Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ KẾ TOÁN DOANH THU VÀ XÁC ĐỊNH KẾT QUẢ KINH DOANH TRONG DOANH NGHIỆP VỪA VÀ NHỎ 1.1 Những vấn đề chung về kế toán doanh thu và xác định kết quả kinh doanh 1.1 Một số khái niệm Khái niệm về doanh thu: Theo Khoản 1 Điều 56 Thông tư 133/2016/TT- BTC: “Doanh thu là lợi ích kinh tế thu được làm tăng vốn chủ sở hữu của doanh nghiệp (DN) ngoại trừ phần đóng góp thêm của các cổ đông. Doanh thu được ghi nhận tại thời điểm giao dịch phát sinh, khi chắc chắn thu được lợi ích kinh tế, được xác định theo giá trị hợp lý của các khoản được quyền nhận, không phân biệt đã thu tiền hay sẽ thu được tiền”. Theo chuẩn mực 01 Ban hành và công bố theo Quyết định số 165/2002/QĐ-BTC ngày 31 tháng 12 năm 2002 của Bộ trưởng Bộ Tài chính: “Doanh thu và thu nhập khác là tổng giá trị các lợi ích kinh tế doanh nghiệp thu được trong kỳ kế toán, phát sinh từ các hoạt động sản xuất, kinh doanh thông thường và các hoạt động khác của doanh nghiệp, góp phần làm tăng vốn chủ sở hữu, không bao gồm khoản góp vốn của cổ đông hoặc chủ sở hữu”. Khái niệm về chi phí Theo Khoản 1 Điều 59 Thông tư 133/2016/TT- BTC: “Chi phí là những khoản làm giảm lợi ích kinh tế, được ghi nhận tại thời điểm giao dịch phát sinh hoặc khi có khả năng tương đối chắc chắn sẽ phát sinh trong tương lai không phân biệt đã chi tiền hay chưa”.
Theo chuẩn mực 01 Ban hành và công bố theo Quyết định số 165/2002/QĐ-BTC ngày 31 tháng 12 năm 2002 của Bộ trưởng Bộ Tài chính: “chi phí là tổng giá trị các khoản làm giảm lợi ích kinh tế trong kỳ kế toán dưới hình thức các khoản tiền chi ra, các khoản khấu trừ tài sản hoặc phát sinh các khoản nợ dẫn đến làm giảm vốn chủ sở hữu, không bao gồm khoản phân phối cho cổ đông hoặc chủ sở hữu”. Khái niệm về kết quả kinh doanh Kết quả kinh doanh là kết quả cuối cùng về các hoạt động của doanh nghiệp trong một kỳ nhất định, là biểu hiện bằng tiền phần chênh lệch giữa tổng doanh thu và tổng chi phí của các hoạt động kinh tế đã được thực hiện. SVTH: Lê Thị Thúy Quỳnh 4 Khóa luận tốt nghiệp GVHD: ThS. Tôn Thất Lê Hoàng Thiện Theo khoản 1 điều 68 thông tư 133/2016/TT-BTC: “ Kết quả hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp bao gồm: Kết quả hoạt động sản xuất, kinh doanh, kết quả hoạt động tài chính và kết quả hoạt động khác.
- Kết quả hoạt động sản xuất, kinh doanh là số chênh lệch giữa doanh thu thuần và trị giá vốn hàng bán (gồm cả sản phẩm, hàng hóa, bất động sản đầu tư và dịch vụ, giá thành sản xuất của sản phẩm xây lắp, chi phí liên quan đến hoạt động kinh doanh bất động sản đầu tư, như: chi phí khấu hao, chi phí sửa chữa, nâng cấp,chi phí cho thuê hoạt động, chi phí thanh lý, nhượng bán bất động sản đầu tư), chi phí bán hàng và chi phí quản lý doanh nghiệp. - Kết quả hoạt động tài chính là số chênh lệch giữa thu nhập của hoạt động tài chính và chi phí hoạt động tài chính. - Kết quả hoạt động khác là số chênh lệch giữa các khoản thu nhập khác và các khoản chi phí khác và chi phí thuế thu nhập doanh nghiệp”.2 Sự cần thiết và nhiệm vụ của kế toán doanh thu và xác định kết quả kinh doanh 1.1 Sự cần thiết của kế toán doanh thu và xác định kết quả kinh doanh Trong doanh nghiệp, kế toán doanh thu là công cụ cung cấp thông tin tài chính cho nhà quản lý phân tích, đánh giá kết quả và hiệu quả sản xuất nhằm đưa ra kế hoạch, dự án cho hoạt động sản xuất kinh doanh (SXKD). Kế toán xác định kết quả kinh doanh cho chúng ta cái nhìn tổng quát và toàn diện, chi tiết về các hoạt động kinh doanh của DN phục vụ đắc lực cho nhà quản trị trong quá trình quản lý và phát triển DN.
Bên cạnh đó, kế toán xác định kết quả có ý nghĩa đặc biệt vô cùng quan trọng trong công tác quản lý và tiêu thụ sản phẩm. Thông qua các thông tin kế toán, nhà quản trị có thể biết được mức độ hoàn thành mục tiêu tiêu thụ sản phẩm từ đó xác định được kết quả kinh doanh trong kì, hay thậm chí là đưa ra các chiến lược để phát triển trong nhiều kỳ tiếp theo hay là cải thiện, khắc phục những tồn đọng, thiếu sót trong kỳ vừa rồi để hoàn thiện DN, cung cấp những thông tin có ích, cần thiết đối với những đối tượng quan tâm đến DN. Việc xác định đúng kết quả kinh doanh sẽ giúp cho nhà quản trị doanh nghiệp thấy được ưu nhược điểm, những vấn đề còn tồn tại, từ đó đưa ra những giải pháp khắc phục, đề ra các phương án chiến lược kinh doanh đúng đắn phù hợp hơn trong các kỳ tiếp theo. SVTH: Lê Thị Thúy Quỳnh 5 Khóa luận tốt nghiệp GVHD: ThS.
Tôn Thất Lê Hoàng Thiện 1.2 Nhiệm vụ công tác kế toán doanh thu và xác định kết quả kinh doanh - Nhiệm vụ quan trọng nhất là cung cấp thông tin đầy đủ, chính xác, kịp thời cho các nhà quản lí và những người có nhu cầu quan tâm đến hoạt động của doanh nghiệp. Từ đó các nhà quản lí có thể đánh giá, phân tích và đưa ra những biện pháp tốt hơn cho hoạt động của doanh nghiệp. - Ghi chép, theo dõi, phản ánh trung thực, kịp thời đầy đủ các khoản doanh thu, giảm trừ doanh thu, chi phí từ đó xác định đúng kết quả kinh doanh. - Mở các loại sổ, thẻ theo quy định để theo dõi, phản ánh tất cả các nghiệp vụ phát sinh tại doanh nghiệp.
- Cung cấp thông tin chính xác trung thực, kịp thời. - Lập các báo cáo, các quyết toán đầy đủ kịp thời để giúp đánh giá đúng về tình hình doanh nghiệp, cũng như nghĩa vụ của doanh nghiệp đối với Nhà nước. - Phân tích, đánh giá về tình hình tiêu thụ sản phẩm hàng hóa cũng như các chi phí phát sinh ở các khâu. - Kiểm tra giám sát tình hình thực hiện chỉ tiêu kế hoạch bán hàng, doanh thu bán hàng của đơn vị, tình hình thanh toán tiền hàng, nộp thuế với Nhà nước.
- Phản ánh kịp thời doanh thu bán hàng để xác định kết quả bán hàng, đôn đốc, kiểm tra, đảm bảo thu đủ và kịp thời tiền bán hàng, tránh bị chiếm dụng vốn bất hợp lý. Tóm lại: Chỉ khi kinh doanh có hiệu quả thì doanh nghiệp mới có lãi và có thể tái sản xuất kinh doanh mở rộng quy mô nhằm nâng cao lợi nhuận đem lại hiệu quả kinh tế cao. Chính vì thế việc tổ chức nâng cao hiệu quả công tác kế toán doanh thu và xác định kết quả kinh doanh có ý nghĩa đối với mọi doanh nghiệp.3 Các phương thức tiêu thụ hàng hóa 1.1 Phương thức bán hàng trực tiếp cho khách hàng Trường hợp giao hàng cho khách hàng trực tiếp tại kho của DN hoặc tại các phân xưởng sản xuất không qua kho thì số sản phẩm này khi đã giao cho khách thì được coi là đã tiêu thụ. Trường hợp giao hàng tại kho của bên mua hoặc tại một địa điểm nào đó đã quy định trước trong hợp đồng thì hàng hóa khi xuất kho chuyển đi vẫn còn thuộc quyền sở hữu của DN.
Khi được bên mua kiểm tra chấp nhập mua, thanh toán hoặc chấp nhận thanh toán về số hàng đã chuyển giao thì số hàng đó được xác định là đã tiêu thụ. SVTH: Lê Thị Thúy Quỳnh 6 Khóa luận tốt nghiệp GVHD: ThS. Tôn Thất Lê Hoàng Thiện 1.2 Phương thức tiêu thụ qua đại lý Đối với đơn vị có hàng ký gửi: Khi xuất hàng cho đại lý hoặc các đơn vị nhận hàng ký gởi thì số hàng này vẫn thuộc quyền sở hữu của DN cho đến khi được tiêu thụ. Khi bán được hàng ký gửi, DN sẽ trả cho bên nhận ký gửi một khoản hoa hồng tính theo tỷ lệ % trên giá ký gửi của số hàng thực tế đã bán được.
Khoản hoa hồng phải trả này được DN hạch toán vào chi phí bán hàng. Đối với đại lý hoặc đơn vị nhận bán hàng ký gửi: Số sản phẩm, hàng hóa nhận bán ký gửi không thuộc quyền sở hữu của đơn vị này. Doanh thu của các đại lý chính là khoản hoa hồng được hưởng.3 Phương thức bán hàng trả góp Theo phương thức này, khi giao hàng cho người mua thì lượng hàng chuyển giao được xác định là đã tiêu thụ. Khách hàng thanh toán một phần tiền hàng ngay lần đầu để được nhận hàng, phần còn lại sẽ được trả dần trong một thời gian nhất định và phải chịu thêm một khoản lãi suất đã được quy định trước trong hợp đồng mua bán.
Khoản tiền lãi có được do bán trả góp không được hạch toán vào doanh thu mà phải hạch toán như khoản doanh thu hoạt động tài chính của DN. Doanh thu bán hàng trả góp được tính theo giá bán tại thời điểm thu tiền một lần.4 Phương thức hàng đổi hàng Theo phương thức hàng đổi hàng, người bán đem sản phẩm, hàng hóa của mình để lấy sản phẩm, hàng hóa của người mua. Giá trao đổi là giá bán sản phẩm, hàng hóa trên thị trường. Trường hợp nếu xảy ra chênh lệch giá trị hàng hóa, sản phẩm trao đổi hai bên tiến hành thanh toán bù trừ cho nhau.2 Nội dung tổ chức kế toán doanh thu và xác định kết quả kinh doanh 1.1 Kế toán doanh thu bán hàng và cung cấp dịch vụ 1.1 Khái niệm “Doanh thu bán hàng là số tiền hàng doanh nghiệp thu được từ sản phẩm, hàng hóa, dịch vụ mà doanh nghiệp đã bán, đã cung cấp cho khách hàng.
Giá trị hàng hóa được thỏa thuận như trên hợp đồng kinh tế về mua, bán và cung cấp sản phẩm, hàng hóa, dịch vụ đã được ghi trên hóa đơn bán hàng hoặc là sự thỏa thuận giữa người mua và người bán”. SVTH: Lê Thị Thúy Quỳnh 7 Khóa luận tốt nghiệp GVHD: ThS. Tôn Thất Lê Hoàng Thiện 1.2 Điều kiện ghi nhận doanh thu Doanh nghiệp chỉ ghi nhận doanh thu bán hàng khi đồng thời thỏa mãn 5 điều kiện sau: 1/ DN đã chuyển giao phần lớn rủi ro và lợi ích gắn liền với quyền sở hữu sản phẩm, hàng hóa cho người mua; 2/ DN không còn nắm giữ quyền quản lý hàng hóa như người sở hữu hoặc quyền kiểm soát hàng hóa; 3/ Doanh thu được xác định tương đối chắc chắn.