Tổng quan nghiên cứu

Công tác kiểm tra, giám sát chất lượng thuốc đóng vai trò then chốt trong sự nghiệp chăm sóc, bảo vệ và nâng cao sức khỏe nhân dân. Tại tỉnh Lai Châu – một địa bàn miền núi biên giới phía Tây Bắc với 265,165 km đường biên và 8 đơn vị hành chính cấp huyện, hệ thống cung ứng thuốc bao gồm 151 quầy thuốc, 67 nhà thuốc và 8 công ty dược phẩm đang phục vụ nhu cầu điều trị của 20 dân tộc sinh sống. Nhằm đánh giá toàn diện năng lực giám sát dược phẩm địa phương, đề tài nghiên cứu đã tiến hành phân tích 722 hồ sơ mẫu thuốc được kiểm tra chất lượng tại Trung tâm Kiểm nghiệm Thuốc, Mỹ phẩm, Thực phẩm Lai Châu trong năm 2020.

Mục tiêu cụ thể của nghiên cứu bao gồm: mô tả cơ cấu 722 mẫu thuốc đã kiểm tra chất lượng theo các biến số quản lý, và phân tích sâu khả năng kiểm nghiệm 232 mẫu thuốc viên nang theo từng chỉ tiêu kỹ thuật riêng biệt. Nghiên cứu được thu thập số liệu hồi cứu trọn vẹn trong giai đoạn từ tháng 01/2020 đến tháng 12/2020 và hoàn thiện phân tích từ tháng 12/2021 đến tháng 04/2022. Đề tài mang ý nghĩa thực tiễn sâu sắc, cung cấp cơ sở khoa học để nâng tỷ lệ kiểm nghiệm trọn vẹn chỉ tiêu thuốc viên nang từ mức 59,1% hiện tại lên trên 85%, đồng thời hỗ trợ các nhà quản lý y tế tối ưu hóa nguồn lực đầu tư thiết bị và chuẩn hóa quy trình phân tích.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu được xây dựng dựa trên nguyên tắc Thực hành tốt phòng kiểm nghiệm thuốc (Good Laboratory Practices - GLP) và tiêu chuẩn ISO/IEC 17025, kết hợp với khung pháp lý quản lý dược phẩm tại Việt Nam. Các văn bản quy phạm pháp luật nền tảng gồm có: Luật Dược số 105/2016/QH13, Thông tư số 11/2018/TT-BYT quy định về chất lượng thuốc và nguyên liệu làm thuốc, Thông tư số 38/2021/TT-BYT về quản lý chất lượng dược liệu và thuốc cổ truyền, cùng hệ thống 1519 tiêu chuẩn quốc gia trong Dược điển Việt Nam V (DĐVN V hiệu lực từ ngày 01/07/2018).

Các khái niệm chuyên ngành cốt lõi được vận dụng trong nghiên cứu bao gồm:

  • Tiêu chuẩn chất lượng thuốc (TCCL/TCCS): Văn bản kỹ thuật quy định các chỉ tiêu chất lượng, mức giới hạn và phương pháp phân tích bắt buộc áp dụng.
  • Mẫu lấy: Mẫu do kiểm nghiệm viên trực tiếp thu thập chủ động tại các cơ sở sản xuất, bảo quản, lưu thông, phân phối và sử dụng thuốc trên thị trường.
  • Thuốc viên nang: Dạng thuốc phân liều đường uống gồm vỏ nang gelatin chứa hoạt chất dạng rắn hoặc lỏng, đòi hỏi kiểm soát chặt chẽ các chỉ tiêu về độ rã, độ hòa tan, độ đồng đều khối lượng và tạp chất liên quan.
  • Phương pháp phân tích dụng cụ: Kỹ thuật sắc ký lỏng hiệu năng cao (HPLC), quang phổ tử ngoại – khả kiến (UV-VIS) và sắc ký lớp mỏng (TLC).

Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu áp dụng thiết kế mô tả cắt ngang thông qua phương pháp hồi cứu dữ liệu thứ cấp sẵn có.

  • Nguồn dữ liệu: Toàn bộ 722 bộ hồ sơ kiểm nghiệm thuốc hoàn thành trong năm 2020 tại Trung tâm Kiểm nghiệm Thuốc, Mỹ phẩm, Thực phẩm Lai Châu, trích xuất từ biên bản lấy mẫu, sổ nhập mẫu, sổ theo dõi kết quả kiểm nghiệm, sổ giao nhận mẫu và các báo cáo tổng kết năm.
  • Cỡ mẫu và chọn mẫu: Nghiên cứu thu thập toàn bộ 722 hồ sơ (phương pháp chọn mẫu toàn thể), không chọn mẫu ngẫu nhiên hay chia nhóm nhằm loại bỏ sai số chọn mẫu và phản ánh bức tranh chân thực nhất về hoạt động chuyên môn của đơn vị.
  • Lý do lựa chọn phương pháp phân tích: Sử dụng phương pháp thống kê mô tả, tính toán tỷ trọng và tỷ lệ phần trăm phân bố mẫu trên phần mềm Microsoft Excel. Phương pháp này phù hợp để định lượng hóa mức độ đáp ứng chỉ tiêu kỹ thuật và làm rõ các nguyên nhân trực tiếp dẫn đến việc không thực hiện được phép thử.
  • Timeline nghiên cứu: Dữ liệu hồ sơ phát sinh trong 12 tháng của năm 2020; quá trình tổng hợp, xử lý dữ liệu và bàn luận khoa học được triển khai từ tháng 12/2021 đến tháng 04/2022.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Thứ nhất, về cơ cấu thực hiện kế hoạch và phân loại mẫu: Trung tâm đã kiểm nghiệm 722 mẫu thuốc, đạt 103,1% so với chỉ tiêu kế hoạch được Sở Y tế giao (700 mẫu). Toàn bộ 100% mẫu phân tích đều là mẫu lấy trực tiếp từ thị trường (không có mẫu gửi). Tỷ lệ mẫu đạt tiêu chuẩn chất lượng đạt 99,72% (720 mẫu), trong khi tỷ lệ không đạt chất lượng chỉ chiếm 0,28% (02 mẫu). Về nhóm thuốc, thuốc hóa dược chiếm tỷ trọng áp đảo với 646 mẫu (89,5%), dược liệu và vị thuốc cổ truyền chiếm 42 mẫu (5,8%), và thuốc dược liệu/thuốc cổ truyền chiếm 34 mẫu (4,7%).

Thứ hai, về đặc điểm hoạt chất và nguồn gốc thuốc hóa dược: Thuốc đơn thành phần chiếm 611/646 mẫu (94,6%), trong khi thuốc đa thành phần chỉ chiếm 35 mẫu (5,4%). Thuốc sản xuất trong nước chiếm tới 588 mẫu (91,0%), thuốc nhập khẩu chỉ chiếm 58 mẫu (9,0%). Xét theo tác dụng dược lý, nhóm thuốc điều trị ký sinh trùng, chống nhiễm khuẩn chiếm tỷ lệ cao nhất với 336 mẫu (52,0%), theo sau là nhóm hạ sốt, giảm đau, chống viêm với 144 mẫu (22,3%) và nhóm vitamin, khoáng chất với 71 mẫu (11,0%). Về nơi lấy mẫu, có đến 647/722 mẫu (89,6%) được lấy tại các cơ sở bán lẻ và cơ sở khám chữa bệnh hạng III, hạng IV.

Thứ ba, về dạng bào chế và khả năng kiểm nghiệm thuốc viên nang: Dạng viên nén và viên nang chiếm tỷ trọng lớn nhất với lần lượt là 357 mẫu (49,4%) và 232 mẫu (32,1%). Trong 232 mẫu thuốc viên nang được phân tích, chỉ có 137 mẫu (59,1%) được kiểm nghiệm đầy đủ tất cả các chỉ tiêu theo quy chuẩn DĐVN V, còn lại 95 mẫu (40,9%) chỉ được kiểm nghiệm không đầy đủ chỉ tiêu.

Thứ tư, về hiệu suất thực hiện các chỉ tiêu kỹ thuật trên thuốc viên nang:

  • Chỉ tiêu định lượng đạt tỷ lệ thực hiện 99,1% (219/221 phép thử), trong đó phương pháp HPLC thực hiện được 208/210 phép thử (99,0%) và UV-VIS đạt 10/10 phép thử (100%).
  • Chỉ tiêu độ hòa tan đạt tỷ lệ tuyệt đối 100% (206/206 phép thử), gồm 189 phép thử bằng UV-VIS và 17 phép thử bằng HPLC.
  • Chỉ tiêu định tính đạt tỷ lệ 81,8% (365/446 phép thử); trong đó HPLC đạt 100% (207/207 phép thử), hóa học đạt 87,2% (34/39 phép thử), nhưng phương pháp TLC chỉ đạt 62,0% (124/200 phép thử, không thực hiện được 76 phép thử).
  • Chỉ tiêu xác định tạp chất liên quan bằng TLC không thực hiện được bất kỳ phép thử nào (0/7 phép thử, tương đương 100% thất bại).
  • Các chỉ tiêu khác (tính chất, độ đồng đều khối lượng, độ tan rã, Karl Fischer, giới hạn nhiễm khuẩn) đều đạt 100%, riêng chỉ tiêu giảm khối lượng do làm khô chỉ thực hiện được 75,0% (12/16 phép thử).

Thảo luận kết quả

Tổng hợp nguyên nhân từ 94 phép thử chưa thể tiến hành cho thấy sự thiếu hụt tài nguyên kỹ thuật mang tính hệ thống: thiếu hóa chất, dung môi chiếm 88,3% (83 phép thử), thiếu chất chuẩn đối chiếu chiếm 10,6% (10 phép thử) và thiếu trang thiết bị kiểm nghiệm chiếm 6,4% (6 phép thử). Tại thời điểm nghiên cứu, đơn vị chỉ sở hữu duy nhất 01 hệ thống sắc ký lỏng HPLC và thiếu máy quang phổ hồng ngoại (IR) cũng như tủ sấy áp suất giảm. Điều này khiến trung tâm buộc phải chuyển hướng các chỉ tiêu định tính sang phương pháp TLC, nhưng TLC lại tiếp tục bị gián đoạn do thiếu các thuốc thử đặc hiệu và chất chuẩn tinh khiết.

Khi đặt cạnh các địa phương khác, tỷ lệ phát hiện mẫu không đạt tại Lai Châu (0,28%) thấp hơn đáng kể so với Hải Phòng (1,2%), Bắc Kạn (1,1%) và Vĩnh Phúc (1,2%). Tỷ lệ tập trung vào thuốc hóa dược (89,5%) và thuốc đơn thành phần (94,6%) tương đồng với Bắc Kạn (89,1% và 82,2%) và Cao Bằng (94,1%), phản ánh một mẫu hình chung tại các tỉnh miền núi khi nguồn kinh phí mua sắm mẫu và chất chuẩn còn eo hẹp.

Để giúp người đọc và nhà quản lý dễ dàng hình dung toàn bộ bức tranh phân tích, các dữ liệu này có thể được trình bày sinh động qua hai dạng trực quan hóa: một biểu đồ tròn thể hiện cơ cấu nguồn gốc và thành phần thuốc, cùng một biểu đồ cột ghép đối chiếu tỷ lệ thực hiện thành công giữa các nhóm phép thử HPLC, UV-VIS và TLC trên thuốc viên nang.

Đề xuất và khuyến nghị

  1. Trang bị bổ sung hệ thống phân tích hiện đại: Ủy ban nhân dân tỉnh và Sở Y tế tỉnh Lai Châu cần cấp kinh phí đầu tư tối thiểu 01 hệ thống HPLC đa bước sóng, 01 máy quang phổ hồng ngoại biến đổi Fourier (FTIR) và 01 tủ sấy áp suất giảm chuyên dụng trước quý IV/2023, nhằm nâng tỷ lệ kiểm nghiệm trọn vẹn chỉ tiêu định tính và tạp chất lên mức trên 95%.

  2. Đổi mới quy trình dự trù và mua sắm chất chuẩn: Phòng Kế hoạch - Tài chính phối hợp với các phòng kiểm nghiệm hóa lý xây dựng danh mục dự trù hóa chất dài hạn, chủ động thiết lập kênh liên kết chia sẻ chất chuẩn đối chiếu với Viện Kiểm nghiệm thuốc Trung ương (VKNTTW), phấn đấu giảm số phép thử bị hủy bỏ do thiếu hóa chất từ 83 phép thử xuống dưới 10 phép thử mỗi năm trong giai đoạn 2023-2024.

  3. Đa dạng hóa chiến lược lấy mẫu giám sát thị trường: Đội ngũ kiểm nghiệm viên cần mở rộng phạm vi thu thập mẫu, nâng tỷ trọng mẫu thuốc nhập khẩu từ 9,0% lên tối thiểu 20%, tăng tỷ lệ kiểm tra thuốc dược liệu và vị thuốc cổ truyền từ 10,5% lên 25%, đồng thời tăng cường lấy mẫu tại các kho bán buôn và cơ sở khám chữa bệnh hạng II trở lên trên địa bàn.

  4. Nâng cao năng lực chuyên môn cho kiểm nghiệm viên: Ban Giám đốc trung tâm cần phối hợp với Trường Đại học Dược Hà Nội tổ chức các khóa tập huấn chuyên sâu về thẩm định phương pháp phân tích cho 16 cán bộ có trình độ đại học (chiếm 51,5% nhân lực), hoàn thiện hệ thống quản lý chất lượng để sớm đạt chuẩn GLP toàn diện và mở rộng danh mục phép thử ISO/IEC 17025 trước năm 2025.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

  1. Ban lãnh đạo và kiểm nghiệm viên tại các Trung tâm Kiểm nghiệm tuyến tỉnh: Cung cấp khung phân tích thực trạng năng lực chuyên môn, hỗ trợ nhận diện các điểm nghẽn kỹ thuật và tối ưu hóa quy trình kiểm nghiệm thuốc viên nang tại cơ sở.

  2. Cơ quan quản lý nhà nước về y tế và dược phẩm (Sở Y tế, Cục Quản lý Dược): Nắm bắt chi tiết các khó khăn đặc thù của hệ thống kiểm nghiệm miền núi biên giới, làm cơ sở xây dựng chính sách phân bổ ngân sách mua sắm chất chuẩn và kiểm soát thị trường dược phẩm hiệu quả.

  3. Giảng viên, học viên sau đại học chuyên ngành Tổ chức quản lý dược: Sử dụng như một tài liệu tham khảo điển hình về phương pháp nghiên cứu mô tả cắt ngang, hồi cứu dữ liệu kiểm nghiệm và phân tích hiệu suất phòng thí nghiệm.

  4. Các doanh nghiệp sản xuất và phân phối thuốc: Hiểu rõ năng lực kiểm tra thực tế và các chỉ tiêu giám sát trọng điểm của cơ quan quản lý nhà nước tại địa phương, từ đó chủ động hoàn thiện hồ sơ tiêu chuẩn cơ sở và chất lượng sản phẩm cung ứng ra thị trường.

Câu hỏi thường gặp

  1. Tại sao tỷ lệ thuốc viên nang kiểm nghiệm đầy đủ chỉ tiêu chỉ đạt 59,1%? Tỷ lệ này xuất phát từ việc trung tâm không thể thực hiện trọn vẹn 94 phép thử trên tổng số 232 mẫu viên nang. Điểm nghẽn tập trung chủ yếu ở chỉ tiêu xác định tạp chất liên quan bằng phương pháp sắc ký lớp mỏng TLC (thất bại 100%) và chỉ tiêu định tính bằng TLC (không thực hiện được 38,0%), nguyên nhân trực tiếp do thiếu hóa chất tinh khiết và chất chuẩn đối chiếu.

  2. Nguyên nhân chủ yếu nào khiến 94 phép thử không thể thực hiện được? Theo kết quả thống kê, thiếu hóa chất và dung môi phân tích là nguyên nhân lớn nhất, chiếm 88,3% (83 phép thử). Thiếu chất chuẩn đối chiếu chiếm 10,6% (10 phép thử) và thiếu trang thiết bị chuyên dụng như máy quang phổ hồng ngoại hay tủ sấy áp suất giảm chiếm 6,4% (6 phép thử).

  3. Tỷ lệ phát hiện mẫu không đạt chất lượng tại Lai Châu chỉ đạt 0,28% phản ánh điều gì? Tỷ lệ 0,28% (chỉ 2/722 mẫu) thấp hơn rõ rệt so với mức trung bình 1,1% đến 1,2% ở nhiều tỉnh khác. Điều này phản ánh mẫu kiểm nghiệm chủ yếu tập trung vào các nhóm thuốc đơn giản, đơn thành phần (94,6%) và sản xuất trong nước (91,0%), chưa phản ánh trọn vẹn nguy cơ tiềm ẩn từ các mặt hàng phức tạp hoặc thuốc nhập khẩu.

  4. Nghiên cứu áp dụng phương pháp chọn mẫu và phân tích số liệu như thế nào? Đề tài áp dụng phương pháp chọn mẫu toàn thể với toàn bộ 722 hồ sơ kiểm nghiệm thuốc hoàn thành trong năm 2020. Dữ liệu sau đó được mã hóa, làm sạch và phân tích thống kê mô tả, tính tỷ trọng phần trăm trên phần mềm Microsoft Excel để định lượng hóa chính xác hiệu suất từng chỉ tiêu.

  5. Giải pháp nào mang tính đột phá để khắc phục tình trạng thiếu chất chuẩn tại trung tâm? Trung tâm cần thiết lập cơ chế liên kết định kỳ với Viện Kiểm nghiệm thuốc Trung ương để chia nhỏ và dùng chung các lô chất chuẩn đắt tiền, đồng thời đa dạng hóa kế hoạch dự trù kinh phí hóa chất hằng năm nhằm tránh tình trạng hủy bỏ các phép thử định tính và thử tạp chất cơ bản.

Kết luận

  • Hoàn thành toàn diện 103,1% kế hoạch kiểm nghiệm được giao trong năm 2020 với 722 mẫu thuốc lấy trực tiếp từ thị trường, ghi nhận tỷ lệ đạt tiêu chuẩn chất lượng 99,72% và không đạt 0,28%.
  • Xác định rõ sự mất cân đối trong cơ cấu mẫu khi tập trung chủ yếu vào thuốc hóa dược (89,5%), thuốc đơn thành phần (94,6%), thuốc sản xuất trong nước (91,0%) và nhóm kháng sinh, chống nhiễm khuẩn (52,0%).
  • Chỉ ra thực trạng có tới 40,9% mẫu thuốc viên nang chưa được kiểm nghiệm trọn vẹn chỉ tiêu, trong đó chỉ tiêu thử tạp chất liên quan không thể thực hiện và chỉ tiêu định tính bằng TLC chỉ đạt 62,0%.
  • Định vị chính xác nguyên nhân của 94 phép thử không thực hiện được bắt nguồn từ thiếu hóa chất (88,3%), thiếu chất chuẩn (10,6%) và thiếu thiết bị phân tích hiện đại (6,4%).
  • Đề xuất lộ trình 4 giải pháp đồng bộ về trang bị máy HPLC/FTIR, tối ưu hóa ngân sách chất chuẩn, đa dạng hóa cơ cấu lấy mẫu và đào tạo 31 cán bộ trung tâm hướng tới chuẩn hóa GLP giai đoạn 2023-2025.

Đóng góp khoa học lớn nhất của luận văn là cung cấp bức tranh thực nghiệm chuẩn xác và khách quan về khoảng cách năng lực kỹ thuật của hệ thống kiểm nghiệm tuyến tỉnh miền núi phía Bắc. Các cơ quan quản lý và đơn vị chuyên môn cần nhanh chóng triển khai áp dụng đồng bộ các khuyến nghị nêu trên để hoàn thiện năng lực kiểm nghiệm, bảo đảm thuốc lưu hành trên thị trường luôn đạt chất lượng tối ưu phục vụ sức khỏe cộng đồng.