Tổng quan luận án
Luận án tiến sĩ chuyên ngành Ngôn ngữ học mang tên "Cặp thoại chứa hành động cầu khiến - từ chối trong giao tiếp của người Nam Bộ" được thực hiện xuất phát từ yêu cầu nghiên cứu hành động ngôn ngữ trong tính tương tác hội thoại thực tế của một vùng phương ngữ cụ thể.
Trong lý thuyết ngữ dụng học và hội thoại, hành động cầu khiến và hành động từ chối luôn giữ vị trí trọng yếu trong giao tiếp hàng ngày. Mỗi phát ngôn cầu khiến do người nói phát ra hướng tới việc tác động đến người nghe, nhưng không phải lúc nào cũng được đáp ứng hoàn toàn mà có thể tiếp nhận sự hồi đáp mang tính từ chối. Mặc dù trong Việt ngữ học đã có nhiều công trình khảo sát câu cầu khiến, hành động cầu khiến hay hành động từ chối, phần lớn các nghiên cứu trước đây chỉ xem xét các hành động này một cách đơn lẻ, biệt lập, hoặc chủ yếu dựa trên ngữ liệu văn học thành văn. Khoảng trống nghiên cứu được luận án chỉ ra là việc thiếu vắng các công trình khảo sát toàn diện cặp thoại cầu khiến - từ chối trong thế tương tác đối ứng hai chiều, gắn với lời nói tự nhiên hàng ngày mang đậm bản sắc văn hóa và phương ngữ của cư dân Nam Bộ.
Mục đích nghiên cứu của đề tài là làm sáng tỏ cách ứng xử trong giao tiếp của người Nam Bộ khi thực hiện hành động cầu khiến - từ chối; đồng thời góp phần làm rõ lý thuyết hành động ngôn ngữ phù hợp với phương châm hội thoại và nét riêng biệt của cư dân vùng đất Nam Bộ.
Nhiệm vụ nghiên cứu được tác giả xác định cụ thể qua ba nội dung:
- Giới thuyết một số vấn đề lý thuyết ngôn ngữ học thuộc phạm vi nghiên cứu của đề tài.
- Phân tích, miêu tả các mô hình cấu tạo và ngữ nghĩa của cặp thoại chứa hành động cầu khiến - từ chối trong giao tiếp của người Nam Bộ.
- Rút ra các chiến lược lịch sự trong giao tiếp của người Nam Bộ khi thực hiện hành động cầu khiến - từ chối.
Đối tượng nghiên cứu của luận án là cặp thoại chứa hành động cầu khiến - từ chối trong giao tiếp hàng ngày của người Nam Bộ. Mối quan hệ giữa các nhân vật giao tiếp được phân chia thành:
- Quan hệ thân tộc: vợ - chồng, cha mẹ - con cái, ông bà - cháu chắt.
- Quan hệ xã hội: người mua - người bán, bạn bè thân - sơ, đồng nghiệp - đồng nghiệp, thầy (cô) - học sinh.
Phạm vi nghiên cứu được giới hạn đối với người bản địa hoặc người sinh ra và lớn lên trên vùng đất Nam Bộ, có độ tuổi từ 18 tuổi trở lên. Không gian nghiên cứu bao gồm 17 tỉnh thành Nam Bộ, trong đó có 13 tỉnh thành Tây Nam Bộ (khu vực đồng bằng Sông Cửu Long) và 4/6 tỉnh thành Đông Nam Bộ (Thành phố Hồ Chí Minh, Đồng Nai, Bình Phước, Tây Ninh). Thời gian thu thập ngữ liệu diễn ra trong suốt quá trình thực hiện luận án.
Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án
Tổng quan lịch sử nghiên cứu phát ngôn cầu khiến và phát ngôn từ chối được tác giả hệ thống hóa qua ba hướng tiếp cận lý thuyết chính:
Hướng tiếp cận của ngữ pháp truyền thống về câu cầu khiến
- Ở nước ngoài: Ngữ pháp tiếng Nga (1960, 1980, 1990) phân loại câu theo mục đích nói, tách biệt câu mong muốn, câu cầu khiến với câu trần thuật và nghi vấn; R. Quirk (1972) chỉ ra bản chất câu cầu khiến qua 4 nhân tố (người nghe, người nói, ý muốn, nguyện vọng); R. E. Asher (1994) phân lập hệ thống phân loại theo hình thức (trình bày, nghi vấn, mệnh lệnh) và theo chức năng (trần thuật, hỏi, cầu khiến).
- Ở Việt Nam: Lê Văn Lý (1948 trong Le Vietnamien, 1968 trong Sơ thảo ngữ pháp Việt Nam gọi là câu khuyến lệnh); Trương Văn Chình (1963); Nguyễn Kim Thản (1964) phân loại câu cầu khiến trực tiếp/gián tiếp và câu nghi vấn cầu khiến; Ủy ban Khoa học Xã hội (1983); Hoàng Trọng Phiến (1980) nhận diện câu cầu khiến qua hư từ và ngữ điệu; Diệp Quang Ban (1998, 1999) phân tích phụ từ mệnh lệnh và ngữ điệu mệnh lệnh; Hồ Lê (1991) chia cầu khiến thành 4 tiểu nhóm: mệnh lệnh, yêu cầu, khuyên răn, dặn dò; Đỗ Thị Kim Liên (1999).
Hướng tiếp cận của ngữ pháp chức năng
- Ở nước ngoài: M. A. K. Halliday (1985) chỉ rõ phát ngôn nghi vấn đòi hỏi thông tin, còn phát ngôn cầu khiến đòi hỏi sự phục vụ (đáp lại bằng hành động); C. W. Morris (1938).
- Ở Việt Nam: Cao Xuân Hạo (1991 trong Tiếng Việt - Sơ thảo ngữ pháp chức năng) xem xét giá trị ngôn trung của câu hỏi và câu mệnh lệnh; Hoàng Xuân Tâm, Nguyễn Văn Bằng, Bùi Tất Tươm (1992); Vũ Thị Thanh Hương với các nghiên cứu về gián tiếp, lịch sự và mức độ lợi - thiệt trong lời cầu xin; Nguyễn Thị Thanh Bình; Đào Thanh Lan (2002) nghiên cứu vị từ tình thái; Đỗ Ảnh (1990); Nguyễn Thị Hoàng Chi (1998); Chu Thị Thủy An (2002); Đặng Thị Thu Hương; Lê Đình Tường.
Hướng tiếp cận của ngữ dụng học
- Về hành động cầu khiến: J. L. Austin (1962 trong How to do things with words); J. R. Searle (1969, 1976) phân loại hành động tại lời và xếp cầu khiến vào nhóm khuyến lệnh/điều khiển (directives); G. Yule (1996); John Lyons (1997 trong Ngữ nghĩa học); S. M. Ervin-Tripp (1976) và S. C. Levinson (1983); Đỗ Hữu Châu (1993 trong Đại cương ngôn ngữ học); Nguyễn Đức Dân (1998); Nguyễn Thiện Giáp; Đỗ Thị Kim Liên; Trần Chi Mai; Đàm Thị Ngọc Ngà; Lưu Quý Khương.
- Về hành động từ chối: J. L. Austin xếp từ chối vào nhóm trình bày; J. R. Searle xếp từ chối vào nhóm ước kết (commissives); Nguyễn Phương Chi nghiên cứu hành vi từ chối trong tiếng Việt đối chiếu tiếng Anh; Nguyễn Thị Hai; Trần Thị Mĩ Bình; Nguyễn Thị Hương Giang; Trần Thị Hồng Nhung.
- Về sự tương tác giữa cầu khiến và từ chối: Đỗ Thị Kim Liên khảo sát tương tác cầu khiến - từ chối qua ngữ liệu văn học; Trần Chi Mai nghiên cứu từ chối lời cầu khiến trong tiếng Anh và liên hệ tiếng Việt; Võ Thị Thảo nghiên cứu hành động cầu khiến - từ chối của người Hà Tĩnh.
Khoảng trống nghiên cứu được luận án lựa chọn giải quyết là khảo sát toàn diện cặp thoại chứa hành động cầu khiến - từ chối trong giao tiếp khẩu ngữ sinh hoạt thực tế của cư dân Nam Bộ, đặt hai hành động này trong mối tương tác gắn bó giữa tham thoại trao và tham thoại đáp, phản ánh đặc thù phương ngữ và văn hóa ứng xử của vùng đất Nam Bộ.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Cơ sở lý thuyết và khung phân tích
- Lý thuyết hành động ngôn ngữ: Vận dụng luận điểm của J. L. Austin và J. R. Searle về hành động tạo lời (locutionary act), hành động mượn lời (perlocutionary act) và hành động tại lời (illocutionary act). Vận dụng 4 điều kiện thỏa mãn hành động tại lời của Searle gồm: điều kiện nội dung mệnh đề, điều kiện chuẩn bị, điều kiện chân thành và điều kiện căn bản.
- Lý thuyết hội thoại và phân tích hội thoại: Vận dụng các khái niệm về vận động hội thoại gồm trao lời, trao đáp và tương tác; các quy tắc hội thoại theo C. Kerbrat-Orecchioni và Đỗ Thị Kim Liên; hệ thống các đơn vị hội thoại gồm cuộc thoại, đoạn thoại, cặp thoại và tham thoại (tham thoại đơn, tham thoại phức phân định theo hành động chủ hướng và hành động phụ thuộc).
- Cơ sở phương ngữ học Nam Bộ: Xem xét các đặc thù ngữ âm mang tính thống nhất cao; vốn từ vựng vay mượn từ gốc Khơme (vàm, xà rông, cà ròn, bò hóc, dù kê, ên, nóp, tà), gốc tiếng Hoa Triều Châu/Quảng Đông (chế, hia, củ, tía, ỷ, xì thầu, tào kê), từ ngữ mang sắc thái địa phương (tràm, đước, tầm vông, cao nhòng, nhẹ hều, bự chà bá, rước, mướn, hò); đặc điểm ngữ pháp đơn âm hóa (châm chế -> chế, mau lẹ -> lẹ), tỉnh lược kết hợp đổi thanh điệu (anh ấy -> ảnh, ông ấy -> ổng) và cách xưng hô theo thứ bậc gia đình kết hợp tên riêng.
Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp điều tra điền dã hội thoại: Thu thập dữ liệu giao tiếp tự nhiên qua ghi âm và ghi chép trực tiếp theo 5 tiêu chí: giới tính, quan hệ giao tiếp, độ tuổi từ 18 trở lên, hoàn cảnh phát ngôn tự nhiên và nội dung sinh hoạt thường ngày.
- Phương pháp phân tích diễn ngôn: Đặt cặp thoại và tham thoại trong mối liên hệ với các yếu tố ngữ cảnh trước - sau, không gian, thời gian và nhân vật giao tiếp.
- Phương pháp phân tích cấu tạo cặp thoại: Nhận diện, phân lập các thành tố và tổ chức cấu trúc của tham thoại trao và tham thoại đáp.
- Phương pháp phân tích ngữ nghĩa cặp thoại: Khảo sát tương tác ngữ nghĩa trong tình huống cụ thể và phân tích nghĩa liên nhân giữa các vai giao tiếp.
- Thủ pháp nghiên cứu hỗ trợ: Thủ pháp so sánh (đối chiếu cách thức thể hiện giữa các vùng miền) và thủ pháp mô hình hóa (khái quát hóa các mô hình cấu tạo tham thoại).
Nguồn tư liệu và dữ liệu nghiên cứu
Ngữ liệu của luận án gồm 2.400 cặp thoại tương tác cầu khiến - từ chối được thu thập trực tiếp tại 17 tỉnh thành Nam Bộ. Địa điểm thu thập bao gồm nơi công cộng (chợ, bến xe, trường học) bằng hình thức ghi âm, ghi chép tự nhiên không báo trước; và trong phạm vi gia đình thông qua một thành viên ghi nhận tự nhiên. Toàn bộ 2.400 cặp thoại khảo sát đều là hành động cầu khiến nguyên cấp, không ghi nhận trường hợp nào sử dụng động từ ngữ vi tường minh.
Nội dung chính theo từng chương
Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu và cơ sở lý thuyết của đề tài
Chương 1 tổng thuật các công trình nghiên cứu về câu cầu khiến, hành động cầu khiến và hành động từ chối theo ba dòng lý thuyết: ngữ pháp truyền thống, ngữ pháp chức năng và ngữ dụng học. Chương này xác lập hệ thống khái niệm công cụ:
- Xác định hành động cầu khiến: Hành động được thực hiện khi người nói (Sp1) đưa ra nội dung mệnh đề phản ánh nhu cầu, nguyện vọng muốn người nghe (Sp2) thực hiện việc gì đó nhằm một đích nhất định.
- Nhận diện 4 điều kiện của hành động cầu khiến: Nội dung mệnh đề (Sp2 thực hiện hành động C - V); Quy tắc chuẩn bị (Sp1 tin rằng Sp2 có khả năng thực hiện); Quy tắc chân thành (Sp1 thực sự mong muốn); Quy tắc căn bản (tính ràng buộc trách nhiệm).
- Hệ thống hóa các đơn vị hội thoại (cuộc thoại, đoạn thoại, cặp thoại, tham thoại) và các vận động trao lời, trao đáp, tương tác.
- Khái quát bức tranh phương ngữ Nam Bộ về ngữ âm, từ vựng và ngữ pháp làm nền tảng cho việc phân tích ngữ liệu thực tế.
Chương 2: Cấu tạo cặp thoại chứa hành động cầu khiến - từ chối trong giao tiếp của người Nam Bộ
Chương 2 tập trung phân tích các thành tố và mô hình hóa cấu tạo của tham thoại dẫn nhập (cầu khiến) và tham thoại hồi đáp (từ chối) trên 2.400 cặp thoại thu thập.
Mô hình tổng quát của cặp thoại: $$\text{A (Cầu khiến): } \text{Sp2} + \text{Ngữ Đg} + \text{Sp1} + \text{TTTT}$$ $$\text{B (Từ chối): } \text{PPđ} + \text{KCV}$$
Các nhóm cấu tạo tham thoại trao chứa hành động cầu khiến
Tham thoại cầu khiến được phân chia thành dạng cấu tạo đầy đủ (có đủ 4 thành tố: Sp2, Ngữ Đg, Sp1, TTTT) và dạng cấu tạo tỉnh lược.
| TT | Nhóm tham thoại | Số lượng | Tỷ lệ % |
|---|---|---|---|
| 1 | Tham thoại đầy đủ | 1069 | 44,54 |
| 2 | Tham thoại tỉnh lược | 1331 | 55,46 |
| Tổng | 2400 | 100% |
Dạng tỉnh lược chiếm ưu thế (55,46%) và được phân tách thành 6 tiểu nhóm cụ thể:
| TT | Dạng cấu tạo tỉnh lược | Số lượng | Tỷ lệ % |
|---|---|---|---|
| 1 | Tỉnh lược vai trao (Sp1) | 451 | 33,88 |
| 2 | Tỉnh lược vai nhận (Sp2) | 238 | 17,88 |
| 3 | Tỉnh lược TTTT cuối cấu tạo | 76 | 5,71 |
| 4 | Tỉnh lược cả vai trao Sp1 và vai nhận Sp2 | 270 | 20,29 |
| 5 | Tỉnh lược cả vai nhận Sp2 và TTTT | 220 | 16,53 |
| 6 | Tỉnh lược vai trao Sp1 và Đg | 76 | 5,71 |
| Tổng | 1331 | 100% |
Các mô hình cấu tạo tham thoại hồi đáp chứa hành động từ chối
Tham thoại từ chối được phân chia theo số lượng thành tố tham gia cấu tạo:
| TT | Mô hình cấu tạo | Số lượng | Tỷ lệ % |
|---|---|---|---|
| 1 | Tham thoại cấu tạo 1 thành tố | 1419 | 59,13 |
| 2 | Tham thoại cấu tạo 2 thành tố | 820 | 34,17 |
| 3 | Tham thoại cấu trúc 3 thành tố | 161 | 6,71 |
| Tổng | 2400 | 100% |
Trong nhóm tham thoại từ chối cấu tạo 1 thành tố (1.419 tham thoại):
| TT | Dạng cấu tạo 1 thành tố | Số lượng | Tỷ lệ % |
|---|---|---|---|
| 1 | Tham thoại có cấu tạo là 1 từ, cụm từ phủ định (Ppđ) | 92 | 6,48 |
| 2 | Tham thoại cấu tạo là một kết cấu chủ - vị (C - V) | 1327 | 93,52 |
| Tổng | 1419 | 100% |
Khảo sát sâu 1.327 tham thoại từ chối là một kết cấu C - V:
| TT | Mô hình cấu tạo kết cấu C - V | Số lần xuất hiện | Tần số (%) |
|---|---|---|---|
| 1 | Kết cấu C - V chứa nòng cốt phủ định (KCNpđ) | 11 | 0,83 |
| 2 | Kết cấu C - V nêu lí do (KCCV1) | 1051 | 79,20 |
| 3 | Kết cấu C - V cầu khiến ngược lại (KCCV2) | 143 | 10,78 |
| 4 | Kết cấu C - V nhằm hướng tới lùi thời gian thực hiện (KCCV3) | 102 | 7,69 |
| 5 | Kết cấu C - V đẩy vai thực hiện sang người khác (KCCV4) | 20 | 1,51 |
| Tổng | 1327 | 100% |
Chương 2 cũng thống kê và miêu tả 41 từ và 18 tổ hợp từ xưng hô xuất hiện 4.090 lần trong 2.400 tham thoại cầu khiến, gồm danh từ thân tộc, đại từ và tổ hợp từ xưng hô mang đậm màu sắc phương ngữ Nam Bộ.
Chương 3: Ngữ nghĩa của cặp thoại chứa hành động cầu khiến - từ chối trong giao tiếp của người Nam Bộ
Chương 3 triển khai phân tích ngữ nghĩa của cặp thoại trên các bình diện:
- Phân biệt nghĩa, ý nghĩa và ngữ nghĩa trong hoạt động hành chức ngôn ngữ.
- Thống kê định lượng và miêu tả các nhóm ngữ nghĩa cầu khiến và các hành động từ chối tương ứng: nhóm hành động khiến, nhóm cầu, nhóm rủ, nhóm vay mượn, nhóm xin, nhóm mệnh lệnh, nhóm nhắc nhở, nhóm mời và nhóm khuyên.
- Phân tích tương tác ngữ nghĩa vai giao tiếp thể hiện quan hệ liên nhân: quan hệ liên nhân theo vị thế xã hội; quan hệ liên nhân thể hiện qua cặp từ xưng hô; quan hệ liên nhân thể hiện qua sự lựa chọn hành động từ chối trực tiếp hoặc gián tiếp.
Chương 4: Chiến lược lịch sự trong giao tiếp của người Nam Bộ qua cặp thoại chứa hành động cầu khiến - từ chối
Chương 4 nghiên cứu phương diện lịch sự trong giao tiếp hội thoại:
- Khảo sát các khái niệm chiến lược lịch sự và mối quan hệ với hành vi giảm lịch sự.
- Xác định các nhân tố chi phối chiến lược lịch sự (vị thế, khoảng cách xã hội, quyền lực, mức độ áp đặt).
- Miêu tả biểu hiện của chiến lược lịch sự qua cách sử dụng các phương tiện ngôn ngữ đặc thù Nam Bộ: sử dụng hệ thống tiểu từ tình thái phương ngữ cuối phát ngôn (nghe, nha, heng, coi, nè, nghen), sử dụng từ xưng hô thân tộc và cách gọi theo thứ bậc gia đình (anh hai, chú tư, má sắp nhỏ).
- Nhận diện các hành động cầu khiến và từ chối làm giảm tính lịch sự trong sinh hoạt giao tiếp hàng ngày của cư dân địa phương.
Kết quả và những đóng góp mới
Đóng góp về mặt lý luận
- Luận án là công trình chuyên biệt đầu tiên nghiên cứu có hệ thống cặp thoại chứa hành động cầu khiến - từ chối đặt trong quan hệ tương tác hai chiều trong giao tiếp khẩu ngữ của người Nam Bộ.
- Góp phần bổ sung và cụ thể hóa lý thuyết hành động ngôn ngữ và lý thuyết phân tích hội thoại vào thực tiễn nghiên cứu một phương ngữ cụ thể của tiếng Việt, làm rõ mối quan hệ giữa phương châm hội thoại và hành chức ngôn từ.
Đóng góp về mặt thực tiễn
- Cung cấp bức tranh toàn diện, định lượng chính xác về các mô hình cấu tạo, ngữ nghĩa và chiến lược lịch sự của cặp thoại cầu khiến - từ chối qua 2.400 cặp thoại thực tế tại 17 tỉnh thành Nam Bộ.
- Làm sáng tỏ đặc trưng văn hóa giao tiếp của người Nam Bộ: lối nói ngắn gọn, bộc trực nhưng trọng tình cảm, linh hoạt trong việc sử dụng phương tiện phương ngữ để duy trì thể diện và tính lịch sự.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
- Hạn chế: Do phạm vi đề tài, luận án tập trung khảo sát cặp thoại đôi (hai tham thoại) trong giao tiếp sinh hoạt đời thường (chợ, trường học, bến xe, gia đình) ở đối tượng từ 18 tuổi trở lên thuộc 17 tỉnh thành Nam Bộ; chưa khảo sát các cặp thoại phức hợp nhiều lượt lời hoặc các phong cách giao tiếp hành chính, văn bản.
- Hướng nghiên cứu tiếp: Mở rộng khảo sát so sánh đối chiếu liên phương ngữ giữa Nam Bộ với Bắc Bộ và Trung Bộ; hoặc nghiên cứu các cặp hành động ngôn ngữ tương tác khác (như khen ngợi - tiếp nhận lời khen, mời - từ chối lời mời) trong hội thoại tiếng Việt.
Giá trị tham khảo
Luận án có giá trị tham khảo thiết thực cho các nhóm đối tượng:
- Nghiên cứu sinh, học viên cao học, giảng viên chuyên ngành Ngôn ngữ học, Việt ngữ học, Ngữ dụng học và Phương ngữ học: Tham khảo khung lý thuyết tương tác hội thoại, phương pháp điều tra điền dã và hệ thống mô hình hóa tham thoại.
- Các nhà nghiên cứu Văn hóa học, Xã hội học: Khai thác ngữ liệu và phân tích quan hệ liên nhân, chiến lược lịch sự để tìm hiểu tính cách, văn hóa ứng xử của cư dân Nam Bộ.
- Phần đáng tham khảo nhất: Hệ thống 5 bảng số liệu thống kê định lượng chi tiết ở Chương 2, các dạng mô hình kết cấu chủ - vị từ chối gián tiếp và phương thức sử dụng tiểu từ tình thái, từ ngữ xưng hô mang bản sắc Nam Bộ.
Câu hỏi thường gặp
1. Nguồn ngữ liệu của luận án được thu thập từ những địa bàn nào và có quy mô bao nhiêu?
Nguồn ngữ liệu gồm 2.400 cặp thoại tương tác cầu khiến - từ chối được thu thập tại 17 tỉnh thành Nam Bộ, bao gồm 13 tỉnh thành Tây Nam Bộ (Đồng bằng sông Cửu Long) và 4 tỉnh thành Đông Nam Bộ (Thành phố Hồ Chí Minh, Đồng Nai, Bình Phước, Tây Ninh), ghi nhận tại chợ, trường học, bến xe và gia đình.
2. Trong 2.400 cặp thoại khảo sát, có sự xuất hiện của động từ ngữ vi chỉ hành động cầu khiến hay không?
Trong toàn bộ 2.400 cặp thoại khảo sát, tác giả không bắt gặp sự xuất hiện của động từ ngữ vi mang ý nghĩa cầu khiến. Toàn bộ các phát ngôn cầu khiến được người Nam Bộ sử dụng đều thuộc dạng hành động cầu khiến nguyên cấp.
3. Tỷ lệ giữa tham thoại cầu khiến dạng đầy đủ và dạng tỉnh lược là bao nhiêu? Dạng tỉnh lược nào chiếm tỷ lệ cao nhất?
Tham thoại cầu khiến dạng đầy đủ có 1.069 trường hợp (chiếm 44,54%), trong khi dạng tỉnh lược chiếm ưu thế với 1.331 trường hợp (chiếm 55,46%). Trong các dạng tỉnh lược, dạng tỉnh lược vai trao (Sp1) chiếm tỷ lệ cao nhất với 451 tham thoại (33,88%).
4. Ở tham thoại hồi đáp chứa hành động từ chối, dạng kết cấu chủ - vị nào chiếm tỷ lệ cao nhất?
Ở tham thoại từ chối cấu tạo 1 kết cấu chủ - vị (1.327 tham thoại), dạng kết cấu chủ - vị nêu lí do (KCCV1) chiếm tỷ lệ áp đảo với 1.051 tham thoại (chiếm 79,20%). Dạng kết cấu chủ - vị chứa nòng cốt phủ định (KCNpđ) chiếm tỷ lệ thấp nhất với 11 tham thoại (0,83%).
5. Phương ngữ Nam Bộ thể hiện qua những thành tố cấu tạo nào trong cặp thoại?
Phương ngữ Nam Bộ thể hiện rõ nét qua hệ thống từ xưng hô thân tộc và thứ bậc (như hai, tư, má sắp nhỏ, tía, chế, hia), các trợ từ/phụ từ (giùm, giúp, cho), cùng hệ thống tiểu từ tình thái đặc thù xuất hiện cuối phát ngôn (nghe, nha, heng, coi, nghen).
Kết luận
Luận án tiến sĩ "Cặp thoại chứa hành động cầu khiến - từ chối trong giao tiếp của người Nam Bộ" là công trình khảo sát chuyên sâu về ngữ dụng học và phân tích hội thoại trên ngữ liệu phương ngữ thực tế. Dựa trên 2.400 cặp thoại điền dã tại 17 tỉnh thành Nam Bộ, luận án đã mô hình hóa chi tiết cấu tạo, ngữ nghĩa và chiến lược lịch sự của hành động cầu khiến - từ chối nguyên cấp. Kết quả nghiên cứu cung cấp hệ thống dữ liệu định lượng chuẩn xác, làm sáng tỏ bản sắc giao tiếp bộc trực, linh hoạt và trọng tình cảm của người dân vùng đất Nam Bộ.