phần mở đầu, kết luận, các bảng biểu, phụ lục, mục lục, danh mục các tài liệu tham khảo, luận văn gồm 4 chƣơng: Chƣơng 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu và cơ sở lý luận về phân tích hoạt động kinh doanh của các công ty chứng khoán. Chƣơng 2: Phƣơng pháp nghiên cứu và thiết kế nghiên cứu. Chƣơng 3: Phân tích thực trạng hoạt động kinh doanh của một số công ty chứng khoán niêm yết tại sở giao dịch chứng khoán thành phố Hồ Chí Minh. Chƣơng 4: Các giải pháp nhằm phát triển hoạt động kinh doanh của một số công ty chứng khoán niêm yết tại sở giao dịch chứng khoán thành phố Hồ Chí Minh.
2 CHƢƠNG 1 : TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ PHÂN TÍCH HOẠT ĐỘNG KINH DOANH CỦA CÁC CÔNG TY CHỨNG KHOÁN 1. Tổng quan tình hình nghiên cứu Thực tiễn cho thấy, các doanh nghiệp có thể tồn tại và phát triển đƣợc phụ thuộc rất lớn vào hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp đó có tạo ra đƣợc doanh thu và lợi nhuận hay không. Hiệu quả hoạt động kinh doanh là mối quan tâm hàng đầu của các doanh nghiệp, bởi nó quyết định sự tồn tại và thể hiện năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp. Hoạt động kinh doanh tốt sẽ tạo ra lợi nhuận, có lợi nhuận doanh nghiệp sẽ có nguồn vốn để trang trải chi phí và tái sản xuất, thực hiện các nghĩa vụ khác đối với nhà nƣớc, đồng thời có nguồn vốn để chi trả cổ tức cho cổ đông … Bên cạnh đó việc đánh giá tình hình kinh tế nói chung và phân tích hoạt động kinh doanh nói riêng giúp cho bản thân doanh nghiệp tự đánh giá mức độ tăng trƣởng và mức độ hoàn thành các kế hoạch đặt ra, từ đó tìm ra những yếu tố ảnh hƣởng tích cực nhằm phát huy và loại bỏ các yếu tố tiêu cực để tăng khả năng cạnh tranh nâng cao hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp.
Đã có không ít các đề tài nghiên cứ về thị trƣờng chứng khoán nói chung cũng nhƣ hiệu quả hoạt động kinh doanh của từng công ty chứng khoán nói riêng. Các đề tài đƣợc các tác giả nghiên cứu theo các cách tiếp cận khác nhau. Trong luận án tiến sĩ với đề tài "Giải pháp đổi mới hoạt động ngân hàng thƣơng mại nhằm góp phần phát triển thị trƣờng chứng khoán ở Việt nam" tác giả Đặng Ngọc Đức (2002), nghiên cứu hoạt động của ngân hàng thƣơng mại trên thị trƣờng chứng khoán trên góc độ của ngân hàng thƣơng mại. Tác giả có phân tích mối quan hệ giữa hoạt động của ngân hàng thƣơng mại với hoạt động trên thị trƣờng chứng khoán và chỉ ra các hoạt động mà một ngân hàng thƣơng mại có thể thực hiện trên thị trƣờng chứng khoán trong chƣơng I bao gồm: (1) Đầu tƣ và kinh doanh chứng khoán; (2) thanh toán bù trừ và lƣu ký chứng khoán; (3) môi giới; (4) tƣ vấn đầu tƣ chứng khoán.
Tuy nhiên, trong chƣơng II, tác giả mới chỉ đánh giá khả năng, những thuận lợi, khó khăn, thách thức của ngân hàng thƣơng mại nhà nƣớc khi hoạt động trên thị trƣờng chứng khoán Việt nam. Nhằm góp phần đổi mới hoạt động ngân hàng thƣơng mại nhà nƣớc, tác giả 3 có đề xuất một giải pháp hoàn thiện tổ chức và hoạt động của công ty chứng khoán thuộc ngân hàng thƣơng mại nhà nƣớc đến năm 2006. Trong luận án tiến sĩ với đề tài "toward a well functioning securities in Vietnam" (hƣớng tới một thị trƣờng chứng khoán Việt nam hoạt động hiệu quả) của tác giả Nguyễn Thị Ánh Vân (2002) bao gồm 7 chƣơng nghiên cứu về khía cạnh pháp lý điều chỉnh các lĩnh vực hoạt động chủ yếu của thị trƣờng. Tác giả dành một chƣơng (chƣơng 4) nghiên cứu về qui chế pháp lý điều chỉnh xung đột lợi ích giữa công ty chứng khoán và khách hàng.
Tác giả đã chỉ ra trong hoạt động của công ty chứng khoán có những hoạt động sẽ dẫn tới xung đột lợi ích giữa công ty chứng khoán và khách hàng, đó là hoạt động môi giới và tự doanh, hoạt động tự doanh và tƣ vấn đầu tƣ chứng khoán. Để giải quyết cho vấn đề này tác giả đề xuất giải pháp trên phƣơng diện pháp lý. Hoàng Phú Cƣờng với đề tài “ Hoàn thiện mô hình công ty chứng khoán Việt Nam” (Vụ quản lý kinh doanh chứng khoán) tập trung phân tích rõ thực trạng, nêu lên hạn chế và các nguyên nhân hạn chế trên thị trƣờng chứng khoán Việt Nam từ khi thị trƣờng mở cửa đến năm 2013, trên cả thị trƣờng sơ cấp và thứ cấp, từ đó định vị vị trí của thị trƣờng chứng khoán Việt Nam trong khu vực… Và đƣa ra định hƣớng hoàn thiện mô hình hoạt động của các công ty chứng khoán Việt Nam trong thời gian tới. Hay bài báo “20 năm chứng khoán Việt Nam: Cùng xây dựng, cùng phát triển” – phát biểu của ông Lê Hải Trà, phó tổng giám đốc phục trách sở GDCK TP.
Hồ Chí Minh (HOSE) về sự phát triển của thị trƣờng chứng khoán 20 năm qua, các thành tựu cột mốc đạt đƣợc và sự kỳ vọng về phát triển thị trƣờng chứng khoán Việt Nam trong tƣơng lai. Ngoài ra, một số luận văn thạc sĩ cũng đã đề cập về hoạt động của công ty chứng khoán Việt Nam, nhƣng trong các luận văn đó các tác giả mới nghiên cứu từng hoạt động riêng lẻ của từng công ty chứng khoán, cụ thể nhƣ: - Luận văn thạc sỹ: “Phát triển hoạt động môi giới tại công ty cổ phần chứng khoán FPT” – tác giả Phan Thị Hồng Hà – trƣờng ĐHKT ĐHQG Hà Nội tập trung hệ thống hóa các lý luận về công ty chứng khoán, môi giới chứng khoán và đặc biệt là lý luận về Sự phát triển hoạt động môi giới chứng khoán, trên cơ sở đó, tác giả đƣa ra các chỉ tiêu định tính và định lƣợng để đánh giá thực trạng hoạt động môi giới tại Công ty chứng khoán FPT. 4 - Luận văn thạc sĩ của tác giả Lê Thị Mai Hƣơng (2006) với đề tài "Phát triển kinh doanh các dịch vụ ở Công ty chứng khoán Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Việt nam". Tác giả đã hệ thống hóa các mảng kinh doanh tại CTCK Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Việt Nam và phân tích sự ảnh hƣởng của các mảng kinh doanh đến tình hình phát triển của công ty.
Từ đó đƣa ra các phƣơng hƣớng, đề xuất để phát triển dịch vụ của công ty này. - Luận văn thạc sĩ của tác giả Đinh Ngọc Phƣơng (2007) với đề tài "Phát triển hoạt động tự doanh của Công ty chứng khoán Ngân hàng Công thƣơng Việt nam". Luận văn tập trung vào mảng tự doanh của CTCK, hoạt động tiềm ẩn khá nhiều rủi ro và là một trong những mảng hoạt động mang về nhiều doanh thu nhất cho công ty. Cuối cùng, tác giả đã đƣa ra một số giải pháp để hoàn thiện, quản lý, hạn chế rủi ro của hoạt động tự doanh của CTCK Ngân hàng Công thƣơng Việt Nam.
Nhƣ vậy có thể nói chƣa có nghiên cứu khoa học nào nghiên cứu một cách tổng thể và toàn diện hoạt động kinh doanh của công ty chứng khoán ở Việt nam cụ thể hoạt động kinh doanh của một số công ty chứng khoán niêm yết tại sở giao dịch chứng khoán TP Hồ Chí Minh, từ khi thị trƣờng chứng khoán Việt nam thành lập đến nay. Do vậy, đề tài "Phân tích hoạt động kinh doanh của một số công ty chứng khoán niêm yết tại sở giao dịch chứng khoán thành phố Hồ Chí Minh" hoàn toàn không trùng lặp với những công trình nghiên cứu khoa học trƣớc đó. Cơ sở lý luận về công ty chứng khoán và phân tích hoạt động kinh doanh của công ty chứng khoán 1.1 Những vấn đề chung về công ty chứng khoán 1.1 Khái niệm công ty chứng khoán Khái niệm về CTCK có thể tiếp cận theo những cách khác nhau, theo giáo trình TTCK, trƣờng Đại học KTQD, CTCK là "một định chế tài chính trung gian thực hiện các nghiệp vụ trên thị trƣờng chứng khoán". [**] Theo giáo trình TTCK, trƣờng Đại học kinh tế Tp.
Hồ Chí Minh, CTCK là "một định chế tài chính trung gian chuyên kinh doanh chứng khoán là đơn vị có tƣ cách pháp nhân, có vốn riêng và hạch toán độc lập". [**] 5 Theo quyết định số 04/1998/QĐ-UBCK3 ngày 13/10/1998 của UBCKNN "CTCK là công ty cổ phần hoặc công ty TNHH thành lập hợp pháp tại Việt nam, đƣợc UBCKNN cấp giấy phép thực hiện một hoặc một số các loại hình kinh doanh chứng khoán". [**] Theo quyết định số 27/2007/QĐ-BTC ngày 24/4/2007 của Bộ trƣởng Bộ Tài chính thì CTCK "là tổ chức có tƣ cách pháp nhân hoạt động kinh doanh chứng khoán, bao gồm một, một số hoặc toàn bộ các hoạt động: môi giới chứng khoán, tự doanh chứng khoán, bảo lãnh phát hành chứng khoán, tƣ vấn đầu tƣ chứng khoán". [**] Nhƣ vậy, CTCK đƣợc hiểu là một tổ chức tài chính trung gian đƣợc thành lập theo pháp luật, thực hiện một và/hoặc một số hoạt động trên TTCK.2 Vai trò của CTCK Lịch sử hình thành và phát triển của TTCK đã chứng minh vai trò không thể thiếu đƣợc của CTCK.
CTCK cần cho cả ngƣời phát hành, ngƣời đầu tƣ chứng khoán và là một trong những nhân tố quyết định sự sôi động, phát triển của TTCK. CTCK có 3 chức năng chủ yếu sau trên thị trƣờng tài chính: • Tạo ra cơ chế huy động vốn bằng cách kết nối những ngƣời có tiền (nhà đầu tƣ) với những ngƣời muốn huy động vốn (ngƣời phát hành chứng khoán); • Cung cấp một cơ chế giá cả nhằm giúp nhà đầu tƣ có đƣợc sự đánh giá đúng thực tế và chính xác về giá trị khoản đầu tƣ của mình; • Cung cấp cơ chế chuyển ra tiền mặt cho các nhà đầu tƣ; Thông qua việc thực hiện các chức năng của mình, CTCK thể hiện vai trò của mình đối với các đối tƣợng tham gia trên TTCK: a) Vai trò huy động vốn: CTCK là trung gian tài chính có vai trò làm chiếc cầu nối và đồng thời là kênh dẫn vốn từ nơi thừa vốn sang nơi thiếu vốn. CTCK đảm nhiệm vai trò này qua hoạt động bảo lãnh phát hành và môi giới chứng khoán. b) Vai trò cung cấp một cơ chế giá cả: CTCK, thông qua các trang báo tài chính niêm yết giá chứng khoán hàng ngày của Sở giao dịch chứng khoán và thị trƣờng OTC, cung cấp cho nhà đầu tƣ một cơ chế giá cả giúp cho nhà đầu tƣ có đƣợc sự đánh giá đúng thực tế và chính xác về giá trị các khoản đầu tƣ của mình.