CHƯƠNG 1 BAO HIEM Y TE CHO NGƯỜI NGHÈO: NHUNG VAN DE LÍ LUẬN VA KINH NGHIEM 1. Những van đề chung về bao hiểmy tế 1. Khái niệm, đặc điểm và bản chất của bảo hiểm y tế 1. Một số khái niệm cơ bản liên quan đến bảo hiểm * Bảo hiểm Trong đời sống hàng ngày, con người luôn đối mặt với những biến động phức tạp ở mọi lúc, mọi nơi, mọi tình huống, mọi lĩnh vực của đời song xã hội.
Những biến động này trong nhiều trường hợp là không thể nhận biết và đoán trước được. Đời sống xã hội càng phát triển thì những biến động bat ngờ không ngừng tăng lên. Những biến động đó được gọi là rủi ro. Rủi ro có thể do con người hoặc do thiên nhiên gây ra và hậu quả là rất khó lường.
Đề tồn tại, phát triển, con người luôn tìm cách dau tranh, né tránh, kiểm soát, hạn chế và chia sẻ những rủi ro có thé gặp phải. Sự ra đời của bảo hiểm là hướng tới mục đích đó. Theo Monique Gaullier, Bảo hiểm là một nghiệp vụ qua đó, một bên là người được bảo hiểm cam đoan trả một khoản tiền gọi là phí bảo hiểm thực hiện mong muốn dé cho mình hoặc dé cho người thứ ba trong trường hợp xảy ra rủi ro sẽ nhận được một khoản đền bù các tổn that được trả bởi một bên khác: đó là người bảo hiểm. Người bảo hiểm nhận trách nhiệm đối với toàn bộ rủi ro và đền bù các thiệt hai theo các phương pháp của thống kê.
Tập đoàn bảo hiểm AIG (Mỹ) thì quan niệm: Bảo hiểm là một cơ chế, theo cơ chế này, một người, một doanh nghiệp hay một tô chức chuyên nhượng rủi ro cho công ty bảo hiểm, công ty đó sẽ bồi thường cho người được bảo hiểm các tốn thất thuộc phạm vi bao hiém va phan chia gia tri thiệt hai giữa tat cả những người được bảo hiểm. Từ điển Wikipedia thì cho rang: Bảo hiểm là một hoạt động qua đó một cá nhân có quyền được hưởng trợ cấp nhờ vào một khoản đóng góp cho mình hoặc cho người thứ 3 trong trường hợp xảy ra 10 rủi ro. Khoản trợ câp này do một tô chức có trách nhiệm đôi với toàn bộ các rủi ro và đền bù các thiệt hại trả theo các phương pháp của thống ké[48] Như vậy, dù diễn đạt có khác nhau, nhưng các cách hiểu trên đều có điểm chung, coi bảo hiểm là những quan hệ kinh tế gắn liền với quá trình hình thành, phân phối và sử dụng các quỹ tập trung (quỹ bảo hiểm) nhằm xử lý các rủi ro, các biến cố. Bảo hiểm bảo đảm cho quá trình tái sản xuất và đời sông của xã hội được diễn ra bình thường.
Nói cách khác, bảo hiểm là biện pháp chia sẻ rủi ro của một người hay của số một ít người cho cả cộng đồng những người có khả năng gặp rủi ro cùng loại; bằng cách mỗi người trong cộng đồng góp một số tiền nhất định vào một quỹ chung và từ quỹ chung đó bù đắp thiệt hại cho thành viên trong cộng đồng không may bị thiệt hại do rủi ro đó gây ra. Theo đó, bảo hiểm được xem như là một cách thức chuyền giao rủi ro tiềm năng một cách công bằng từ một có thé sang cộng đồng thông qua phí bảo hiểm. Bảo hiểm có nhiều hình thức khác nhau, trong đó chủ yếu có bảo hiểm kinh doanh, bảo hiểm xã hội, bảo hiểm thương mại và bảo hiểm y tế. * Bảo hiểm xã hội BHXH là gì thì cũng tùy thuộc vào cách tiếp cận nghiên cứu, nhưng khái niệm được đưa ra trên trang Từ điển Wikipedia là khá thuyết phục.
Đó là: Bảo hiểm xã hội là loại hình bảo hiểm do Nhà nước tổ chức và quản lý nhằm thỏa mãn các nhu cau vật chất ôn định cuộc sống của người lao động va gia đình họ khi gặp những rủi ro làm giảm hoặc mất khả năng lao động [6]. Về thực chất, BHXH là sự bảo đảm thay thế hoặc bù đắp một phần thu nhập cho người lao động khi họ bị mất hoặc giảm thu nhập do bị ốm đau, thai sản, tai nan lao động và bệnh nghề nghiệp, tàn tật, thất nghiệp, tudi gia, tử tuất; dựa trên cơ sở một quỹ tài chính do sự đóng góp của các bên tham gia BHXH, có sự bảo hộ của Nhà nước theo pháp luật, nhăm bao đảm an toàn đời sống cho người lao động và gia đình họ, đồng thời góp phần đảm bảo an toàn xã hội. 11 Như vậy, bảo hiểm xã hội là biện pháp hữu hiệu chia sẻ rủi ro của một người hay của số một ít người cho cả cộng đồng những người có khả năng gặp rủi ro cùng loại, bằng cách mỗi người trong cộng đồng giúp một số tiền nhất định vào một quỹ chung và từ quỹ chung đó bù đắp thiệt hại cho thành viên trong cộng đồng không may bị thiệt hại do rủi ro đó gây ra. Nói cách khác, BHXH được xem như là một cách thức chuyền giao rủi ro tiềm năng một cách công bang từ một cá thé sang cộng đồng thông qua phí bảo hiểm.
Theo khuyến nghị của Tổ chức Lao động Quốc tế (ILO) tại Công ước Gionevo năm 1952, hệ thong BHXH bao gom nhiéu hoat động, như: Chăm súc y tế; Trợ cấp ốm đau; Trợ cấp thất nghiệp; Trợ cấp tuổi già; Trợ cấp tai nạn lao động và bệnh nghề nghiệp; Trợ cấp gia đình; Trợ cấp sinh sản; Trợ cấp tàn phế; Trợ cấp cho người bị mat người nuôi dưỡng. Như trên đó dé cập, trong khuôn khô luận văn này chỉ nghiên cứu về hoạt động bảo hiểm xã hội về y tế, tức BHYT, cu thé hon là BHYT cho người nghẻo. * Bảo hiểm y tế Có thê thấy rằng BHYT rất cần thiết đối với mọi người dân, đặc biệt càng có ý nghĩa hơn trong việc KCB. Vậy thực chất BHYT là gì? Dé trả lời cho câu hỏi này đó có rất nhiều quan niệm về BHYT được đưa ra.
Sau đây là một số khái niệm điển hình: Công ước 102, năm 1952 của Tổ chức Lao động Quốc tế quy định: BHYT là một trong 9 nội dung của BHXH về các tiêu chuẩn tối thiểu cho các loại trợ cấp xã hội. Quan niệm này đó xác định BHYT là một nội dung của BHXH, nhưng chưa làm rõ nội ham của khái nệm BHYT là gi. Trong cuốn Từ dién Bách khoa Việt Nam, Tập I của NXB Từ điển Bách khoa, Hà Nội, năm 1995 cho rằng: “BHYT là loại bảo hiểm do nhà nước tổ chức quản lý nhằm huy động sự đóng góp của cá nhân, tập thể và cộng đồng xã hội để chăm lo sức khỏe, khám bệnh và chữa bệnh cho nhân dân. Quan niệm nay chủ yếu mới đề cập đến nguồn kinh phí huy động cho BHYT, nhưng vẫn chưa làm rõ mục đích hoạt động của BHY T”[29].
12 Theo quy định tại khoản 1, điều 2 Luật BHYT năm 2008, BHYT Ia hình thức bảo hiểm được áp dụng trong lĩnh vực chăm sóc sức khỏe, không vì mục đích lợi nhuận, do Nhà nước tổ chức thực hiện và các đổi tượng có trách nhiệm tham gia theo quy định cua Luật nay[21]. Quan niệm này đó phản ánh đầy đủ nội hàm của khái niệm BHYT, làm rõ bản chất, mục đích và quản lý BHYT. Nhà nước luôn động viên mọi thành viên trong xã hội tham gia BHYT trước hết là dé đảm bao cho cuộc sống của bản thân và gia đình và dé đề phòng khi ốm đau với phương châm “đóng góp khi lành, để dành khi 6m”. Như trên tổng thể nền kinh tế quốc dân và xét về phương diện điều tiết vĩ mô thì BHYT bằng cách nao đó va đang giúp nhà nước thực hiện một phan chức năng của mình trong quá trình phân phối lại để đảm bảo bình đắng và công bằng xã hội.
Vấn đề BHYT được phân tích trong luận văn này là dựa trên cơ sở khái niệm của Luật BHYT. * Quỹ bảo hiểm y tế Quỹ bảo hiểmy tế là quỹ tài chính được hình thành từ nguồn đóng bảo hiểm y tế và các nguồn thu hợp pháp khác, được sử dụng dé chi trả chi phí khám bệnh, chữa bệnh cho người tham gia bảo hiểm y tế, chi phí quản lý bộ máy của tô chức bảo hiểm y tế và những khoản chi phí hợp pháp khác liên quan đến bảo hiểmy tế. Theo Luật BHYT được Quốc hội khóa XII thông qua ngày 14/11/2008, Mức đóng BHYT được xác định theo tỷ lệ phần trăm của tiền lương, tiền công, tiền lương hưu, tiền trợ cấp hoặc mức lương tối thiểu của khu vực hành chính (4) Chi phí KCB BHYT do quỹ BHYT và người tham gia BHYT cùng chi trả; và (5) Quỹ BHYT được quản lý tập trung, thống nhất, công khai, minh bạch, đảm bao cân đôi thu chi và được Nhà nước bao hộ. Đặc điểm chủ yếu của hoạt động BHYT Thứ nhất, hoạt động BHYT là hoạt động không vì mục đích lợi nhuận Trước hết có thé nói rằng BHYT là một nội dung của BHXH - một trong 13 những bộ phận của hệ thống an sinh xã hội (ASXH) do nhà nước đứng ra tô chức và thực hiện theo hệ thống pháp luật nhằm giúp đỡ người bệnh khi gặp rủi ro về sức khỏe chứ không mưu cầu lợi nhuận.
Nguyên tắc cộng đồng chia sẻ rủi ro với ý tưởng nhân văn cao cả của nó đó loại trừ mục tiêu lợi nhuận thương mại của cộng đồng những người tham gia BHYT. Do vậy, hoạt động BHYT không có khoản thu lợi nhuận và đương nhiên cũng không vì mục đích lợi nhuận. Vì vậy tỉ lệ đóng góp chỉ được nâng lên theo đòi hỏi quyền lợi chung của quá trình thực hiện BHYT. Tức là tỉ lệ đóng góp BHYT chỉ được nâng lên theo nhu cầu chữa trị bệnh tật, nhu cầu nâng cao chất lượng KCB và ứng dụng những thành tựu khoa học tiên tiến và công tác KCB của cả cộng đồng.
Phương thức đoàn kết chia sẻ rủi ro phải được thực hiện bằng sự điều tiết nhằm cân bằng mang tính xã hội. Việc lập ra quỹ BHYT và từng bước mở rộng phạm vi đối tượng tham gia từ đó đó mở rộng phạm vi cân bằng, chia sẻ rủi ro trong cộng đồng những người tham gia BHYT. Nguyên tắc đoàn kết tương trợ chia sẻ rủi ro chỉ được thực hiện một cách đầy đủ và hợp lí thông qua những giới hạn nhất định. BHYT chỉ bao gồm những đối tượng là những người về nguyên tắc luôn có nhu cầu được bảo vệ về sức khỏe.
Thứ hai, hoạt động BHYT không làm tăng thu nhập cho người tham gia, và họ cũng không mong muốn được thụ hưởng các khoản đóng góp đó.