả trong lĩnh vực sức khỏe Tính hiệu quả: Một trạng thái của nền kinh tế được cho là có hiệu quả kinh tế khi tại đó các bên không thể có thêm lợi ích ròng (tức lợi ích vẫn còn lớn hơn chi phí) hoặc trạng thái giao dịch mà tại đó, nếu một bên có thêm lợi ích thì bên còn lại sẽ phải mất đi một phần lợi ích tương đương (Võ Tất Thắng, 04/2016).
Phân tích kinh tế thường sử dụng phân tích cung cầu trong thị trường cạnh tranh để xác định trạng thái mà tại đó nguồn lực được phân bổ một cách hiệu quả nhất.3: Hình vẽ 1 và 2 minh họa cho đường cầu và đường cung trong thị trường cạnh tranh Hình 1 cho thấy phần P1Q1 là phần người tiêu dùng phải trả, phần tam giác màu là mức sẵn lòng trả nhưng thực tế người tiêu dùng không phải trả đây là phần thặng dư của người tiêu dùng. Hình 2 tương tự phần P1Q1 là doanh thu của người sản xuất nhưng tổng chi phí sản xuất chỉ là phần hình thang nằm dưới đường cung, phần tam giác màu là thặng dư của người sản xuất. Có thể thấy rằng tính hiệu quả chỉ đạt được ở một mức sản lượng tối ưu, không quá nhiều hoặc không quá ít trong thị trường cạnh tranh. Tuy nhiên, có nhiều loại hàng hóa không thể xác định sự ưa thích của người tiêu dùng cũng như giá sản xuất 12 một cách trực tiếp, những loại hàng hóa này không đơn giản chỉ dựa vào tín hiệu thị trường để quyết định.