CHƯƠNG 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ PHÂN TÍCH KHẢ NĂNG SINH LỢI THEO CÁC BỘ PHẬN 1.1 Khái niệm phương pháp phân tích khả năng sinh lợi Phân tích khả năng sinh lợi là một phương pháp giúp cho các nhà quản lý hiểu được chi phí, cho phép các nhà quản lý nhận diện được các đặc điểm mà đó chính là nguyên nhân làm cho một vài khách hàng phải tốn kém nhiều hơn hay ít hơn để được phục vụ so với những khách hàng khác. Bảng 1 sẽ chỉ ra những đặc điểm của chi phí ẩn (chi phí cao để phục vụ) và lợi nhuận ẩn (chi phí thấp để phục vụ) của khách hàng. Tất cả các công ty có thể nhận biết các khách hàng và đưa ra một vài hay là toàn bộ chi phí cao để phục vụ cho các đối tượng. Hiếm khi các công ty được may mắn có được chi phí phục vụ thấp cho các khách hàng.
Khách hàng có được chi phí phục vụ thấp khi họ nhận ra rằng chính cách ứng xử của họ làm giảm bớt chi phí cho những nhà cung cấp và vì vậy họ yêu cầu giá thấp (chiết khấu cao từ bảng giá) trong việc trao đổi [14, trang 158 – 159].1: Đặc điểm của chi phí phục vụ khách hàng cao và thấp Chi phí phục vụ khách hàng cao Chi phí phục vụ khách hàng thấp Sản phẩm theo yêu cầu đặt hàng Sản phẩm theo tiêu chuẩn Số lượng đặt hàng nhỏ Số lượng đặt hàng cao Không thể đoán được việc đặt hàng mới Có thể đoán được việc đặt hàng mới Giao hàng theo yêu cầu khách Giao hàng theo tiêu chuẩn Thay đổi yêu cầu giao hàng Không thể thay đổi yêu cầu giao hàng Gia công, chế biến bằng tay Sản xuất bằng máy móc Hỗ trợ lớn trước khi bán hàng (tiếp thị, Hỗ trợ ít hoặc không trước khi bán hàng kỹ thuật và phương cách bán hàng) (đặt hàng và giá bán chuẩn) Hỗ trợ lớn về điểm bán hàng (hệ thống Không hỗ trợ điểm bán hàng máy được lắp đặt, tập huấn, bảo đảm, 123doc -9- phạm vi phục vụ) Yêu cầu công ty giữ hàng tồn kho Bổ sung sản phẩm như là việc sản xuất Trả chậm Trả đúng hạn 1.2 Quản trị chi phí dựa trên cơ sở hoạt động (Activity – Based Management) 1.1 Hệ thống quản trị chi phí Hệ thống quản trị chi phí là một hệ thống hoạch định và kiểm soát chi phí với các mục tiêu sau: - Đo lường chi phí về các nguồn lực đã được sử dụng trong việc thực hiện những hoạt động quan trọng của tổ chức. - Chỉ ra và loại trừ những chi phí không làm tăng thêm giá trị, là chi phí của những hoạt động có thể loại trừ mà không làm giảm chất lượng sản phẩm, tính năng và giá trị sử dụng của sản phẩm. - Xác định sự hữu hiệu và hiệu quả tất cả những hoạt động chính được thực hiện trong doanh nghiệp. - Chỉ ra và đánh giá những hoạt động mới có thể cải thiện hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp trong tương lai.
Trong một tổ chức, hệ thống quản trị chi phí đóng vai trò toàn diện hơn so với hệ thống kế toán chi phí truyền thống. Trong khi hệ thống kế toán chi phí hướng về quá khứ, tập trung vào việc phản ánh chi phí đã phát sinh và báo cáo giá thành thì hệ thống quản trị chi phí còn hướng tới tương lai, đóng vai trò chủ động, định hướng trong việc hoạch định, quản trị và làm giảm chi phí [2, trang 16 – 17] 1.2 Quản trị chi phí trên cơ sở hoạt động Việc sử dụng hệ thống chi phí trên cơ sở hoạt động để cải thiện các hoạt động của tổ chức gọi là quản trị trên cơ sở hoạt động. Chính các hoạt động làm phát sinh các chi phí trong tổ chức. Đặc điểm cơ bản của kế toán chi phí trên cơ sở hoạt động là đo lường và ghi nhận chi phí của các hoạt động theo thời gian.
Kế toán thu thập thông tin về chi phí thực hiện các hoạt động và đo lường, đánh giá việc thực hiện 123doc - 10 - hoạt động. Bằng việc chỉ ra chi phí của các hoạt động nhà quản trị có thể xem xét để giảm hoặc loại trừ chi phí không cần thiết. Ngoài việc hỗ trợ cho các quyết định giá cả có tính chiến lược, hệ thống chi phí trên cơ sở hoạt động còn thể hiện triển vọng về vai trò mới của kế toán quản trị trong doanh nghiệp: là một hệ thống quản trị chi phí. Thông qua đó nhà quản trị có thể nhận ra rằng cách tốt nhất để kiểm soát chi phí trước hết là kiểm soát các hoạt động làm phát sinh chi phí.
Hệ thống quản trị chi phí chú ý đến những hoạt động có thể giúp nhà quản trị xác định những chi phí không làm tăng thêm giá trị và loại trừ những hoạt động gây ra những chi phí này. Quản trị chi phí trên cơ sở hoạt động hướng các doanh nghiệp đến mục tiêu lý tưởng là: hệ thống quản trị tồn kho đúng lúc, hệ thống sản xuất linh hoạt và hệ thống quản trị chất lượng tổng thể. Trong môi trường đó, các hoạt động không tạo ra giá trị bị loại trừ đến mức thấp nhất [2, trang 16 – 17] 1.3 Hệ thống chi phí dựa trên cơ sở hoạt động (Activity – Based Cost Systems) 1.1 Tổng quan về hệ thống chi phí dựa trên cơ sở hoạt động Hệ thống chi phí dựa trên cơ sở hoạt động (gọi tắt là hệ thống ABC) là phương pháp ước lượng chi phí của sản phẩm, dịch vụ dựa trên nền tảng của hoạt động công việc để sản xuất sản phẩm, dịch vụ. Đó là những hoạt động làm phát sinh chi phí liên quan đến sản phẩm, dịch vụ.
Đây chính là sự khác biệt căn bản với hệ thống chi phí truyền thống được xây dựng dựa trên chi phí liên quan trực tiếp đến sản phẩm. Hệ thống ABC quan tâm tới chi phí gián tiếp và chi phí hỗ trợ, đầu tiên là chi phí liên quan đến hoạt động, quy trình và sau đó là chi phí liên quan đến sản phẩm, dịch vụ và khách hàng, nó cung cấp cho nhà quản lý một bức tranh rõ ràng về hoạt động và dịch vụ của công ty. ABC được thiết lập cho môi trường kinh doanh mới khi mà áp lực cạnh tranh mạnh mẽ trong và ngoài nước đòi hỏi nhà quản lý phải hiểu rõ kết cấu chi phí của mình để có thể quản trị chi phí. Những nghiên cứu đầu tiên về ABC được các nhà nghiên cứu người Mỹ thực hiện trong các công ty Đức.
Tên gọi ABC được các nhà quản trị công ty John Deere 123doc - 11 - đặt ra vào những năm 70. Mỹ cũng là nước đi đầu trong việc ứng dụng ABC. Ngày nay, ABC đang được nghiên cứu và ứng dụng ở nhiều nước như Canada, Đức, Anh và một số nước Bắc Âu. Không chỉ trong lĩnh vực sản xuất, ABC còn được ứng dụng rộng rãi trong các lĩnh vực dịch vụ, thương mại như hàng không, bệnh viện, trường học, siêu thị… Hiểu biết sâu sắc về ABC có thể được ứng dụng rộng rãi để phân tích khả năng sinh lợi của khách hàng, sản phẩm và hiệu quả của quy trình [2, trang 6 – 7] 1.2 Đặc trưng của hệ thống ABC Hệ thống chi phí dựa trên cơ sở hoạt động là hệ thống mà theo đó chi phí gián tiếp và chi phí hỗ trợ sẽ được phân bổ dựa trên mức độ hoạt động.
Hoạt động được định nghĩa là một sự kiện hay nghiệp vụ làm phát sinh chi phí trong một tổ chức, ý tưởng then chốt của ABC là: sản phẩm tạo ra từ các hoạt động, các hoạt động tiêu dùng các nguồn lực. Sự khác nhau cơ bản giữa ABC với hệ thống chi phí truyền thống là ở việc tập hợp và phân bổ chi phí gián tiếp. Thay vì tập hợp chi phí gián tiếp vào các trung tâm trách nhiệm như hệ thống chi phí truyền thống, ABC tập hợp chi phí gián tiếp theo các trung tâm hoạt động, nó sẽ được phân bổ cho sản phẩm, dịch vụ theo mức độ hoạt động mà sản phẩm, dịch vụ tiêu dùng. Theo ABC, quá trình phân bổ chi phí gián tiếp gồm hai giai đoạn: • Giai đoạn 1: Xác định những trung tâm hoạt động quan trọng liên quan đến chi phí gián tiếp và ghi nhận chi phí cho mỗi trung tâm hoạt động.
Chi phí gián tiếp khác nhau nhưng cùng liên quan đến một trung tâm hoạt động thì hợp thành một khu vực chi phí. • Giai đoạn 2: Phân bổ chi phí của mỗi khu vực chi phí - Xác định nguyên nhân gây ra chi phí làm tiêu thức phẩn bổ chi phí của từng trung tâm hoạt động. Mỗi khu vực chi phí được phân bổ theo một tiêu thức riêng. - Phân bổ chi phí của mỗi khu vực chi phí cho từng đối tượng sử dụng hoạt động tỷ lệ với số nguyên nhân gây ra chi phí mà mỗi đối tượng đã sử dụng.
123doc - 12 - Hệ thống chi phí truyền thống và hệ thống chi phí dựa trên cơ sở hoạt động [11, trang 1 – 2] Hệ thống chi phí truyền thống Hệ thống ABC Chi phí Chi phí Tiêu dùng cho Hoạt động Tiêu dùng cho Tiêu dùng cho Sản phẩm Sản phẩm Mô hình xử lý thông tin trong hệ thống ABC có thể trình bày trong sơ đồ sau: Quan điểm chi phí Các nguồn lực Thông tin Các hoạt động Đo lường Quan điểm quy trình đầu vào hoạt động Sản phẩm, dịch vụ Sơ đồ trên mô tả luồng thông tin trong hệ thống ABC. Thông tin trong hệ thống này có thể xem xét trên hai giác độ là theo quan điểm chi phí và theo quan điểm quy trình. - Theo quan điểm chi phí: mô hình này chỉ ra lưu đồ của dòng chi phí là đi từ các nguồn lực đến các hoạt động rồi từ hoạt động vào sản phẩm, dịch vụ. 123doc - 13 - - Theo quan điểm quy trình: mô hình này chỉ ra nguồn thông tin đầu vào của hệ thống chính là những nghiệp vụ, những giao dịch phát sinh cùng với các hoạt động.
Thông tin này cung cấp những dữ liệu cần thiết về các hoạt động để thực hiện việc tính và phân bổ chi phí của các hoạt động vào giá sản phẩm, dịch vụ đồng thời cũng cung cấp những thước đo cần thiết để đánh giá việc thực hiện hoạt động. Sự phát triển của khoa học thông tin và những ứng dụng của nó trong lĩnh vực quản lý có thể đáp ứng nhu cầu thông tin nhạy bén, kịp thời và có độ chính xác cao cho việc áp dụng ABC.