CHƯƠNG I.TÌNH HÌNH PHÁT TRIỂN CỦA NGÀNH DƯỢC VIỆT NAM 1.Tình hình nhập khẩu ngành dược năm 2015 [1]. Trong 9 tháng đầu năm nay cả nước đã nhập khẩu 1.6 tỷ USD các mặt hàng dược phẩm tăng khoảng 10.8% so với cùng kỳ năm trước. Với mức tăng trưởng từ nhập khẩu vượt trên 2 tỷ USD dù các tháng cuối năm giá trị nhập khẩu có chậm lại so với cùng kỳ. Danh mục nhập khẩu từ các quốc gia nhiều nhất có Pháp, Ấn Độ, Đức, Hàn Quốc chiếm 40% tổng giá trị nhập khẩu [1].
Pháp vẫn là nguồn cung lớn nhất thị trường dược phẩm VN năm nay hơn 208 triệu USD, tăng 20% so với năm trước. Một số thị trường có biến động tăng mạnh hơn 30% có Nga, Tây Ban Nha, Ba Lan, Thụy Điển. Thị trường thuốc Việt hàng năm cung cấp khoảng 50% nhu cầu hơn 3 tỷ USD cả nước [2]. Chi tiêu thuốc bình quân đầu người Việt Nam hiện nay quanh mức 35 – 37 USD/năm vẫn ở mức thấp so với nhiều nước lân cận như Thái Lan (60 USD người/năm), Trung Quốc (100 USD người/năm).
Với tốc độ phát triển kinh tế và nhu cầu khám chữa bệnh ngày càng tăng cao thì trong 5 năm tới giá trị thị trường dược phẩm Việt Nam có thể đạt mức 8 tỷ USD [2]. Đến nay Việt Nam vẫn nằm trong top đầu thế giới về tăng trưởng chi tiêu cho dược phẩm. Rõ ràng tiềm năng của ngành dược phẩm là còn rất lớn và việc thông qua hiệp định TPP đã có thêm nhiều cơ hội và thách thức cho ngành dược trong những năm tới. 3 Luan van thac si Hình 1.Tình hình nhập khẩu thuốc của Việt Nam từ 2008 - 2015 1.Về hiệp định TPP tác động đến ngành dược [1] Khi gia nhập vào hiệp định TPP các công ty dược phẩm trong nước sẽ đối diện với sức ép cạnh tranh lớn hơn từ các hãng quốc tế.
Theo thỏa thuận, dược phẩm sẽ giảm thuế từ 2.5% về 0%, ngoài ra thời gian bảo hộ đối với thuốc độc quyền sẽ tăng lên. Với mức thuế từ 2.5% về 0% có thể không gây khó khăn quá đáng kể cho ngành dược trong nước do mức thuế ban đầu đã rất thấp. Tuy nhiên quyền bảo hộ công thức thuốc gốc lâu hơn sẽ là gây khó khăn cho các quốc gia có nền sản xuất dược phẩm ở mức thấp như Việt Nam vốn chỉ sản xuất chủ yếu dòng thuốc generic là loại thuốc có cùng công thức thuốc gốc nhưng chỉ được phát triển sau khi hết thời hạn bảo hộ độc quyền. Việc kéo dài thời gian bảo hộ thuốc gốc sẽ khiến các doanh nghiệp Việt Nam mất nhiều thời gian hơn để phát triển và thuốc ngoại sẽ chiếm ưu thế hoàn toàn trên thị trường.
Ngoài ra việc đấu thầu cũng diễn ra công khai và các hãng dược nước ngoài sẽ không có sự phân biệt với các hãng dược trong nước. Một số công ty dược từ các nước Trung Quốc, Ấn Độ có dược tính thấp nhưng ưu thế giá rẻ 4 Luan van thac si sẽ được trúng thầu bệnh viện vì vậy cần có các biện pháp cần thiết để bảo vệ các hãng dược trong nước. Tuy nhiên việc gia nhập TPP cũng mang lại một số mặt tích cực như sẽ có nhiều doanh nghiệp nước ngoài liên kết đầu tư trong nước cả về nghiên cứu phát triển lẫn sản xuất và phân phối dược phẩm. Hiện nay có khoảng 10 doanh nghiệp FDI tham gia sản xuất dược tại Việt Nam trong đó chủ yếu đến từ Mỹ như OPV, Ampharco, Boston Pharma, và Sanofi Aventis của Pháp, Novartis của Thụy Sĩ.
Phía Việt Nam có một số doanh nghiệp lớn như Dược Hậu Giang, Pymepharco, Domesco, Imaxpharm, Traphaco, OPC, SPM, Mekophar. Khoảng ¾ các doanh nghiệp lớn đã niêm yết trên sàn chứng khoán trừ một số doanh nghiệp như Pymepharco, Mekophar. Như đã đề cập ở trên, các doanh nghiệp Việt đều tập trung các sản phẩm thuốc generic vì vậy có sự trùng lập chức năng công dụng tạo nên sự cạnh tranh lẫn nhau khá lớn ngay tại thị trường trong nước. Theo Thông tư 01 và Nghị định số 63/2014/NĐ-CP về quy định đấu thầu thuốc tại các cơ sở y tế đã giúp nhà nước tiết kiệm 20% - 35% tiền đấu thầu nhờ vào tiêu chí lựa chọn giá chào thầu thấp[26] [27].
Nghị định này cũng đã gây ảnh hưởng đáng kể đến các công ty dược phẩm trong nước khi thuốc bệnh viện chiếm một tỷ trọng nguồn thu rất lớn nay gặp sự cạnh tranh các công ty dược phẩm nước ngoài[27]. Bên cạnh việc cạnh tranh khốc liệt sẽ khiến một số loại thuốc thông thường sẽ phải hạ giá thì một số loại thuốc giá rẻ nhưng chất lượng không cao vì vậy sẽ làm thời gian chữa bệnh tăng lên và do đó chi phí điều trị có khi tăng hơn. Một số công ty dược Việt Nam trong những năm gần đây đã mở rộng thị trường sang các nhà thuốc bán lẻ để bù cho nguồn thu từ bệnh viện. Cũng do một phần nguyên nhân này mà các doanh nghiệp dược trong 2 năm gần đây đã tăng trưởng chậm lại và chuyển sang mở rộng các kênh phân phối khác như các nhà thuốc bán lẻ hay nghiên cứu phát triển dòng thuốc mới [1] [2].
5 Luan van thac si Trong một năm gần đây, ngành dược Việt Nam đang gặp các áp lực cạnh tranh cả bên trong lẫn bên ngoài đã khiến biên lợi nhuận của ngành giảm xuống. Lợi nhuận trên vốn chủ sở hữu một số doanh nghiệp lớn trước đây luôn trên 30% và bình quân ngành luôn ở mức cao trên 25% từ 2010 đến 2013 bất chấp các giai đoạn khủng hoảng kinh tế. Khó khăn chỉ xuất hiện từ sau 2014 và đến nay các chỉ tiêu tăng trưởng ngành như ROE chỉ còn 19.6% trong khi EPS đã giảm từ 7,000 bình quân xuống còn 5,200. Đây là những khó khăn đã được dự đoán trước khi doanh nghiệp trong nước còn loay hoay phát triển các loại dược phẩm công thức generic và thực phẩm chức năng mà chưa chú trọng nhiều đầu tư phát triển các dòng thuốc đặc trị.
Tăng trưởng ngành dược Việt Nam từ 2010 đến 2015 [1] 1.Tình hình cung ứng thuốc hiện nay [15] Việc cung ứng thuốc ở Việt Nam hiện nay được thực hiện bởi một hệ thống cung ứng thuốc rất đông đảo, bao gồm 1.676 doanh nghiệp trong nước; 39 doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, 91 doanh nghiệp xuất nhập khẩu trực tiếp thuốc; 438 doanh nghiệp nước ngoài cung cấp thuốc, 38.916 cơ sở bán lẻ thuốc [14]. Khả năng tiếp cận thuốc ở nước ta tương đối tốt do có mạng 6 Luan van thac si lưới phân phối thuốc rộng khắp trên toàn quốc. Các cơ sở y tế từ bệnh viện đến trạm y tế đều có đủ thuốc phù hợp với phân tuyến kỹ thuật. Chi mua thuốc năm 2007 tăng gần gấp đôi so với năm 2000 và chiếm khoảng 40% tổng chi y tế.
Công nghiệp bào chế dược phẩm phát triển mạnh về số lượng doanh nghiệp và mặt hàng. Đến nay, sản xuất trong nước đã đáp ứng khoảng 50% tổng nhu cầu thuốc của nhân dân. Trong những năm qua, diễn biến thị trường thuốc tại Việt Nam tương đối phức tạp. Một số biện pháp bình ổn giá thuốc đã được thực hiện như quản lý đấu thầu thuốc trong bệnh viện công, dự trữ thuốc, khuyến khích phát triển thuốc sản xuất trong nước, cấm sử dụng lợi ích dưới mọi hình thức để tác động tới thày thuốc và người dùng nhằm thúc đẩy việc kê đơn, sử dụng thuốc.… Tuy vậy, việc kiểm soát giá thuốc trên thị trường Việt Nam vẫn còn là một thách thức lớn.
Giá thuốc ở Việt Nam vẫn còn cao so với giá tham khảo quốc tế, kể cả đối với thuốc biệt dược và thuốc gốc. Đấu thầu thuốc chưa có hiệu quả trong việc giảm giá thuốc bệnh viện. Một số thuốc có rất ít số đăng ký được cấp, tạo ra tình trạng độc quyền, làm tăng giá một số loại thuốc. Việt Nam vẫn phụ thuộc vào nhập khẩu để đáp ứng nhu cầu khám chữa bệnh của nhân dân.
Đến nay vẫn phải nhập khẩu đến 90% nguyên liệu và bao bì làm thuốc để phục vụ sản xuất trong nước [14]. Thuốc biệt dược đắt hơn thuốc gốc nhưng vẫn chiếm tỷ lệ lớn thị phần, do chưa có những quy định phù hợp để khuyến khích sử dụng thuốc gốc. Sử dụng thuốc (đặc biệt kháng sinh) không hợp lý đang có xu hướng gia tăng dẫn đến kháng thuốc trong cộng đồng, tăng tác hại của thuốc, cũng như tăng chi phí thiết yếu cho mua thuốc. Phác đồ điều trị chuẩn chưa được xây dựng và cập nhật nên thiếu tiêu chuẩn để kiểm soát đơn thuốc do bác sỹ chỉ định [15].
Thuốc trong nước còn trùng lặp nhiều mặt hàng, có nhiều thuốc cùng hoạt chất, chủ yếu là thuốc thông thường, rẻ tiền, khả năng cạnh tranh chưa cao. Chưa đầu tư thuốc chuyên khoa đặc trị hoặc thuốc yêu cầu sản xuất với công nghệ cao. Khi thị trường thuốc cung cấp bằng và trên nhu cầu của cộng đồng lại nảy sinh vấn đề mất 7 Luan van thac si công bằng trong sử dụng thuốc nói chung. Mức hưởng thụ thuốc chữa bệnh quá chênh lệch giữa các vùng địa lý khác nhau và giữa các tầng lớp dân cư.
Hà Nội và Thành phố Hồ Chí Minh có mức tiêu thụ thuốc bình quân đầu người cao nhất, trong khi các tỉnh miền núi lại rất thấp. Từ sau khi Chính sách quốc gia về thuốc được ban hành và thực hiện cách đây gần 20 năm (1996), thị trường thuốc đã có những diễn biến tương đối phức tạp, nhiều thách thức mới về giá thuốc, chất lượng thuốc, cũng như về sử dụng thuốc an toàn, hiệu quả đang đòi hỏi phải có sự xem xét, điều chỉnh các cơ chế, chính sách cho phù hợp [6]. Mặc dù đã có rất nhiều quy định phù hợp với tiêu chuẩn quốc tế về quản lý thuốc, nhưng trên thực tế vẫn còn tồn tại một số khó khăn liên quan đến thi hành, theo dõi, đánh giá việc thực hiện các điều luật, các quy chế. Cụ thể, dù thông tin về giá thuốc ngày càng minh bạch, vẫn thiếu cơ chế chủ động quản lý thặng dư, hoặc tận dụng tham khảo giá quốc tế trong công tác quản lý giá thuốc nhằm đảm bảo cho bệnh nhân mức giá hợp lý nhất.
Đối với sử dụng thuốc an toàn hợp lý, mặc dù đã ban hành quy chế kê đơn và bán thuốc theo đơn, việc giám sát mức độ tuân thủ còn yếu, chưa có chế tài đủ mạnh để bảo đảm quy chế được thực hiện. Đối với các bác sỹ kê đơn thuốc, hiện nay đang thiếu các hướng dẫn điều trị đủ chi tiết để định hướng rõ hơn về sử dụng thuốc an toàn, hợp lý trong khám, chữa bệnh[5].