Chương 1: Tổng quan về đề tài nghiên cứu Chương 2: Tình hình kết quả kinh doanh của N gân hàng thương mại cổ phần Quân đội – Phòng giao dịch Bắc Trường Tiền giai đoạn 2019 – 2021 Chương 3: Định hướng và giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động kinh doanh của N gân hàng Quân đội – Phòng giao dịch Bắc Trường Tiền. Phần III: Kết luận và kiến nghị SVTH: guyễn Thị hư Phương 4 KHÓA LUẬ TỐT GHIỆP GVHD: ThS. Lê Anh Quý PHẦ II: ỘI DU G VÀ KẾT QUẢ GHIÊ CỨU CHƯƠ G 1: TỔ G QUA VỀ VẤ ĐỀ GHIÊ CỨU 1. Khái niệm về phân tích tình hình hoạt động kinh doanh “Phân tích tình hình hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp là quá trình nghiên cứu để đánh giá toàn bộ quá trình và kết quả hoạt động kinh doanh, các nguồn tiềm năng cần khai thác ở doanh nghiệp, trên cơ sở đó để để ra các phương án và giải pháp để nâng cao hiệu quả hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp”.
Ý nghĩa phân tích tình hình hoạt động kinh doanh Phân tích hoạt động kinh doanh là công cụ quan trọng để phát hiện khả năng tiềm tàng trong hoạt động kinh doanh. Thông qua phân tích hoạt động doanh nghiệp chúng ta mới thấy rõ được các nguyên nhân, nhân tố cũng như nguồn gốc phát sinh của các nguyên nhân và nhân tố ảnh hưởng, từ đó để có các giải pháp cụ thể và kịp thời trong công tác tổ chức và quản lý sản xuất. Do đó nó là công cụ cải tiến cơ chế quản lý trong kinh doanh. Phân tích kinh doanh giúp doanh nghiệp nhìn nhận đúng đắn về khả năng, sức mạnh cũng như những hạn chế trong doanh nghiệp của mình.
Chính trên cơ sở này các doanh nghiệp sẽ xác định đúng đắn mục tiêu và chiến lược kinh doanh có hiệu quả. Phân tích kinh doanh là công cụ quan trọng trong chức năng quản trị, là cơ sở để đề ra các quyết định đúng đắn trong chức năng quản lý, nhất là trong các chức năng kiểm tra, đánh giá và điều hành hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Phân tích hoạt động kinh doanh là biện pháp quan trọng để phòng ngừa và ngăn chặn những rủi ro có thể xảy ra. Tài liệu phân tích kinh doanh còn rất cần thiết cho các đối tượng bên ngoài, khi họ có các mối quan hệ về kinh doanh, nguồn lợi với doanh nghiệp, vì thông qua phân tích họ SVTH: guyễn Thị hư Phương 5 KHÓA LUẬ TỐT GHIỆP GVHD: ThS.
Lê Anh Quý mới có thể có quyết định đúng đắn trong việc hợp tác, đầu tư, cho vay,…đối với doanh nghiệp nữa hay không? 1. Các nhân tố ảnh hưởng đến kết quả hoạt động kinh doanh 1. Môi trường vi mô Môi trường vi mô là môi trường chứa các nhân tố có mối liên hệ trực tiếp, chặt chẽ và tác động qua lại với nhau. Các nhân tố ấy đều có khả năng ảnh hưởng đến năng lực và kết quả hoạt động marketing của một doanh nghiệp.
(Minh Tú, 2020) Các nhân tố trong môi trường vi mô: Có tổng cộng 6 nhân tố tồn tại trong môi trường vi mô, bao gồm: bản thân doanh nghiệp, các nhà cung cấp, trung gian marketing, đối thủ cạnh tranh và cộng đồng. Ở đây chúng ta chỉ quan tâm đến 4 trong 6 nhân tố trên: Thứ nhất, bản thân doanh nghiệp: Bản thân doanh nghiệp chính là nhân tố đầu tiên ảnh ảnh hưởng đến hiệu quả Marketing. Đây là nhân tố gần gũi nhất, và những tác động của nhân tố này có ảnh hưởng tức thì và sâu sắc đến hướng đi của các chiến lược, kế hoạch Marketing, ngân sách, quy mô triển khai của các chiến dịch, chương trình market- ing. Thứ hai, khách hàng: Khách hàng là nhân tố cốt lõi của môi trường vi mô, mọi hoạt động markering đều lấy khách hàng/ sự hài lòng hoặc thỏa mãn của khách hàng làm trọng tâm.
N hu cầu, mong muốn, khả năng tài chính, thói quen chi tiêu, hành vi tiêu dùng,… chính là chìa khóa để doanh nghiệp xây dựng các chiến lược đúng đắn nhằm thu hút và mang giá trị đến khách hàng. Thứ ba, đối thủ cạnh tranh: trong nền kinh tế thị trường, bản thân doanh nghiệp không phải là một đơn vị/tổ chức duy nhất có thể giúp thỏa mãn nhu cầu của khách hàng. Có những doanh nghiệp khác cung cấp cùng một loại sản phNm/dịch vụ, hướng đến cùng một tập hợp những khách hàng mục tiêu, chính là những đối thủ cạnh tranh, một trong những nhân tố thuộc môi trường vi mô. SVTH: guyễn Thị hư Phương 6 KHÓA LUẬ TỐT GHIỆP GVHD: ThS.
Lê Anh Quý Đối thủ cạnh tranh là yếu tố ảnh hưởng tích cực lẫn tiêu cực đến doanh nghiệp. Tích cực là vì sự cạnh tranh tạo nên động lực giúp doanh nghiệp không ngừng cải thiện chất lượng sản phNm/dịch vụ. Trong khi đó, sự cạnh tranh để tranh giành thị trường sẽ khiến doanh nghiệp có nguy cơ mất khách hàng vào tay đối thủ. Chính vì thế, trong một nền kinh tế thị trường, cạnh tranh là một cuộc đua không có hồi kết, sẽ không có kẻ thắng hay kẻ thừa tuyệt đối.
Thứ tư, cộng đồng: Cộng đồng trong môi trường vi mô là những cá nhân, tổ chức nằm bên ngoài thị trường của doanh nghiệp nhưng lại có những tác động và ảnh hưởng nhất định đối với hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp. Cộng đồng có thể phân vào một trong các nhóm sau: + Cộng đồng tài chính: Ảnh hưởng đến khả năng tài chính như vốn vay, huy động vốn của doanh nghiệp. Các cá nhân tổ chức thuộc cộng đồng tài chính bao gồm: các ngân hàng, tổ chức tín dụng, các cá nhân cho vay,… + Cộng đồng truyền thông: Ảnh hưởng đến nội thông điệp mà doanh nghiệp muốn truyền tải đến đối tượng mục tiêu, khả năng tiếp cận của các chiến dịch quảng cáo, truyền thông cũng như nhìn ảnh của doanh nghiệp trong con mắt của công chúng + Cộng đồng chính phủ: Quy định các nguyên tắc chuNn mực trong hoạt động kinh doanh, tiêu chuNn về chất lượng sản phNm/dịch vụ, nội dung các hình ảnh, video, bài viết quảng cáo,. + Cộng đồng địa phương: Cộng đồng địa phương bao gồm các cư dân đang sinh sống và các tổ chức hoạt động tại địa phương của doanh nghiệp.
Thông thường, cư dân tại địa phương có xu hướng tìm việc tại các doanh nghiệp gần nơi sinh sống của họ, hay các tổ chức có xu hướng tìm nhà cung cấp gần khu vực hoạt động. SVTH: guyễn Thị hư Phương 7 KHÓA LUẬ TỐT GHIỆP GVHD: ThS. Lê Anh Quý + Cộng đồng đại chúng: Là những cá nhân quan tâm, thường xuyên theo dõi và cung cấp thông tin liên quan đến doanh nghiệp hay sản phNm/dịch vụ của doanh nghiệp. Môi trường vĩ mô Môi trường vĩ mô là môi trường trong đó, các yếu tố là những nguồn lực, thể chế bên ngoài có khả năng tác động, ảnh hưởng tích cực hay tiêu cực đến hoạt động Market- ing của doanh nghiệp và cá yếu tố môi trường vi mô của doanh nghiệp.
Có tổng cộng 6 nguồn lực tồn tại trong môi trường vĩ mô, bao gồm: N hân khNu học, kinh tế, môi trường tự nhiên, công nghệ, văn hóa. Thứ nhất, nhân khGu học: Đặc điểm nhân khNu học bao gồm dân số, độ tuổi, giới tính, mật độ phân bổ dân cư, nghề nghiệp, trình độ học vấn, tình trạng hôn nhân, tôn giáo, mức thu nhập hàng tháng, dân tộc,… Bằng một cách trực tiếp hay gián tiếp, đặc điểm nhân khNu học tại khu vực hoạt động của doanh nghiệp sẽ tác động đến hành vi của người tiêu dùng và ảnh hưởng đến nội dung hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp, cách thức doanh nghiệp tiếp cận khách hàng, phân khúc thị trường, lựa chọn thị trường mục tiêu. Thứ hai, nền kinh tế: Môi trường kinh tế bao gồm các cơ chế của thị trường, sự phát triển của các ngành nghề kinh doanh, cán cân xuất nhập khNu, thu nhập của các do- anh nghiệp, cá nhân tồn tại trong môi trường đó. Môi trường kinh tế bao gồm các yếu tố tác động đến thu nhập của những người sống trong môi trường đó, từ đó ảnh hưởng đến khả năng chi tiêu và thói quen mua sắm của người tiêu dùng.
Khi nền kinh tế đi xuống, người tiêu dùng sẽ có xu hướng “thắt lưng buộc bụng” và lựa chọn những sản phNm/dịch vụ vừa đủ phục vụ nhu cầu với mức giá vừa phải. N gược lại, khi nền kinh tế đi lên, người tiêu dùng có xu hướng thoải mái hơn trong việc mua sắm, sẵn sàng chi cho những sản phNm/dịch vụ đắt tiền có giá trị cao. SVTH: guyễn Thị hư Phương 8 KHÓA LUẬ TỐT GHIỆP GVHD: ThS. Lê Anh Quý Thứ ba, môi trường tự nhiên: Về cơ bản những thay đổi của môi trường tự nhiên có thể tác động mạnh mẽ đến hoạt động của doanh nghiệp.
Ô nhiễm nước, không khí, đất đai hay các biến đổi khí hậu, thiên tài,… đều gây ảnh hướng lớn đến kết quả kinh doanh của doanh nghiệp. Thứ tư, công nghệ: Môi trường công nghệ bao gồm các mô hình ứng dụng để hỗ trợ con người trong các hoạt động thường ngày. Có thể xem môi trường công nghệ là một nguồn lực góp phần định hình cách thức hoạt động của cả thế giới, trong đó có doanh nghiệp. Sự phát triển của công nghệ và những ứng dụng của nó đã cho ra đời các sản phNm có mức độ tân tiến hơn qua hàng năm, đáp ứng nhu cầu của người tiêu dùng một cách tốt hơn.
Bên cạnh đó, các ứng dụng công nghệ cũng giúp doanh nghiệp nâng cao hiệu quả, tiến độ quá trình sản xuất, tiết kiệm được nguồn nhân lực, nguyên vật liệu,…. Thứ năm, môi trường chính trị − xã hội: N ền chính trị ở một quốc gia luôn có những ảnh hưởng nhất định đối với hoạt động sản xuất và kinh doanh ở các doanh nghiệp. Tuy rằng hầu hết các quốc gia đã áp dụng nền kinh tế thị trường và cho phép tự do thông thương với các quốc gia khác, nhưng vẫn còn một số quốc gia mà chính phủ áp dụng mô hình bao cấp và đóng cửa giao thương. Bên cạnh đó, một số doanh nghiệp cung cấp sản phNm/dịch vụ thiết yếu như điện, nước, xăng dầu vẫn ở thế độc quyền và bị kiểm soát chặt chẽ bơi chính phủ.
Luật pháp đóng vai trò là định hình khuôn mẫu đối với hoạt động kinh doanh và sản xuất của doanh nghiệp tại quốc gia, địa phương đó. Hầu hết các quốc gia đều áp dụng một mức thuế thu nhập đối với một doanh nghiệp, tùy theo ngành nghề hoạt động. Một số ngành nghề kinh doanh cần đạt tiêu chuNn về cơ sở vật chất, quy trình sản xuất, phòng cháy chữa cháy…mới có thể đi vào hoạt động.