Tổng quan luận án

Luận án tiến sĩ Địa lý với đề tài "Phân tích dưới góc độ địa lý kinh tế - xã hội làng nghề tỉnh Nam Định trong xây dựng nông thôn mới" được thực hiện bởi nghiên cứu sinh Trần Thị Thanh Thủy, dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS.TS. Nguyễn Minh Tuệ và TS. Lê Văn Hương, bảo vệ tại Trường Đại học Sư phạm Hà Nội năm 2018 (Chuyên ngành: Địa lý học, Mã số: 62.01).

Về tính cấp thiết, nghiên cứu xuất phát từ việc triển khai Nghị quyết số 24/2008/NQ-CP của Chính phủ thực hiện Nghị quyết Trung ương 7 khóa X về nông nghiệp, nông dân, nông thôn và Chương trình mục tiêu Quốc gia xây dựng nông thôn mới giai đoạn 2010 - 2020. Tại vùng Đồng bằng sông Hồng, Nam Định là địa phương có quy mô dân số đông với 1.850,6 nghìn người (năm 2015), đứng thứ 3 toàn vùng sau Hà Nội và Hải Phòng. Trong cơ cấu dân cư, dân số nông thôn chiếm tới 81,7% và có 60,8% lao động làm việc trong khu vực nông - lâm - thủy sản. Sự phát triển làng nghề tại Nam Định đã giải quyết căn bản việc làm và nâng cao thu nhập cho cư dân nông thôn. Tuy nhiên, hoạt động của các làng nghề cũng bộc lộ nhiều điểm hạn chế mang tính đặc trưng của kinh tế nông thôn: quy mô sản xuất còn mang tính tự phát, phân tán, manh mún, thiếu quy hoạch đồng bộ, thiếu sự liên kết trong sản xuất và gây ô nhiễm môi trường. Điều này tác động trực tiếp đến việc duy trì các chức năng sinh thái và tiêu chí môi trường trong xây dựng nông thôn mới. Do đó, việc nghiên cứu phát triển và phân bố làng nghề trong mối quan hệ hữu cơ với chương trình nông thôn mới là yêu cầu cấp thiết về mặt khoa học và thực tiễn quản lý.

Khoảng trống nghiên cứu được tác giả xác định: các công trình trước đây chủ yếu tiếp cận làng nghề ở góc độ văn hóa, lịch sử hoặc kinh tế đơn thuần, chưa làm rõ mối quan hệ tương tác hai chiều giữa sự phát triển, phân bố làng nghề với bộ tiêu chí xây dựng nông thôn mới; đồng thời chưa có hệ thống tiêu chí định lượng đánh giá mối quan hệ này dưới góc độ địa lý kinh tế - xã hội trên phạm vi một đơn vị hành chính cấp tỉnh như Nam Định.

Mục tiêu chung của luận án là vận dụng cơ sở khoa học về làng nghề và nông thôn mới để đánh giá các nhân tố ảnh hưởng, phân tích thực trạng phát triển, phân bố làng nghề cùng mối quan hệ tương tác với xây dựng nông thôn mới ở tỉnh Nam Định; từ đó đề xuất các giải pháp phát triển bền vững làng nghề gắn với tiến trình xây dựng nông thôn mới tại địa phương.

Hệ thống câu hỏi nghiên cứu của luận án gồm 4 câu hỏi:

  1. Những thuận lợi và khó khăn của các nhân tố ảnh hưởng đến sự phát triển, phân bố làng nghề ở tỉnh Nam Định là gì?
  2. Những đặc điểm nổi bật về phát triển, phân bố làng nghề trong xây dựng nông thôn mới ở tỉnh Nam Định thể hiện như thế nào?
  3. Những biểu hiện của mối quan hệ giữa làng nghề với xây dựng nông thôn mới ở tỉnh Nam Định diễn ra ra sao?
  4. Những giải pháp nào cần thực hiện để phát triển làng nghề bền vững theo các tiêu chí nông thôn mới ở tỉnh Nam Định?

Nhiệm vụ nghiên cứu được xác định qua 4 nội dung cụ thể:

  1. Tổng quan các công trình nghiên cứu và hệ thống hóa có chọn lọc các vấn đề lý luận về làng nghề, nông thôn mới dưới góc độ địa lý kinh tế - xã hội; xác định các tiêu chí đánh giá thực trạng phát triển, phân bố làng nghề và mối quan hệ giữa làng nghề với xây dựng nông thôn mới.
  2. Đánh giá các nhân tố ảnh hưởng đến sự phát triển và phân bố làng nghề ở tỉnh Nam Định theo các nhóm điều kiện địa lý, tự nhiên và kinh tế - xã hội.
  3. Vận dụng các tiêu chí đã lựa chọn để phân tích thực trạng phát triển, phân bố làng nghề và mối quan hệ giữa làng nghề với xây dựng nông thôn mới ở tỉnh Nam Định giai đoạn 2010 - 2015.
  4. Đề xuất một số giải pháp cơ bản nhằm phát triển làng nghề ở tỉnh Nam Định theo hướng bền vững, gắn với các mục tiêu công nghiệp hóa, hiện đại hóa và xây dựng nông thôn mới đến năm 2025.

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận án:

  • Đối tượng nghiên cứu: Sự phát triển và phân bố làng nghề tỉnh Nam Định trong mối quan hệ với tiến trình xây dựng nông thôn mới.
  • Phạm vi nội dung: Tiếp cận dưới góc độ địa lý kinh tế - xã hội, tập trung đánh giá 3 nhóm nhân tố tác động; phân tích thực trạng phát triển theo thời gian, theo nhóm ngành (đi sâu vào 4 nhóm nghề tiêu biểu: chế biến gỗ; mây tre đan và thủ công mỹ nghệ; dệt, may; cơ khí) và theo lãnh thổ; so sánh kết quả thực hiện tiêu chí nông thôn mới giữa các xã có làng nghề và không có làng nghề.
  • Phạm vi không gian: Nghiên cứu toàn bộ các làng nghề trên địa bàn tỉnh Nam Định; trong đó khảo sát thực địa chuyên sâu tại 4 làng nghề thuộc 4 xã của 2 huyện:
    1. Làng nghề truyền thống đồ gỗ mỹ nghệ La Xuyên (xã Yên Ninh, huyện Ý Yên);
    2. Làng nghề truyền thống sơn mài Cát Đằng (xã Yên Tiến, huyện Ý Yên);
    3. Làng nghề chăn, ga, gối, đệm, quần áo Làng Sắc (xã Mỹ Thắng, huyện Mỹ Lộc);
    4. Làng nghề truyền thống đúc kim loại Tống Xá (xã Yên Xá, huyện Ý Yên).
  • Phạm vi thời gian: Trọng tâm là giai đoạn 2010 - 2015 (thời kỳ triển khai Chương trình mục tiêu Quốc gia xây dựng nông thôn mới), có so sánh đối chiếu với giai đoạn trước năm 2010 và định hướng phát triển đến năm 2025.

Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án

Tổng quan tài liệu trong luận án được tác giả phân loại theo hệ thống nghiên cứu quốc tế, nghiên cứu trong nước và các nghiên cứu chuyên biệt tại địa bàn tỉnh Nam Định.

Nghiên cứu trên thế giới:

  • Luận án dẫn lại nhận định kinh điển của K. Mác về việc làng nghề là đặc trưng quan trọng của kinh tế nông thôn châu Á và phương thức sản xuất châu Á, trong đó các nghề như dệt may, chế biến thực phẩm, gốm sứ có tính chất tương đồng với công nghiệp.
  • Ranis Gustav và Frances Stewart (1993) phân tích làng nghề như một dạng thức công nghiệp nông thôn đặc thù thúc đẩy công nghiệp hóa nông nghiệp và nâng cấp cơ sở hạ tầng nông thôn. Harry T. đề xuất duy trì mô hình kinh tế hai tầng (công nghiệp lớn đô thị kết hợp mở rộng phi nông nghiệp tại nông thôn) nhằm khắc phục tính mùa vụ của lao động nông nghiệp tại các nước châu Á gió mùa.
  • Về phong trào nông thôn và làng nghề: Luận án khảo sát phong trào "Mỗi làng một sản phẩm" (OVOP - One Village One Product) do Morihiko Hiramatsu khởi xướng tại tỉnh Oita (Nhật Bản) thập niên 1970 và bài học áp dụng tại Thái Lan, Malawi; nghiên cứu của nhóm tác giả về mô hình Khadi và tiểu thủ công nghiệp tại Ấn Độ trước làn sóng toàn cầu hóa; mô hình phong trào Saemaul Undong (Làng mới) tại Hàn Quốc dưới thời Tổng thống Park Chung Hee từ năm 1970; và mô hình xây dựng nông thôn mới xã hội chủ nghĩa tại Trung Quốc sau khi gia nhập WTO.

Nghiên cứu tại Việt Nam:

  • Giai đoạn lịch sử ghi nhận các ghi chép địa chí của Nguyễn Trãi (Dư địa chí), Phan Huy Chú (Hoàng Việt dư địa chí); công trình điều tra xã hội học và địa lý của Pierre Gourou (1936) mang tên Người nông dân châu thổ Bắc Kỳ, trong đó phân loại thủ công nghiệp nông thôn Bắc Kỳ thành 9 nhóm ngành nghề và chỉ ra vai trò tận dụng lao động nông nhàn.
  • Giai đoạn đổi mới và công nghiệp hóa: Khảo sát quy mô lớn của cơ quan Hợp tác Quốc tế Nhật Bản (JICA) phối hợp với Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn (2002) trên 9.400 xã thuộc 61 tỉnh thành; các nghiên cứu lý luận và thực tiễn của Dương Bá Phượng, Mai Thế Hởn, Đặng Kim Chi về làng nghề và bảo vệ môi trường làng nghề; Trần Văn Chử, Nguyễn Vĩnh Thanh, Vũ Thị Thoa về phát triển thương hiệu sản phẩm làng nghề truyền thống sau khi gia nhập WTO; Nguyễn Tấn Trinh nghiên cứu sự xuất hiện của các làng nghề mới gắn với chuyển dịch cơ cấu kinh tế Đồng bằng sông Hồng; Hoàng Văn Châu, Sylvie Fanchette và Nicolas Stedman nghiên cứu về mô hình làng nghề du lịch; Đỗ Việt Hùng nghiên cứu khái niệm "công nghiệp làng nghề" tại Đồng bằng sông Hồng; Lê Văn Hương luận giải mối quan hệ giữa công nghiệp hóa nông thôn với làng nghề dưới góc nhìn địa lý học.
  • Về nông thôn mới và mối quan hệ với làng nghề: Vũ Trọng Khải, Tô Xuân Dân, Lê Văn Viện, Đỗ Trọng Hùng, Vũ Văn Phúc, Đỗ Kim Chung và Kim Thị Dung, Trần Minh Yến nghiên cứu bản chất, bộ tiêu chí và tính bền vững của nông thôn mới; Lê Xuân Tâm (2014) nghiên cứu phát triển làng nghề gắn với xây dựng nông thôn mới tại tỉnh Bắc Ninh.

Nghiên cứu tại địa bàn tỉnh Nam Định:

  • Tài liệu lịch sử địa phương gồm Đại Nam nhất thống chí; Vũ Huy Trác (thế kỷ XVIII) viết về nguồn gốc nghề đúc đồng Tống Xá; công trình khảo cứu văn hóa làng nghề của Nguyễn Thị Lan Hương, Đỗ Đình Thọ; nghiên cứu ô nhiễm môi trường làng nghề cơ khí đúc của Lê Thị Lài; các nghiên cứu của Nguyễn Minh Văn, Trần Quốc Hùng, Trần Lê Đoài, Vũ Ngọc Hoàng về vai trò của làng nghề tiểu thủ công nghiệp và chính sách phát triển thủ công mỹ nghệ tại địa phương.

Khoảng trống nghiên cứu được luận án giải quyết: Mặc dù các tài liệu trên đã làm sáng tỏ nhiều khía cạnh về kỹ thuật, văn hóa, kinh tế làng nghề hoặc tiến trình nông thôn mới, nhưng chưa có công trình nào tích hợp đánh giá địa lý kinh tế - xã hội đối với làng nghề đặt trong mối tương quan với các chỉ tiêu xây dựng nông thôn mới ở tỉnh Nam Định. Luận án xác định vị trí của mình là công trình chuyên sâu, vận dụng phương pháp địa lý học lãnh thổ và bộ công cụ định lượng để làm rõ mối quan hệ tương hỗ hai chiều giữa làng nghề và các tiêu chí nông thôn mới cấp tỉnh.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Luận án xây dựng khung nghiên cứu dựa trên 4 quan điểm chỉ đạo của khoa học địa lý:

  • Quan điểm hệ thống: Đặt hệ thống làng nghề Nam Định trong mối liên kết không gian với tiểu vùng phía Nam Đồng bằng sông Hồng; so sánh giữa xã đạt chuẩn nông thôn mới và chưa đạt chuẩn nông thôn mới; xem xét làng nghề trước và sau khi triển khai chương trình mục tiêu quốc gia.
  • Quan điểm tổng hợp - lãnh thổ: Đánh giá tác động phối hợp của các nhân tố tự nhiên, lịch sử, văn hóa, hạ tầng và chính sách đến sự hình thành, phân bố làng nghề; nhận diện tính quy luật lãnh thổ của các điểm sản xuất phi nông nghiệp.
  • Quan điểm lịch sử - viễn cảnh: Phân tích quá trình hình thành, biến đổi của làng nghề trong quá khứ, hiện trạng giai đoạn 2010 - 2015 và dự báo xu hướng biến động đến năm 2025.
  • Quan điểm phát triển bền vững: Cân đối giữa tăng trưởng quy mô giá trị sản xuất với giải quyết các vấn đề xã hội, bảo tồn bản sắc nghề truyền thống và kiểm soát ô nhiễm môi trường.

Về hệ thống khái niệm và khung pháp lý, luận án chuẩn hóa các thuật ngữ:

  • Làng nghề: Áp dụng định nghĩa và tiêu chí phân loại theo Thông tư số 116/2006/TT-BNN của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn và Nghị định số 66/2006/NĐ-CP của Chính phủ. Phân định rõ 4 trạng thái: Làng nghề, Làng nghề truyền thống (hoạt động tối thiểu 50 năm, có nghệ nhân, tạo sản phẩm đậm đà bản sắc), Làng có nghề (chưa đủ tỷ lệ 30% hộ tham gia hoặc chưa lập hồ sơ công nhận) và Phố nghề (làng nghề nằm trong đô thị hóa).
  • Các khái niệm liên quan: Công nghiệp nông thôn, Công nghiệp hóa nông thôn, Tiêu chí phân loại Doanh nghiệp nhỏ và vừa theo Nghị định số 56/2009/NĐ-CP (phân định siêu nhỏ, nhỏ, vừa dựa trên lao động và vốn), Nông thôn và Nông thôn mới (theo Bộ 19 tiêu chí quốc gia xây dựng nông thôn mới).

Hệ thống phương pháp nghiên cứu thực tế:

  • Phương pháp thu thập và xử lý tài liệu: Nguồn thứ cấp thu thập từ Cục Thống kê, Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Sở Công thương, Sở Tài chính, Sở Tài nguyên và Môi trường, Liên minh Hợp tác xã, UBND tỉnh Nam Định. Nguồn sơ cấp thu thập qua điều tra thực địa.
  • Phương pháp phân tích, so sánh, tổng hợp: Đánh giá dữ liệu theo chuỗi thời gian, theo 8 nhóm ngành nghề và theo đơn vị hành chính cấp huyện/xã.
  • Phương pháp thống kê: Phân loại, lập bảng biểu số liệu tuyệt đối và tương đối; phân tích tương quan giữa tỷ lệ xã đạt chuẩn nông thôn mới với các tiêu chí làng nghề; xử lý thống kê bằng phần mềm Microsoft Excel và SPSS.
  • Phương pháp nghiên cứu thực địa: Trực tiếp khảo sát cảnh quan, dây chuyền sản xuất, vị trí xưởng và cơ sở hạ tầng tại các địa bàn nghiên cứu trọng điểm.
  • Phương pháp điều tra xã hội học: Thực hiện điều tra ngẫu nhiên với dung lượng mẫu 144 phiếu khảo sát (chiếm khoảng 10% tổng số cơ sở sản xuất kinh doanh tại địa bàn nghiên cứu) trong thời gian tháng 10 và tháng 11 năm 2016. Phiếu điều tra gồm các trường thông tin: thông tin chủ hộ, quy mô vốn, diện tích nhà xưởng, quy trình kỹ thuật, nguyên vật liệu, lao động, thị trường, thu nhập, xử lý môi trường và đóng góp cho chương trình nông thôn mới. Kết hợp phỏng vấn sâu cán bộ phụ trách kinh tế, tài chính và xây dựng nông thôn mới tại 4 xã: Yên Ninh, Yên Tiến, Yên Xá (huyện Ý Yên) và Mỹ Thắng (huyện Mỹ Lộc).
  • Phương pháp bản đồ và hệ thống thông tin địa lý (GIS): Sử dụng phần mềm MapInfo để số hóa các lớp dữ liệu nền tảng và dữ liệu chuyên đề, xây dựng hệ thống 6 bản đồ khoa học phục vụ phân tích lãnh thổ.
  • Phương pháp chuyên gia: Tham vấn cán bộ quản lý và nhà khoa học tại các cơ quan quản lý chuyên môn của tỉnh Nam Định.
Thông số phương pháp luận Nội dung cụ thể trong luận án
Phần mềm xử lý thống kê SPSS, Microsoft Excel
Phần mềm bản đồ & GIS MapInfo
Mẫu điều tra xã hội học 144 cơ sở sản xuất kinh doanh (tỷ lệ chọn mẫu ~10%)
Thời gian khảo sát thực tế Tháng 10 - Tháng 11 năm 2016
Địa bàn khảo sát thực địa Xã Yên Ninh, Yên Tiến, Yên Xá (huyện Ý Yên); xã Mỹ Thắng (huyện Mỹ Lộc)
Hệ thống bản đồ chuyên đề 06 bản đồ (Hành chính; Các nhân tố ảnh hưởng; Kết quả NTM; Hiện trạng làng nghề; Làng nghề trong NTM; Định hướng phát triển đến năm 2025)

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Cơ sở khoa học về làng nghề và nông thôn mới

Nội dung chương 1 tập trung hệ thống hóa cơ sở lý luận về bản chất kinh tế - xã hội của làng nghề và các đặc trưng của nông thôn mới:

  • Luận giải vị trí của làng nghề trong nền kinh tế nông thôn: là giải pháp giải quyết việc làm tại chỗ, tận dụng thời gian nông nhàn, giảm di dân tự phát từ nông thôn ra đô thị, tạo nguồn thu nhập bổ sung (thường cao gấp 2 - 3 lần so với sản xuất thuần nông) và tạo tích lũy vốn đầu tư kết cấu hạ tầng.
  • Phân tích 8 nhóm nhân tố ảnh hưởng đến sự phát triển và phân bố làng nghề: Vị trí địa lý; Điều kiện tự nhiên - tài nguyên thiên nhiên; Nguồn nguyên vật liệu; Dân cư và nguồn lao động (đặc biệt là vai trò của nghệ nhân, thợ lành nghề); Lịch sử - văn hóa; Thị trường tiêu thụ; Nguồn vốn đầu tư; Chính sách của Nhà nước; Cơ sở hạ tầng (giao thông, lưới điện, liên lạc); Khoa học công nghệ.
  • Làm rõ nội dung xây dựng nông thôn mới gồm 11 nội dung chính và hệ thống 19 tiêu chí quốc gia. Khẳng định 3 nội dung tác động mạnh nhất đến làng nghề: chuyển dịch cơ cấu và nâng cao thu nhập, đổi mới tổ chức sản xuất và cải thiện môi trường.
  • Luận giải mối quan hệ biện chứng hai chiều: Một mặt, làng nghề hỗ trợ thực hiện các tiêu chí về quy hoạch sản xuất, xây dựng cơ sở hạ tầng nông thôn, tạo việc làm thường xuyên cho trên 90% lao động và gia tăng thu nhập; tuy nhiên sản xuất làng nghề tự phát gây cản trở lớn đối với tiêu chí số 17 về môi trường. Mặt khác, chương trình xây dựng nông thôn mới tạo cơ hội khôi phục, nhân cấy nghề mới, nâng cao chất lượng đường giao thông, hệ thống lưới điện, hỗ trợ đào tạo nghề cho lao động nông thôn theo Đề án 1956 và thúc đẩy thành lập doanh nghiệp nhỏ và vừa, hợp tác xã kiểu mới.
  • Thiết lập hệ thống phân loại gồm 8 nhóm làng nghề phục vụ khảo sát thực tế: (1) Chế biến lương thực, thực phẩm; (2) Sản xuất vật liệu xây dựng; (3) Chế biến gỗ; (4) Mây tre đan, thủ công mỹ nghệ; (5) Dệt, may; (6) Cơ khí; (7) Trồng, kinh doanh sinh vật cảnh; (8) Nhóm khác.

Chương 2: Các nhân tố ảnh hưởng tới sự phát triển và phân bố làng nghề tỉnh Nam Định

Chương 2 đánh giá toàn diện các điều kiện cụ thể của tỉnh Nam Định chi phối sự phát triển và cấu trúc phân bố không gian của các làng nghề:

  • Vị trí địa lý và phạm vi lãnh thổ: Nằm ở phía Nam đồng bằng sông Hồng, tiếp giáp vịnh Bắc Bộ và các tỉnh Thái Bình, Hà Nam, Ninh Bình; mạng lưới giao thông thủy, bộ kết nối thuận lợi với các trung tâm kinh tế lớn là điều kiện để tiếp nhận nguyên liệu và vận chuyển sản phẩm.
  • Điều kiện tự nhiên và tài nguyên thiên nhiên: Khí hậu nhiệt đới gió mùa ẩm (tổng hợp qua số liệu quan trắc trạm khí tượng Nam Định giai đoạn 1985 - 2015), mạng lưới sông Đáy, sông Đào, sông Ninh Cơ cung cấp nguồn nước dồi dào, thuận tiện vận tải đường thủy nhưng cũng đặt ra yêu cầu bảo vệ nguồn nước mặt trước chất thải sản xuất.
  • Dân cư và lao động: Dân số đông (1.850,6 nghìn người năm 2015), mật độ dân số cao, nguồn nhân lực dồi dào, đức tính cần cù, khéo léo; truyền thống làm nghề lâu đời gắn liền với nhiều nghệ nhân có tay nghề cao trong các lĩnh vực đúc đồng, mộc chạm khắc, sơn mài, dệt may.
  • Nguồn nguyên vật liệu: Phần lớn các làng nghề truyền thống trước đây dựa vào nguyên liệu tại chỗ, nhưng hiện nay nhiều nhóm ngành (gỗ mỹ nghệ, cơ khí đúc kim loại, dệt may) đã chuyển mạnh sang sử dụng nguyên vật liệu nhập khẩu hoặc điều chuyển từ các vùng khác trong nước.
  • Cơ sở hạ tầng và khoa học công nghệ: Mạng lưới giao thông liên xã, huyện lộ được cứng hóa mạnh mẽ trong chương trình nông thôn mới; hệ thống cấp điện ổn định đáp ứng quá trình bán cơ khí hóa và ứng dụng máy móc chuyên dụng; việc áp dụng tiến bộ kỹ thuật (như máy chạm khắc CNC trong nghề mộc, công nghệ nấu đúc cải tiến) bước đầu được triển khai.
  • Chính sách và thị trường: Các chương trình khuyến công, hỗ trợ trình diễn kỹ thuật chuyển giao công nghệ, chính sách tín dụng ưu đãi và quy hoạch cụm công nghiệp làng nghề đã tác động trực tiếp đến sự phân bố lại không gian sản xuất tại các huyện Ý Yên, Nam Trực, Vụ Bản, Trực Ninh, Xuân Trường, Hải Hậu.

Chương 3: Thực trạng phát triển, phân bố làng nghề và mối quan hệ giữa làng nghề với xây dựng nông thôn mới ở tỉnh Nam Định

Chương 3 là chương thực chứng trọng tâm của luận án, cung cấp các số liệu chi tiết về hiện trạng sản xuất, không gian phân bố và tương quan thống kê giữa làng nghề và nông thôn mới giai đoạn 2010 - 2015:

  • Khái quát kinh tế và nông thôn mới: Tăng trưởng GRDP giai đoạn 2010 - 2015 đạt mức khá; đến hết năm 2015, toàn tỉnh có nhiều xã, thị trấn hoàn thành 19 tiêu chí đạt chuẩn nông thôn mới, đưa Nam Định trở thành một trong những tỉnh dẫn đầu toàn quốc về phong trào này.
  • Quy mô và biến động số lượng làng nghề: Thống kê biến động số lượng làng nghề và làng nghề truyền thống từ năm 2005 đến 2015. Toàn tỉnh phân bố hàng trăm điểm làng nghề và làng có nghề, tập trung nhiều nhất ở các nhóm: dệt may, chế biến gỗ, cơ khí kim khí và thủ công mỹ nghệ.
  • Cơ cấu lao động và giá trị sản xuất: Lao động làng nghề có xu hướng dịch chuyển từ làm việc bán thời gian sang chuyên nghề. Giá trị sản xuất của khu vực làng nghề tăng đều qua các năm, đóng góp tỷ trọng lớn vào tổng giá trị sản xuất công nghiệp - tiểu thủ công nghiệp toàn tỉnh. Thu nhập bình quân hàng tháng của lao động thường xuyên trong các làng nghề năm 2015 đạt mức cao hơn đáng kể so với thu nhập từ khu vực nông nghiệp thuần túy.
  • Tổ chức sản xuất kinh doanh và nguồn vốn: Hình thức tổ chức phổ biến nhất vẫn là kinh tế hộ gia đình, song song với sự phát triển của các doanh nghiệp tư nhân, công ty TNHH và hợp tác xã dịch vụ tiểu thủ công nghiệp tại khu vực làng nghề. Nguồn vốn chủ yếu là vốn tự có kết hợp vốn vay tín dụng.
  • Tình hình môi trường: Luận án phân loại mức độ ô nhiễm theo nhóm ngành sản xuất: ô nhiễm nghiêm trọng nhất tập trung ở nhóm làng nghề cơ khí, tái chế kim loại (như Tống Xá), dệt nhuộm và sản xuất vật liệu xây dựng; các vấn đề chính là khí thải lò nấu đúc, nước thải chưa qua xử lý xả trực tiếp ra mương rãnh và chất thải rắn sản xuất.
  • Phân tích định lượng mối quan hệ giữa làng nghề và xây dựng nông thôn mới:
    • Tỷ lệ các xã có làng nghề đạt chuẩn tiêu chí việc làm thường xuyên (tiêu chí số 12) và tiêu chí thu nhập (tiêu chí số 10) đạt tỷ lệ cao hơn rõ rệt so với các xã thuần nông.
    • Mức độ đóng góp của các cơ sở sản xuất kinh doanh vào nguồn vốn xã hội hóa xây dựng kết cấu hạ tầng (đường giao thông thôn xóm, kênh mương, nhà văn hóa) tại các xã có làng nghề đạt mức cao.
    • Hệ số tương quan thống kê giữa tỷ lệ xã đạt chuẩn nông thôn mới với các tiêu chí làng nghề được tính toán, minh chứng làng nghề là nhân tố thúc đẩy tiến độ hoàn thành các tiêu chí kinh tế, hạ tầng. Ngược lại, tiêu chí số 17 (môi trường) là rào cản lớn nhất khiến nhiều xã có làng nghề gặp khó khăn khi xét công nhận đạt chuẩn nông thôn mới.
Địa bàn khảo sát Nhóm nghề chính Đặc điểm quy mô và hiện trạng gắn với NTM Vấn đề môi trường nổi cộm
La Xuyên (xã Yên Ninh, H. Ý Yên) Chế biến gỗ chạm khắc mỹ nghệ Làng nghề truyền thống lâu đời; đạt chuẩn NTM; xuất hiện nhiều doanh nghiệp, cơ sở tư nhân quy mô vừa và nhỏ; thu nhập cao. Bụi gỗ, tiếng ồn máy xẻ cưa, dung môi sơn PU ảnh hưởng không gian cư trú.
Cát Đằng (xã Yên Tiến, H. Ý Yên) Sơn mài, nứa ghép thủ công mỹ nghệ Làng nghề truyền thống; đạt chuẩn NTM; hàng hóa có thị trường xuất khẩu; tạo nhiều việc làm cho lao động phụ nữ và người cao tuổi. Mùi hóa chất sơn, nước thải ngâm tẩy nguyên liệu và phế phẩm tre nứa.
Làng Sắc (xã Mỹ Thắng, H. Mỹ Lộc) Chăn, ga, gối, đệm, may mặc Làng nghề mới phát triển mạnh; liên kết mạng lưới gia công rộng; giải quyết việc làm cho hàng nghìn lao động địa phương và lân cận. Rác thải vải vụn, bụi bông sợi, nguy cơ cháy nổ cao tại các kho xưởng gia đình.
Tống Xá (xã Yên Xá, H. Ý Yên) Cơ khí đúc kim loại (đồng, nhôm, gang) Làng nghề truyền thống có lịch sử đúc kim loại lâu đời; sản lượng hàng hóa lớn, đóng góp ngân sách cao; hình thành cụm công nghiệp. Khói bụi lò đúc, xỉ than, tiếng ồn, nước làm mát kim loại chứa kim loại nặng.

Chương 4: Định hướng và giải pháp phát triển, phân bố làng nghề tỉnh Nam Định trong xây dựng nông thôn mới đến năm 2025

Chương 4 đề xuất các quan điểm, mục tiêu và 9 nhóm giải pháp đồng bộ nhằm phát triển bền vững mạng lưới làng nghề Nam Định trong giai đoạn tiếp theo của chương trình xây dựng nông thôn mới:

  • Quan điểm và mục tiêu: Phát triển làng nghề gắn với quy hoạch tổng thể kinh tế - xã hội của tỉnh, bảo đảm tính bền vững trên cả 3 trụ cột kinh tế, xã hội và môi trường; bảo tồn giá trị tinh hoa văn hóa truyền thống kết hợp du nhập, nhân cấy nghề mới; nâng cao giá trị gia tăng sản phẩm theo định hướng "Mỗi xã một sản phẩm".
  • Định hướng không gian: Tiếp tục quy hoạch và di dời các cơ sở sản xuất có nguy cơ gây ô nhiễm cao ra khỏi khu dân cư vào các cụm công nghiệp làng nghề tập trung (đặc biệt tại Ý Yên, Nam Trực); hình thành các tuyến du lịch tham quan làng nghề gắn với du lịch sinh thái nông thôn.
  • Hệ thống 9 nhóm giải pháp cụ thể:
    1. Giải pháp về vốn đầu tư: Đa dạng hóa nguồn vốn tín dụng, đơn giản hóa thủ tục thế chấp tài sản, lồng ghép nguồn vốn chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới và vốn khuyến công.
    2. Giải pháp về nguyên, vật liệu: Xây dựng các chuỗi cung ứng nguyên liệu ổn định (gỗ hợp pháp, phôi kim loại chuẩn, sợi vải, tre nứa); khuyến khích phát triển các vùng nguyên liệu liên kết.
    3. Giải pháp về thị trường, xúc tiến thương mại, xây dựng và phát triển thương hiệu: Hỗ trợ cơ sở đăng ký nhãn hiệu tập thể, chỉ dẫn địa lý, tham gia hội chợ thương mại và phát triển thương mại điện tử; xây dựng thương hiệu cho các sản phẩm công nghiệp nông thôn tiêu biểu.
    4. Giải pháp về đào tạo và phát triển nguồn nhân lực: Đẩy mạnh thực hiện Đề án 1956 dạy nghề cho lao động nông thôn, nâng cao kỹ năng thiết kế mẫu mã cho thợ trẻ; có chính sách tôn vinh, đãi ngộ nghệ nhân để truyền nghề.
    5. Giải pháp về ứng dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật và công nghệ sản xuất: Hỗ trợ đổi mới thiết bị, cơ khí hóa khâu gia công nặng nhọc, đưa công nghệ lò nấu đúc tiết kiệm năng lượng, công nghệ cắt khắc tự động nhằm nâng cao năng suất và chất lượng sản phẩm.
    6. Giải pháp về phát triển đồng bộ kết cấu hạ tầng, kỹ thuật và quy hoạch sản xuất: Hoàn thiện hệ thống giao thông kết nối cụm công nghiệp làng nghề với quốc lộ, tỉnh lộ; đầu tư hệ thống cấp điện 3 pha ổn định và mạng viễn thông.
    7. Giải pháp về giảm thiểu ô nhiễm môi trường: Xây dựng trạm xử lý nước thải tập trung tại các cụm làng nghề; quy hoạch bãi chôn lấp và thu gom chất thải rắn; khuyến khích công nghệ sản xuất sạch hơn; tăng cường công tác kiểm tra, giám sát môi trường cấp xã.
    8. Giải pháp về tổ chức sản xuất kinh doanh: Khuyến khích chuyển đổi hộ kinh doanh cá thể lên mô hình doanh nghiệp, thành lập hợp tác xã tiểu thủ công nghiệp kiểu mới để làm đầu mối liên kết.
    9. Giải pháp về tăng cường hợp tác, liên doanh, liên kết trong sản xuất, kinh doanh: Thắt chặt mối quan kết giữa làng nghề với các viện nghiên cứu, doanh nghiệp thương mại lớn và các trường đại học để bao tiêu sản phẩm và chuyển giao công nghệ.

Kết quả và những đóng góp mới

Luận án đã tổng kết và làm rõ những đóng góp khoa học mới trên cả phương diện lý luận và thực tiễn:

Về mặt lý luận:

  • Đã hệ thống hóa và làm sáng tỏ cơ sở lý luận về làng nghề, nông thôn mới và mối quan hệ tương hỗ hai chiều giữa phát triển làng nghề với các tiêu chí xây dựng nông thôn mới dưới góc độ của khoa học địa lý kinh tế - xã hội.
  • Xây dựng và vận dụng thành công hệ thống tiêu chí định lượng để đánh giá thực trạng phát triển, phân bố làng nghề và mức độ ảnh hưởng qua lại giữa làng nghề với tiến trình xây dựng nông thôn mới ở cấp tỉnh.

Về mặt thực tiễn:

  • Đánh giá toàn diện, có cơ sở khoa học về điểm mạnh, điểm yếu của các nhóm nhân tố tác động (tự nhiên, tài nguyên, dân cư, hạ tầng, chính sách) đến sự phân bố không gian và vận động của mạng lưới làng nghề tại tỉnh Nam Định.
  • Làm rõ bức tranh thực trạng phát triển làng nghề giai đoạn 2010 - 2015 theo nhóm ngành và không gian lãnh thổ; chỉ ra những chuyển biến về giá trị sản xuất, cơ cấu lao động, thu nhập và quy mô tổ chức sản xuất.
  • Chứng minh bằng số liệu thực nghiệm từ 144 phiếu khảo sát tại 4 làng nghề điển hình (La Xuyên, Cát Đằng, Làng Sắc, T