CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIÊN CỦA ĐÈ TÀI 1. Nghiên cứu văn hóa trong nghệ thuật và điện ảnh: Dia ly va van hóa luôn là hai lĩnh vực có mối quan hệ hai chiều, tác động đến nhau theo hướng ngày càng mật thiết. Bởi lẽ, mỗi một nền văn hóa cụ thé đều gắn liền với không gian sinh tồn của chính nó, và những yếu tô đặc trưng của địa lý như địa hình, khí hậu, nguồn tài nguyên khoáng sản và sinh học, hệ thống sông ngòi hay biển cả. sẽ là thành tố quan trọng nhất hình thành nên đặc trưng văn hóa vùng, phạm trù trong ngôn ngữ thường nhật, chúng ta quen gọi là văn hóa vùng miễn.
Và trong các thành tô của văn hóa hiện đại, điện ảnh đang trở thành bộ môn nghệ thuật ngày càng có sức ảnh hưởng mạnh mẽ và mang tính quôc tê. Ranh giới giữa các quốc gia, các nền văn hóa đang mờ dần trước sức lan tỏa của bộ môn nghệ thuật này khi mỗi bộ phim gây được tiếng vang không chỉ được công chiếu ở quốc gia mà nó được sinh thành, và việc được công chiếu ở nhiều nơi khác nhau là một thước đo quan trong dé đánh giá sự thành công. Những dự án phim liên kết giữa các nền điện ảnh quốc gia khác nhau, những bộ phim có sự xuất hiện yếu tố đa sắc tộc, đa văn hóa ngày càng nhiều thì sức hấp dẫn của những bộ phim tô đậm văn hóa vùng miền riêng, trở thành một vị "đại sứ" của một cộng đồng người muốn khang định mình, giới thiệu mình ra thế giới cũng càng được quan tâm. Thực tế, một bộ phim chỉ có được chiều sâu khi khán giả có thể đọc thấy sau những cảnh quay tiềm ân một nền tảng văn hóa của đạo diễn, biên kịch.
hóa thành các lớp lang chủ đề trong thông điệp của bộ phim. Những cảnh quay hap dẫn thị giác không chỉ mang lại ưu thế cho tác phâm mà còn là cách kết nối thế giới, dé con người có thêm hiểu biết về thiên nhiên và cảnh sắc các vùng đất còn chưa có cơ hội đặt chân. 10 Thêm vào đó, tâm hồn con người ở một không gian văn hóa khác không chỉ gợi trí tò mò, sự hiểu biết về những người rất khác mình cũng là một phương thức hiệu qua dé nâng tầm tri thức nói riêng và nhận thức nói chung. Thấu hiểu và tôn trọng sự khác biệt, nhất là trong văn hóa, cũng là một cái đích mà những bộ phim nói trên đạt được.
Trường phái văn hóa- lịch sử xuất hiện từ sớm trong nghiên cứu văn học, và sau này là trong nghiên cứu kịch bản sân khấu, điện ảnh cũng như những tác phẩm được chuyền thê. Nó "hình thành vào giữa thé kỷ XIX, đại diện là các học giả lớn: H., trường phái này chủ yếu tiếp nhận xung lực của văn hóa hoc Khai sáng hậu kỳ ở Đức (J. Herder), của các nhà lãng mạn, của các trứ tác sử học lãng mạn Pháp (F. Michelet), của triết học chủ nghĩa thực chứng Auguste Comte và phần nào của cả "phương pháp tiêu sử" trong phê bình văn hoc".
Như vậy, khi nhìn nhận một tác phẩm nghệ thuật làm sống lại những tác phẩm đã nồi tiếng khác (các trứ tác) từ những thể loại gan hoặc những bộ môn nghệ thuật có liên quan. Khi khai thác những vấn đề văn hóa, mỗi bộ phim đều đụng tới những mảng khác nhau của đời sống tinh thần con người trong vùng đất ấy. Ngoài phong tục tập quán, lối âm thực và phục sức, thầm mỹ, còn phải kê đến tôn giáo và van dé niềm tin. Với Nam Bộ, "có khá nhiều tôn giáo được sinh ra ở đây, chung sống và phối ngẫu với các tôn giáo du nhập, ví như đạo Cao Đài và Hoà Hảo.
Ở Việt Nam không có nơi nào như vậy, đặc biệt là miền Bắc, rồi cả phần lớn miền Trung. Đặc trưng của các tôn giáo ở đây là sự kết hợp các cảm thức truyền thống (vốn khác nhau), các tín ngưỡng địa phương. Chúng ta phân biệt được giữa hệ thống và tập thê một cách rõ ràng khi nhìn vào những thành tố văn hóa được tái hiện trong 11 các sản phẩm nghệ thuật hiện đại như các bộ phim. Tính hệ thống của văn hóa là mối quan hệ mật thiết giữa các thành té và tính hệ thống là trục chính và chia nhiều nhánh tạo thành các thành tô bao gồm một hoặc nhiều chuỗi sự kiện thậm chí nó kết nối các quy luật, hiện tượng trong một nền văn hóa qua quá trình xã hội phát triển chậm hay nhanh.
Bởi thế, nhịp độ của một bộ phim cũng có thé coi là sự tái hiện các chuỗi sự kiện ây trong một nhịp độ riêng, từ đó, tái hiện văn hóa vùng. Thông qua tính hệ thống đó văn hóa có thê thực hiện được các chức năng của xã hội cần. Điều này là do văn hóa đã bao gồm các hoạt động và lĩnh vực. Tiếp theo có thé thay đổi sự ồn định của xã hội tùy theo mức độ, tính hệ thống sẽ cung cấp và trang bị cho xã hội những phương tiện cần thiết dé thích nghi với môi trường tự nhiên.
Theo nhận định khác, sự phát triển tiến bộ của xã hội lay văn hóa làm nên tảng vững chắc. Vì thế “nền văn hóa” và loại từ “nền” được người ta gắn với văn hóa dé tạo thành cụm từ thông dụng. Tai sao người ta thường nói người có văn hóa cũng chính là một người có giá tri. Nếu được hiểu theo khía cạnh của một tính từ thì văn hóa sẽ mang nghĩa là tốt đẹp và có giá trị.
Từ đó ma văn hóa đã trở thành thước đo một cách chuẩn mực nhất cho xã hội và con người. Nếu xét về mặt ý nghĩa thì văn hóa có thể chia thành những giá trị sử dụng, giá tri giá tri đạo đức, thâm mỹ. Chính ban thân của văn hóa đã có trong mình nhiều giá trị riêng bao gồm giá trị giá trị tinh thần, vật chất. Xét về góc độ thời gian lại có thé chia văn hóa thành giá trị giá trị nhất thời và vĩnh cửu.
Cùng với mỗi góc độ khác nhau gắn với một sự kiện, sự vật, hiện tượng khác nhau chúng ta lại có cái nhìn khác nhau tùy vào mỗi người cảm nhận. Ta có thé đánh giá văn hóa dưới những góc độ khách quan quan khác nhau từ những cái nhìn này. 12 Quá trình sáng tạo của con người trong một không gian và thời gian nhất định do văn hóa phản ánh. Vì vậy mà ta có thé nói văn hóa hàm chứa lịch sử, văn hóa cũng gan liền với dòng chảy của lịch sử, Tính lịch sử khiến cho văn hóa mang đặc trưng có hệ giá trị, có bề dày, có chiều sâu.
Văn hóa có tính lịch sử cao cần phải được tích lũy, được gìn giữ và không ngừng tái tạo, chắt lọc những tinh hoa, không ngừng sản sinh và phát triển dé hoàn thiện dưới dạng ngôn ngữ, phong tục. Do đó chúng ta phải duy trì văn hóa dé lưu truyền lic sử, muốn giữ được truyền thống văn hóa chúng ta phải lưu giữ, tuyên truyền và phát triển những gì liên quan tới văn hóa. Hiện tượng xã hội chúng ta có thể hiểu là những hiện tượng do con người sáng tạo ra nó khác với các giá trị tự nhiên. Tính nhân sinh của văn hóa bao gồm hàm nghĩa rằng văn hóa là một hiện tượng xã hội.
Tác động của cả vật chất lẫn tinh thần của con người là do một thực thể có tính nhân sinh. Vì có tính nhân sinh nên đã trở thành sợi dây liên kết giữa người với người do văn hóa vô tình tạo thành và đó là ý nghĩa nhân sinh mà văn hóa hàm chứa một cách sâu sac nhât. Trong cách nhìn rộng rãi hơn thì bất cứ cái gì tốt, xâu đều là giá trị hay giá trị là điều quan tâm của chủ thé. Giá trị là cái mà chúng ta cho là đáng có, ma chúng ta thích, chúng ta cho là quan trong dé hướng dẫn cho hành động của chúng ta.
Những quy tắc của xã hội được ghi nhận bang ky hiéu,bang cac biéu trung hay bang loi qua đó hành vi của các thành viên được xã hội định hướng. Những tập tục truyền thống như quy tắc giao tiếp, ứng xử trong đám đông thường thay đồi trong từng tình huống (ví dụ: người ta có thé v6 tay và reo hò trong một buổi trình dién ca nhạc nhưng không làm thé khi trong một rạp phim) Khó có một xác định nào mô tả đầy đủ phạm vi và tính đa dạng của những hiện tượng gia tri được thừa nhận cua văn hóa và hoc xã hội coi giá trị như những quan 13 niệm về cái đáng mong muôn ảnh hưởng tới hành vi lựa chon. Với tư cách là san phẩm của văn hóa và thuật ngữ giá trị có thể quy vào những mối quan tâm khác. Các thành viên trong một xã hội đều xây dựng quan điểm riêng về bản thân mình và về thế giới dựa trên những giá trị văn hóa.
Con người học hỏi từ gia đình, giao tiếp xã hội, tôn giáo, nhà trường, trong quá trình trưởng thành của mình. Thông qua đó những giá trị của nền văn hóa xác định nên suy nghĩ và hành động. Giá trị trên cũng cấp thiết thay đổi và ngoài xung đột về giá trị giữa các nhóm cùng cá nhân trong xã hội. Sự Khác nhau và tương đồng về văn hóa vùng miền 2.1 Không gian xã hội Có thể nói ở Nam Bộ là vùng đất khai phá, tuổi đời còn trẻ, định cư kéo đài trên diện rộng nên thiếu chất kết dính đồng thời do sớm tiếp xúc với nền kinh tế hàng hoá nên phóng khoáng và năng động hơn, chủ yếu là 4 dân tộc anh em là Kinh, Khmer, Chăm, Hoa.
Các hoạt động văn hoá không có điều kiện phát triển, nếu có cũng thể hiện không rõ. Do vùng đất này là nhiều nhóm người ở các nơi đến khai phá. Một thực tế là họ phân bố rải rác và không có sự liên kết mạnh. chủ yếu tập hợp người theo huyết thống và không có tính có kết chặt chẽ như ở đồng bằng sông Hong.
Nếu như ở Bắc Bộ, tô chức họ được khăng định bằng việc thờ phụng tổ tiên, có quy ước cho mọi thành viên, có nhà thờ họ thì ở Nam Bộ cũng hình thái thờ phụng lại chủ yếu là hoạt động trong từng gia đình nhỏ. Làng Việt Bắc Bộ hình thành lâu đời, có cơ cấu tổ chức chặt chẽ, 6n định, khép kín, bền vững trên cơ sở liên kết nhiều tô chức mà mỗi tổ chức đều có ảnh hưởng đến từng thành viên trong làng.