Đặt vấn đề Phần 2: Cơ sở lý luận và thực tiễn về năng lực tài chính trong doanh nghiệp Phần 3: Giới thiệu chung về công ty và phương pháp nghiên cứu Phần 4: Kết quả nghiên cứu và thảo luận Phần 5: Kết luận và kiến nghị 3 PHẦN 2. CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ NĂNG LỰC TÀI CHÍNH CỦA DOANH NGHIỆP 2.1 Khái quát chung về năng lực tài chính trong doanh nghiệp 2.1 Khái niệm năng lực tài chính của doanh nghiệp Theo trang web viknews.com thì năng lực là khả năng làm việc tốt, nhờ có phẩm chất đạo đức và trình độ chuyên môn. Năng lực là khả năng đủ để làm một công việc nào đó hay năng lực là những điều kiện được tạo ra hoặc vốn có để thực hiện một hoạt động nào đó. Khái quát về năng lực tài chính được hiểu là khả năng đảm bảo nguồn lực tài chính cho doanh nghiệp của doanh nghiệp nhằm đạt được mục đích doanh nghiệp đề ra (Phạm Thị Vân Anh, 2012), đó chính là khả năng huy động vốn để đáp ứng cho các hoạt đọng của doanh nghiệp.
Bên cạnh đó, còn có thể hiểu là khả năng đảm bảo an toàn tài chính doanh nghiệp. Có thể xem xét năng lực tài chính doanh nghiệp trên hai gốc độ: Năng lực tài chính tổng thể: Xem xét toàn bộ năng lực tài chính để thực hiện mục tiêu bao trùm là tối đa hóa lợi ích hay tối đa hóa tài sản của chủ sở hữu doanh nghiệp. Ở góc độ này, năng lực tài chính doanh nghiệp bao hàm năng lực tài chính sở hữu doanh nghiệp và năng lực tài chính từ nợ vay. Theo Phạm Thị Vân Anh thì năng lực tài chính cho sự tăng trưởng của doanh nghiệp bao gồm hai bộ phần cấu thành là năng lực tài chính nội sinh và năng lực tài chính ngoại sinh.
Năng lực tài chính nội sinh cho tăng trưởng của doanh nghiệp là phần lợi nhuận để lại tái đầu tư. Đây chính là bộ phận năng lực tài chính chủ sở hữu nộ sinh. Năng lực tài chính ngoại sinh cho tăng trưởng là nguồn lực tài chính mà doanh nghiệp có khả năng huy động từ ngoài doanh nghiệp để đáo ứng nhu cầu vốn cho tăng trưởng. Tóm lại, có thể hiểu: Năng lực tài chính của một doanh nghiệp là nguồn lực tài chính của bản thân doanh nghiệp, là khả năng tạo tiền, tổ chức lưu chuyển tiền tệ hợp lý, đảm bảo khả năng thanh toán thể hiện ở quy mô vốn, chất lượng tài sản và khả năng sinh lời đủ để đảm bảo và duy trì hoạt động kinh doanh được tiến hành bình thường.
4 Tài chính doanh nghiệp được hiểu là những quan hệ kinh tế phát sinh gắn liền với quá trình tạo lập, phân phối và sử dụng quỹ tiền tệ trong quá trình hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp nhằm đạt được mục tiêu nhất định mà doanh nghiệp đề ra. Các quan hệ tài chính doanh nghiệp chủ yếu bao gồm: - Mối quan hệ tài chính giữa doanh nghiệp và ngân sách nhà nước Mối quan hệ này thể hiện ở chỗ Nhà nước cấp phát, hỗ trợ vốn và góp vốn cổ phần theo những nguyên tắc và phương thức nhất định để tiến hành sản xuất kinh doanh và phân chia lợi nhuận. Đồng thời, mối quan hệ tài chính này cũng phản ánh những quan hệ kinh tế dưới hình thức giá trị phát sinh trong quá trình phân phối và phân phối lại tổng sản phẩm xã hội và thu nhập quốc dân giữa Ngân sách Nhà nước với các doanh nghiệp được thể hiện thông qua các khoản thuế mà doanh nghiệp nộp vào ngân sách theo quy định. - Mối quan hệ tài chính giữa các doanh nghiệp và thị trường tài chính Các quan hệ này được thể hiện thông qua việc tài trợ các nhu cầu vốn của doanh nghiệp.
Với thị trường tiền tệ thông qua hệ thống ngân hàng, các doanh nghiệp nhận được các khoản vay tiền để tài trợ cho các nhu cầu vốn ngắn hạn và các doanh nghiệp phải hoàn trả vốn vay và tiền lãi trong thời gian hạn nhất định. Với thị trường vốn, thông qua hệ thống các tổ chức tài chính trung gian khác, doanh nghiệp tìm kiếm các nguồn tài trợ khác để đáp ứng nhu cầu vốn dài hạn bằng cách phát hành các chứng khoán. Sau đó, các doanh nghiệp phải hoàn trả mọi khoản lãi cho các chủ thể tham gia đầu tư vào doanh nghiệp bằng một khoản tiền cố định hay phụ thuộc vào khả năng kinh doanh của doanh nghiệp (thị trường chứng khoán). Thông qua thị trường tài chính, các doanh nghiệp có thể đầu tư vốn nhàn rỗi của minh bằng cách ký gửi vào hệ thống ngân hàng hoặc đầu tư vào chứng khoán của các doanh nghiệp khác.
- Mối quan hệ tài chính giữa doanh nghiệp và các thị trường khác Với các thị trường khác như thị trường hàng hóa, dịch vụ, sức lao động, là chủ thể hoạt động sản xuất kinh doanh, các doanh nghiệp phải sử dụng vốn để mua sắm các yếu tố sản xuất như vật tư, máy móc thiết bị, trả công lao động, chi trả các dịch vụ. Đồng thời, thông qua các thị trường này, doanh nghiệp xác định nhu cầu sản phẩm và dịch vụ mà doanh nghiệp cung ứng để làm cơ sở hoạch 5 định ngân sách đầu tư, kế hoạch sản xuất, tiếp thị nhằm làm cho sản phẩm, dịch vụ của doanh nghiệp luôn thỏa mãn nhu cầu của thị trường. - Mối quan hệ tài chính trong nội bộ doanh nghiệp Đây được đánh giá là mối quan hệ khá phức tạp, phản ánh quan hệ tài chính giữa các bộ phận sản xuất kinh doanh, giữa các bộ phận quản lý, giữa các thành viên trong doanh nghiệp, giữa quyền sở hữu vốn và quyền sử dụng vốn. Vai trò của phân tích năng lực tài chính doanh nghiệp.
Các đối tượng sử dụng thông tin tài chính khác nhau sẽ đưa ra các quyết định với mục đích khác nhau. Vì vậy, phân tích năng lực tài chính của doanh nghiệp đối với mỗi đối ượng sẽ đáp ứng các mục tiêu khác nhau và có vai trò không giống nhau. Cụ thể: Đối với nhà quản lý Là người trực tiếp quản lý và điều hành doanh nghiệp, nhà quản lý hiểu rõ nhất năng lực tài chính doanh nghiệp, do đó họ có nhiều thông tin phục vụ cho việc phân tích. Phân tích năng lực tài chính doanh nghiệp đối với nhà quản lý nhằm đáp ứng những mục tiêu sau: - Tạo ra những chu kỳ đều đặn để đánh giá hoạt động quản lý.
- Đảm bảo cho các quyết định của Ban giám đốc phù hợp với tình hình thực tế của đơn vị, như quyết định về đầu tư, phân phối lợi nhuận, tài trợ. - Cung cấp thông tin cơ sở cho những dự đoán tài chính. - Căn cứ để kiểm tra, kiểm soát hoạt động, quản lý doanh nghiệp. Hoạt động này làm rõ điều quan trọng của dự đoán tài chính, mà dự đoán là nền tảng của hoạt động quản lý, làm sang tỏ, không chỉ chính sách tài chính mà còn làm rõ cá chính sách chung trong doanh nghiệp.
Đối với các nhà đầu tư Nhà đầu tư là những người giao vốn của mình cho doanh nghiệp quản lý sử dụng, được hưởng lợi và cũng chịu rủi ro. Đó là những cổ đông, các cá nhân hoặc các đơn vị, doanh nghiệp khác. Các đối tượng này quan tâm trực tiếp đến những tính toán về giá trị của doanh nghiệp. Thu nhập của các nhà đầu tư là tiền lời được chia và thăng dư giá trị của vốn.
Hai nhân tố này chịu ảnh hưởng chủ yếu của lợi nhuận thu được của doanh nghiệp. 6 Hoạt động phân tích năng lực tài chính của doanh nghiệp đối với nhà đầu tư là để đánh giá doanh nghiệp và ước đoán giá trị cổ phiếu, dựa vào việc nghiên cứu các báo cáo tài chính, khả năng sinh lời, phân tích rủi ro của doanh nghiệp. Đối với người cho vay Đây là những người cho doanh nghiệp vay vốn để đáp ứng nhu cầu vốn cho hoạt động sản xuất – kinh doanh. Khi cho vay, họ phải biết chắc được khả năng hoàn trả tiền vay.
Thu nhập của họ là lãi suất cho vay. Do đó, phân tích năng lực tài chính đối với người cho vay là xác định khả năng hoàn trả nợ của khách hàng. Tuy nhiên, phân tích đối với những khoản cho vay dài hạn và những khoản cho vay ngắn hạn có nhiều điểm khác nhau. Đối với những khoản cho vay ngắn hạn, người cho vay ngắn hạn đặc biệt quan tâm đến khả năng thanh toán ngay của doanh nghiệp, hay chính là khả năng ứng phó của doanh nghiệp khi nợ vay đến hạn trả.
Còn đối với khoản cho vay dài hạn, người cho vay dài hạn có niềm tin vào khả năng hoàn trả và khả năng sinh lời của doanh nghiệp mà việc hoàn trả vốn và lãi phụ thuộc và khả năng sinh lời của doanh nghiệp. Đối với nhà nước Phân tích năng lực tài chính doanh nghiệp đóng vai rờ quan trọng đối với việc quản lý hệ thông tài chính quốc gia. Việc xây dựng các bảng phân tích năng lực tài chính doanh nghiệp trên thị trường hiện tại, đặc biệt là các doanh nghiệp trong những lĩnh vực cơ yếu của quốc gia. Từ đó, đưa ra những điều chỉnh thích hợp đối với nền kinh tế vĩ mô để thích ứng, theo kịp với nền kinh tế thế giới và đưa ra các chính sách phù hợp để hỗ trợ doanh nghiệp trong những thời điểm khó khăn.
Ngoài ra thuế từ các doanh nghiệp là một nguồn thu chủ yếu của ngân sách nhà nước, việc nắm rõ tình hình tài chính doanh nghiệp thông qua các bản phân tích sẽ giúp nhà nước có những điều chỉnh hợp lý với việc thu thuế theo giai đoạn. Đối với người lao động Phân tích năng lực tài chính sẽ cho người lao động thấy được hiệu quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Đây là động lực thúc đẩy, kích thích người lao động hăng say sản xuất, luôn quan tâm đến kết quả lao động của mình và của doanh nghiệp, từ đó nâng cao năng suất lao động, góp phần nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh. Nội dung nghiên cứu về năng lực tài chính doanh nghiệp Việc phân tích tình hình tài chính của doanh nghiệp tại thời điểm hiện tại cho thấy thực trạng về nguồn vốn, tài sản, nguồn hình thành tài sản, các khoản nợ của doanh nghiệp.
Từ đó đánh giá được những mặt mạnh mà doanh nghiệp đang có và những mặt yếu kém mà doanh nghiệp đang mắc phải. Thông qua việc phân tích tình hình tài chính của doanh nghiệp ta sẽ thấy được cơ cấu tài sản, nguồn vốn của doanh nghiệp có hợp lý không, tổng tài sản của doanh nghiệp cao hay thấp, doanh nghiệp đang kinh doanh có lãi hay lỗ.