Đặt vấn đề Phần II: Nội dung và kết quả nghiên cứu Chƣơng 1: Cơ sở lý luận về kế toán công nợ và phân tích khả năng thanh toán của doanh nghiệp 3 Chƣơng 2: Thực trạng công tác kế toán công nợ và phân tích khả năng thanh toán tại Công ty TNHH TM SAITA Chƣơng 3: Một số giải pháp nhằm hoàn thiện công tác kế toán công nợ và khả năng thanh toán của công ty TNHH TM SAITA Phần III: Kết luận 4 PHẦN II: NỘI DUNG VÀ KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU CHƢƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ KẾ TOÁN CÔNG NỢ VÀ PHÂN TÍCH KHẢ NĂNG THANH TOÁN CỦA CÔNG TY 1. Một số khái niệm cơ bản về công nợ và kế toán công nợ 1. Khái niệm công nợ Trong quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp luôn tồn tại mối quan hệ giữa ngƣời mua và ngƣời bán, giữa các doanh nghiệp với nhau hay trong nội bộ công ty. Trên cơ sở các mối quan hệ này, phát sinh các khoản nợ phải thu hoặc phải trả tƣơng ứng, đây đƣợc gọi là công nợ.
Công nợ bao gồm các khoản phải thu, phải trả và quan hệ thanh toán (Võ Văn Nhị, 2008) 1. Khái niệm các khoản phải thu Nợ phải thu là một bộ phận quan trọng trong tài sản của doanh nghiệp, phát sinh trong quá trình hoạt động của doanh nghiệp khi thực hiện việc cung cấp sản phẩm, hàng hóa, dịch vụ cũng nhƣ một số trƣờng hợp khác khiến cho một bộ phận tài sản của doanh nghiệp bị chiếm dụng tạm thời (Võ Văn Nhị, 2009) Trong doanh nghiệp, các khoản phải thu bao gồm: Phải thu khách hàng, phải thu nội bộ, phải thu khác, tạm ứng, trả trƣớc,… - Phải thu khách hàng là khoản nợ phải thu của doanh nghiệp với khách hàng về tiền bán sản phẩm, hàng hóa, BĐSĐT, TSCĐ, các khoản đầu tƣ tài chính, cung cấp dịch vụ mà doanh nghiệp chƣa thu tiền. Đối tƣợng phải thu là các khách hàng có quan hệ kinh tế với doanh nghiệp về mua sản phẩm, hàng hóa, nhận cung cấp dịch vụ, kể cả TSCĐ, BĐSĐT. - Khoản tạm ứng là một khoản tiền hoặc vật tƣ do doanh nghiệp giao cho ngƣời nhận tạm ứng để thực hiện nhiệm vụ sản xuất, kinh doanh hoặc giải quyết 5 một công việc nào đó đƣợc phê duyệt.
Ngƣời nhận tạm ứng phải là ngƣời lao động làm việc tại doanh nghiệp. Khái niệm các khoản phải trả Theo đoạn 42, chuẩn mực chung (VAS 01) về tiêu chuẩn ghi nhận nợ phải trả: “Nợ phải trả đƣợc ghi nhận trong Bảng cân đối kế toán khi có đủ điều kiện chắc chắn là doanh nghiệp sẽ phải dùng một lƣợng tiền chi ra để trang trải cho những nghĩa vụ hiện tại mà doanh nghiệp phải thanh toán, và khoản nợ phải trả đó phải xác định Theo đoạn 18, chuẩn mực chung (VAS 01): “Nợ phải trả là nghĩa vụ hiện tại của doanh nghiệp phát sinh từ các giao dịch và sự kiện đã qua mà doanh nghiệp phải thanh toán từ các nguồn lực của mình”. Theo thông tƣ 200/2014/TT-BTC tại Điều 112 quy định về hƣớng dẫn lập và trình bày Bảng cân đối kế toán năm nhƣ sau: Nợ ngắn hạn là tổng giá trị các khoản nợ còn phải trả có thời hạn thanh toán không quá 12 tháng hoặc dƣới một chu kỳ sản xuất kinh doanh thông thƣờng nhƣ: Các khoản vay và nợ thuê tài chính ngắn hạn, phải trả ngƣời bán, thuế và các khoản phải nộp Nhà nƣớc, phải trả ngƣời lao động, chi phí phải trả, phải trả nội bộ, doanh thu chƣa thực hiện, dự phòng phải trả… tại thời điểm báo cáo. Nợ dài hạn là tổng giá trị các khoản nợ dài hạn của doanh nghiệp bao gồm những khoản nợ có thời hạn thanh toán còn lại từ 12 tháng trở lên hoặc trên một chu kỳ sản xuất, kinh doanh thông thƣờng tại thời điểm báo cáo, nhƣ : Các khoản phải trả ngƣời bán, phải trả nội bộ, các khoản phải trả dài hạn khác, vay và nợ thuê tài chính dài hạn.
• Khoản phải trả ngƣời bán - Tài khoản này phản ánh tình hình thanh toán về các khoản nợ phải trả của doanh nghiệp cho ngƣời bán vật tƣ, hàng hóa, ngƣời cung cấp dịch vụ theo hợp đồng kinh tế đã kí kết. Khi doanh nghiệp mua chịu sẽ dẫn đến phát sinh nghiệp vụ 6 thanh toán nợ phải trả, khi doanh nghiệp ứng trƣớc tiền mua hàng cho ngƣời bán sẽ nảy sinh một khoản tiền nợ phải thu đối với NCC. - Tài khoản này cũng đƣợc dùng để phản ánh tình hình thanh toán về các khoản nợ phải trả cho ngƣời nhận thầu xây lắp chính, phụ. • Phải trả ngƣời lao động Phải trả ngƣời lao động là các khoản phải trả và tình hình thanh toán các khoản phải trả cho ngƣời lao động của doanh nghiệp về tiền lƣơng, tiền công, tiền thƣởng, bảo hiểm xã hội và các khoản phải trả khác thuộc về thu nhập của ngƣời lao động.
Quan hệ thanh toán Quan hệ thanh toán là một quan hệ kinh doanh xảy ra khi doanh nghiệp có quan hệ mua bán và có sự trao đổi về một khoản vay nợ tiền vốn cho kinh doanh. Mọi quan hệ thanh toán đều tồn tại trong sự cam kết vay nợ giữa chủ nợ và con nợ về một khoản tiền theo điều khoản đã qui định có hiệu lực trong thời hạn cho vay, nợ. Quan hệ thanh toán có nhiều hình thức khác nhau nhƣng chung quy lại chủ yếu là có hai hình thức sau: Thanh toán trực tiếp và thanh toán trung gian. Thanh toán trực tiếp: Là hình thức thanh toán mà ngƣời mua và ngƣời bán thanh toán trực tiếp với nhau bằng tiền mặt hoặc chuyển khoản đối với các khoản nợ phát sinh.
Thanh toán trung gian: Là hình thức thanh toán không phải là trực tiếp giữa ngƣời mua và ngƣời bán mà thông qua một bên thứ ba nhƣ ngân hàng hoặc các tổ chức tài chính khác đứng ra làm trung gian thanh toán các khoản nợ phát sinh thông qua ủy nhiệm thu, ủy nhiệm chi, séc, thƣ tín dụng,… 1. Nguyên tắc hạch toán kế toán công nợ 1. Nguyên tắc kế toán phải thu Theo điều 17, Thông tƣ 200/2014/TT – BTC về nguyên tắc kế toán các 7 khoản phải thu đƣợc quy định nhƣ sau: 1) Các khoản phải thu đƣợc theo dõi chi tiết theo kỳ hạn phải thu, đối tƣợng phải thu, loại nguyên tệ phải thu và các yếu tố khác theo nhu cầu quản lý của doanh nghiệp. 2) Việc phân loại các khoản phải thu là phải thu khách hàng, phải thu nội bộ, phải thu khác đƣợc thực hiện theo nguyên tắc: a) Phải thu của khách hàng gồm các khoản phải thu mang tính chất thƣơng mại phát sinh từ giao dịch có tính chất mua – bán, nhƣ: phải thu về bán hàng, cung cấp dịch vụ, thanh lý, nhƣợng bán tài sản (TSCĐ, BĐSĐT, các khoản đầu tƣ tài chính) giữa doanh nghiệp và ngƣời mua (là đơn vị độc lập với ngƣời bán, gồm cả các khoản phải thu giữa Công ty mẹ và Công ty con, liên doanh, liên kết).
Khoản phải thu này gồm các khoản phải thu về tiền bán hàng xuất khẩu của bên giao ủy thác thông qua bên nhận ủy thác. b) Phải thu nội bộ gồm các khoản phải thu giữa đơn vị cấp trên và đơn vị cấp dƣới trực thuộc không có tƣ cách pháp nhân hạch toán phụ thuộc. c) Phải thu khác gồm các khoản phải thu không có tính thƣơng mại, không liên quan đến giao dịch mua bán, nhƣ: - Các khoản phải thu tạo ra doanh thu hoạt động tài chính, nhƣ: khoản phải thu về lãi cho vay, tiền gửi, cổ tức và lợi nhuận đƣợc chia. - Các khoản chi cho bên thứ ba đƣợc quyền nhận lại; Các khoản bên nhận ủy thác xuất khẩu phải thu hộ cho bên giao ủy thác.
- Các khoản phải thu không mang tính thƣơng mại nhƣ mƣợn tài sản, phải thu về tiền phạt, bồi thƣờng, tài sản thiếu chờ xử lý. 3) Khi lập báo cáo tài chính, kế toán căn cứ kỳ hạn còn lại của các khoản phải thu để phân loại là dài hạn hay ngắn hạn. Các chỉ tiêu phải thu của Bảng cân đối kế toán có thể bao gồm cả các khoản đƣợc phản ánh ở các tài khoản phải thu, nhƣ: khoản cho vay đƣợc phản ánh ở TK 1283; Khoản ký quỹ, kí cƣợc phản ánh ở tài khoản 244, khoản tạm ứng ở TK 141… Việc xác định các khoản cần lập dự phòng 8 phải thu khó đòi đƣợc căn cứ vào các khoản mục đƣợc phân loại là phải thu ngắn hạn, dài hạn của Bảng cân đối kế toán. 4) Kế toán phải xác định các khoản phải thu thỏa mãn định nghĩa của các khoản mục tiền tệ có gốc ngoại tệ (đƣợc hƣớng dẫn chi tiết ở tài khoản 413 – Chênh lệch tỷ giá hối đoái) để đánh giá lại cuối kỳ khi lập Báo cáo tài chính.
Nguyên tắc kế toán phải trả Theo điều 50, Thông tƣ 200/2014/ TT – BTC về nguyên tắc kế toán các khoản phải trả quy định nhƣ sau: 1) Các khoản nợ phải trả đƣợc theo dõi chi tiết theo kỳ hạn phải trả, đối tƣợng phải trả, loại nguyên tệ phải trả và các yếu tố khác theo nhu cầu quản lý doanh nghiệp. 2) Việc phân loại các khoản phải trả là phải trả ngƣời bán, phải trả nội bộ, phải trả khác đƣợc thực hiện theo nguyên tắc: a) Phải trả ngƣời bán gồm các khoản phải trả mang tính chất thƣơng mại phát sinh từ giao dịch mua hàng hóa, dịch vụ, tài sản và ngƣời bán (là đơn vị độc lập với ngƣời mua, gồm cả các khoản phải trả giữa Công ty mẹ và Công ty con, Công ty liên doanh, liên kết). Khoản phải trả này gồm cả các khoản phải trả khi nhập khẩu thông qua ngƣời nhận ủy thác (trong giao dịch nhập khẩu ủy thác). b) Phải trả nội bộ gồm các khoản phải trả giữa đơn vị cấp trên và đơn vị cấp dƣới trực thuộc không có tƣ cách pháp nhân hoạch toán phụ thuộc.
c) Phải trả khác gồm các khoản phải trả không có tính thƣơng mại, không liên quan đến giao dịch mua, bán, cung cấp hàng hóa, dịch vụ: - Các khoản phải trả liên quan đến chi phí tài chính nhƣ: khoản phải trả về lãi vay, cổ tức và lợi nhuận phải trả, chi phí hoạt động đầu tƣ tài chính phải trả. - Các khoản phải trả do bên thứ ba chi hộ; Các khoản tiền bên nhận ủy thác nhận của các bên liên quan đến thanh toán theo chỉ định trong giao dịch ủy thác xuất nhập khẩu. 9 - Các khoản phải trả mang tính thƣơng mại nhƣ phải trả do mƣợn tài sản, phải trả về tiền phạt, bồi thƣờng, tài sản thừa chờ xử lý, phải trả về các khoản BHXH, BHTN, KPCĐ… 3.