Chương 1. Tổng quan về đề tài nghiên cứu (bao gồm sự cần thiết của đề tài, mục tiêu nghiên cứu, đối tượng nghiên cứu, phạm vi nghiên cứu, câu hỏi nghiên cứu, những đóng góp mới của đề tài, phương pháp nghiên cứu và cấu trúc đề tài). Cơ sở lý luận và mô hình nghiên cứu (tác giả xây dựng mô hình Luận văn thạc sĩ Kinh tế nghiên cứu để phát triển giả thuyết nghiên cứu bao gồm các nghiên cứu có liên quan đến đề tài, trên cơ sở phân tích ưu nhược điểm của các kết quả nghiên cứu trong và ngoài nước làm cơ sở đề xuất một số vấn đề nghiên cứu mới). Phương pháp nghiên cứu (tác giả khái quát về Trung tâm y tế huyện Tân Trụ, quy trình nghiên cứu, phương pháp nghiên cứu).
Kết quả nghiên cứu (Thống kê đặc điểm mẫu nghiên cứu đã thu thập thông qua bảng câu hỏi, phân tích dữ liệu về thực trạng việc sẵn lòng chi trả BHYT cũng như những nhân tố ảnh hưởng đến sự thỏa mãn, lòng trung thành của người bệnh và thân nhân khi khám và điều trị dịch vụ BHYT và những nhân tố tác động đến sự thỏa mãn, mối quan hệ giữa sự thỏa mãn và lòng trung thành của người bệnh về nơi khám chữa bệnh). Kết luận và đề xuất hàm ý chính sách (căn cứ vào kết quả nghiên cứu đưa ra kết luận và đề xuất hàm ý chính sách). 8 CHƯƠNG 2 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU 2.1 Khái niệm về dịch vụ và chất lượng dịch vụ 2.1 Khái niệm về dịch vụ Dịch vụ là ngành rất phong phú thuộc nhiều loại hình khác nhau như: dịch vụ phi thương mại của khu vực Nhà nước và tư nhân: bệnh viện, trường học,…và dịch vụ thương mại: hàng không, bảo hiểm, ngân hàng, khách sạn,… Chính sự đa dạng đó mà dịch vụ được hiểu theo nhiều cách khác nhau. Theo Zeithaml và Britner 2000 (được trích trong Nguyễn Thị Nguyệt và Nguyễn Văn Ngọc, 2014) cho rằng dịch vụ là những hành vi, quá trình và cách thức thực hiện một công việc nào đó nhằm tạo giá trị sử dụng cho khách hàng nhằm thỏa mãn nhu cầu và mong đợi của khách hàng.
Luận văn thạc sĩ Kinh tế Theo Kotler & Armstrong 2004 (được trích từ Nhữ Ngọc Thanh, 2013): dịch vụ là những hoạt động hay lợi ích mà doanh nghiệp có thể cống hiến cho khách hàng nhằm thiết lập, củng cố và mở rộng những quan hệ hợp tác lâu dài với khách hàng. Như vậy có thể hiểu dịch vụ là những hoạt động tạo ra lợi ích nhằm thỏa mãn như cầu của khách hàng về một hoạt động nào đó. Các nhà nghiên cứu có thể có cách định nghĩa dịch vụ khác nhau, tuy nhiên thống nhất với nhau về tính chất dịch vụ. (Nguyễn Đình Phan và cộng sự, 2006) đưa ra một số đặc điểm của dịch vụ như sau: - Tính vô hình (Intangibility): Sản phẩm dịch vụ là sản phẩm mang tính vô hình, chúng không có hình thái rõ rệt, người sử dụng không thể thấy nó hoặc cảm nhận về nó trước khi sử dụng.
Khách hàng chỉ có thể cảm nhận về chất lượng dịch vụ khi họ sử dụng nó, tương tác với nó và không thể biết trước chất lượng dịch vụ. Hay nói cách khác chất lượng dịch vụ phụ thuộc nhiều vào cảm nhận chủ quan của người sử dụng, rất khó để có thể đo lường một cách chính xác bằng các chỉ 9 tiêu kỹ thuật cụ thể. - Tính không đồng nhất (Variability): Chất lượng dịch vụ không có tính đồng nhất giữa các thời điểm thực hiện dịch vụ và nó còn phụ thuộc vào cảm nhận cá nhân của khách hàng về dịch vụ. Cùng một chu trình cung cấp dịch vụ nhưng cảm nhận về chất lượng dịch vụ của khách hàng tại những thời điểm khác nhau có thể khác nhau, cảm nhận cùng một dịch vụ của các cá nhân khác nhau có thể khác nhau, dịch vụ có thể được đánh giá từ mức kém đến mức hoàn hảo bởi những khách hàng khác nhau phụ thuộc vào kỳ vọng của họ.
Do đặc điểm về tính không đồng nhất của dịch vụ làm cho việc tiêu chuẩn hóa dịch vụ trở nên khó khăn hơn so với việc tiêu chuẩn hóa sản phẩm hữu hình khác. - Tính không thể tách rời (Inseparability): Tính không thể tách rời của dịch vụ được thể hiện ở sự khó khăn trong việc phân biệt giữa việc tạo thành dịch vụ và việc sử dụng dịch vụ như là hai công việc hay hai quá trình riêng biệt. Một dịch vụ không thể tách bạch được thành hai quá trình riêng biệt là (1) quá trình tạo Luận văn thạc sĩ Kinh tế thành dịch vụ và (2) quá trình sử dụng dịch vụ, chúng là đồng thời với nhau. Sự tạo thành và sử dụng của hầu hết các dịch vụ là diễn ra đồng thời với nhau.
Đây là sự khác nhau cơ bản với hàng hóa hữu hình khác: Hàng hóa được sản xuất và đưa vào lưu trữ hoặc chuyển giao qua phân phối để tới tay người sử dụng, chúng là hai quá trình riêng biệt có thể tách rời một cách rõ ràng. Dịch vụ lại là một quá trình việc tạo ra, sử dụng là đồng thời, khách hàng và nhà cung cấp dịch vụ tham gia trong suốt quá trình tạo ra dịch vụ. Điều này làm nảy sinh các vấn đề như sau: - Tính không lưu trữ được(Perishability): Dịch vụ có quá trình sản xuất và sử dụng diễn ra đồng thời vì vậy nó không thể lưu trữ được như các hàng hóa hữu hình khác. Nói cách khác ta không thể cất trữ và lưu kho dịch vụ trước khi đem ra lưu thông được.
- Tính đồng thời (Simultaneity): Tính đồng thời của dịch vụ được thể hiện qua việc sản xuất và tiêu dùng dịch vụ diễn ra đồng thời với nhau. Không thể tách rời quá trình sản xuất với quá trình tiêu dùng được.2 Khái niệm về chất lượng dịch vụ Chất lượng dịch vụ là một phạm trù rất rộng và phức tạp, phản ánh tổng hợp 10 các nội dung kinh tế, kỹ thuật và xã hội. Do đó, có rất nhiều khái niệm khác nhau về chất lượng dịch vụ, tùy theo hướng tiếp cận mà khái niệm về chất lượng dịch vụ được hiểu theo cách khác nhau. Theo quan điểm của Edvardsson, Thomson & Ovretveit 1994 (được trích từ Lưu Tiến Thuận và Ngô Thị Huyền, 2013): chất lượng dịch vụ là dịch vụ đáp ứng được sự mong đợi của khách hàng và làm thỏa mãn nhu cầu của họ.
Chất lượng dịch vụ là mức độ khác nhau giữa sự mong đợi của người tiêu dùng về dịch vụ và nhận thức của họ về kết quả dịch vụ (Parasuraman, 1988). Theo quan điểm hướng về khách hàng, chất lượng dịch vụ đồng nghĩa với việc đáp ứng mong đợi của khách hàng, thoả mãn nhu cầu của khách hàng. Do vậy, chất lượng được xác định bởi khách hàng, như khách hàng mong muốn. Và nhu cầu của khách hàng thì đa dạng, cho nên chất lượng cũng sẽ có nhiều cấp độ tuỳ theo đối tượng khách hàng.
Chất lượng dịch vụ là do khách hàng quyết định. Như vậy, chất lượng là phạm trù mang tính chủ quan, tuỳ thuộc vào nhu cầu, mong đợi Luận văn thạc sĩ Kinh tế của khách hàng. Cùng một mức chất lượng dịch vụ nhưng các khách hàng khác nhau sẽ có cảm nhận khác nhau, và ngay cả cùng một khách hàng cũng có cảm nhận khác nhau ở các giai đoạn khác nhau. Chất lượng dịch vụ được hình thành từ nhiều yếu tố khác nhau.
Có thể nói nó là một khái niệm nhiều khía cạnh. (Parasuraman và cộng sự, 1985) đưa ra mười khía cạnh của chất lượng dịch vụ bao gồm: (1) Sự tin cậy (Reliability); (2) Khả năng đáp ứng (Responsiveness); (3) Năng lực phục vụ (Assurance); (4) Tiếp cận (Access), (5) Lịch sự (Courtesy); (6) Thông tin (Communication); (7) Tín nhiệm (Credibility); (8) Độ an toàn (Security); (9) Hiểu biết khách hàng (Understanding customer); (10) Phương tiện hữu hình (Tangibles); 11 Từ 10 khía cạnh này các nghiên cứu tiếp theo được rút về 5 yếu tố chính. (Parasuraman và cộng sự, 1988, 1991) cho rằng 5 yếu tố chính của chất lượng dịch vụ bao gồm: (1) Sự tin cậy (Reliability): Thể hiện khả năng thực hiện dịch vụ phù hợp và đúng thời hạn ban đầu. (2) Sự đáp ứng (Responsiveness): Thể hiện sự mong muốn và sẵn lòng của nhân viên phục vụ cung cấp dịch vụ kịp thời cho khách hàng.
(3) Năng lực phục vụ (Assurance): Tính chuyên nghiệp của nhân viên phục vụ (4) Sự đồng cảm (Empathy): Thể hiện sự quan tâm của nhân viên đối với khách hàng. (5)Phương tiện hữu hình (Tangibles): Trang phục, ngoại hình của nhân viên và trang thiết bị phục vụ cho dịch vụ. (Parasuraman và cộng sự, 1991) khẳng định rằng SERVQUAL là thang đo hoàn chỉnh về chất lượng dịch vụ, đạt giá trị và độ tin cậy, và có thể được Luận văn thạc sĩ Kinh tế ứng dụng cho mọi loại hình dịch vụ khác nhau. Như vậy có thể thấy rằng chất lượng dịch vụ là một khái niệm bao hàm nhiều khía cạnh, nó là một chỉ tiêu tổng hợp của các nhân tố khác nhau.
Trong những lĩnh vực dịch vụ khác nhau nó lại được đo lường bởi những yếu tố khác nhau.2 Chất lượng dịch vụ khám chữa bệnh BHYT 2.1 Bảo hiểm y tế Khái niệm BHYT BHYT là một phương thức tài chính nhằm bảo vệ người tham gia khỏi những gánh nặng tài chính mà họ phải gánh chịu nếu gặp phải các rủi ro có liên quan đến sức khỏe, bệnh tật. Theo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật BHYT Việt Nam năm 2014, Bảo hiểm y tế là hình thức bảo hiểm bắt buộc được áp dụng đối với các đối tượng theo quy định của Luật này để chăm sóc sức khỏe, không vì mục đích lợi nhuận do Nhà nước tổ chức thực hiện. Theo đó, BHYT giống như các loại hình bảo hiểm khác dựa trên nguyên tắc cơ bản: tập hợp số đông chia sẻ rủi ro, nguy cơ về sức 12 khoẻ và bệnh tật: thu phí từ số đông người khỏe mạnh để chi trả cho số ít những người đau ốm. Người tham gia bảo hiểm đóng góp một mức phí từ trước khi đau ốm vào một quỹ BHYT và sẽ được hưởng các quyền lợi về chăm sóc y tế khi đến các cơ sở khám chữa bệnh.
Vì vậy, cách thức tham gia BHYT còn được gọi là trả trước cho chi phí KCB. Các chủ thể trên thị trường BHYT và mối quan hệ Có ba chủ thể với các chức năng khác nhau nhưng có mối quan hệ rất chặt chẽ và khăng khít trong chu trình BHYT. Người tham gia BHYT (thành viên của quỹ BHYT): Là người đóng phí BHYT hay mua thẻ BHYT theo mức quy định của cơ quan Bảo hiểm và được hưởng mức quyền lợi theo quy định của quỹ.