Chương I: Tổng quan những vấn đề nghiên cứu về phân tích lao động, tiền lương tại Công ty cổ phần thương mại và quảng cáo An Bình Chương II: Tóm lược một số vấn đề lý luận cơ bản về phân tích lao động, tiền lương tại Công ty cổ phần thương mại và quảng cáo An Bình Chương III: Phương pháp nghiên cứu và các kết quả phân tích lao động, tiền lương tại Công ty cổ phần thương mại và quảng cáo An Bình Chương IV: Các kết luận, kết quả và những đề xuất nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng lao động, tiền lương tại Công ty cổ phần thương mại và quảng cáo An Bình. SV: Phạm Văn Quý Lớp HK1B2 Luan van Luận văn tốt nghiệp 5 Trường Đại học Thương mại CHƯƠNG II LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ PHÂN TÍCH LAO ĐỘNG, TIỀN LƯƠNG TẠI CÔNG TY CỔ PHẦN THƯƠNG MẠI VÀ QUẢNG CÁO AN BÌNH 1. Một số định nghĩa và khái niệm cơ bản 1.1 Khái niệm lao động Trong Doanh nghiệp, lực lương lao động có vai trò quan trọng trong quá trình SXKD. Ngoài máy móc thiết bị , những người lao động chính là yếu tố tạo nên giá trị cho doanh nghiệp.
Chính vì vậy việc quản lý và sử dụng lao động là một trong các điều kiện cần thiết cho sự tồn tại và phát triển “ Lao động là hoạt động có mục đích, có ý thức của con người nhằm thay đổi vật thể tự nhiên cho phù hợp với nhu cầu của con người” “ Lao động là hoạt động của con người, sử dụng tư liệu sản xuất tác động vào môi trường tạo ra sản phẩm hàng hóa nhằm đem lại hiệu quả của công tác quản lý” ( Nguồn trích dẫn: Giáo trình phân tích kinh tế ĐHKTQD) Ngoài ra còn có một số khái niệm về lao động như Lao động là hoạt động bằng chân tay hay trí óc có mục đích của con người nhằm biến đổi những vật thể tự nhiên để sản xuất sản phẩm có ích phục vụ cho nhu cầu sản xuất và tiêu dùng của con người. Lao động là điều kiện đầu tiên cần thiết và vĩnh viễn cho sự tồn tại và phát triển của xã hội.Mác định nghĩa: “Lao động là hoạt động có mục đính, có ý thức của con người tác động vào giới tự nhiên nhằm làm thay đổi những vật thể tự nhiên cho phù hợp với nhu cầu của con người”. SV: Phạm Văn Quý Lớp HK1B2 Luan van Luận văn tốt nghiệp 6 Trường Đại học Thương mại Như vậy, lao động là hoạt động không thể thiếu của con người bởi lao động không chỉ tạo ra những của cải vật chất để nuôi sống con người mà còn phát triển con người về mặt thể chất và tri thức. Tuy nhiên đó là theo quan điểm trước đây con ngày nay khi khoa học phát triển thì lao động không chỉ đơn thuần như thế mà nó đòi hỏi phải có trình độ văn hóa, chuyên môn, nghiệp vụ cao.2 Khái niệm tiền lương “Tiền lương là biểu hiện bằng tiền của bộ phận xã hội mà người lao động được sử dụng để bù đắp hao phí lao động của mình trong quá trình sản xuất nhằm tái sản xuất sức lao động”.
Ngoài ra còn có thể hiểu: Tiền lương là nguồn thu nhập chủ yếu của công nhân viên chức, ngoài ra họ còn được hưởng chế độ trợ cấp xã hội trong thời gian nghỉ việc vì ốm đau, thai sản, tai nạn lao động,… và các khoản tiền thưởng thi đua, thưởng năng suất lao động…. Theo luật tổ chức lao động quốc tế (ILO): “ Tiền lương là sự trả công hoặc thu nhâp, bất luận tên gọi hay tính chất nào mà có biểu hiện bằng tiền và được ấn định bằng thỏa thuận giữa người sử dụng lao động và người lao động, hoặc bằng pháp luật, pháp quy quốc gia, do người sử dụng lao động phải trả cho người lao động theo một hợp đồng lao động được viết ra hay bằng miệng cho một công việc đã thực hiện hay sẽ phải thực hiện, hoặc cho một dịch vụ đã làm hay sẽ làm.” ( Nguồn trích dẫn: Hệ thống tiền lương và tiền công) Xét về mặt kinh tế tiền lương là một bộ phận chi phí sản xuất được biểu hiện bằng tiền của hao phí lao động và chất lượng lao động của họ Xét về mặt chính trị xã hội tiền lương thể hiện mối quan hệ sản xuất trong xã hội. Do đó trong trường hợp nhất định thì mối quan hệ này sẽ chuyển hóa thành mối quan hệ chính trị như đình công, thất nghiệp.gây nên mất ổn định.3 Khái niệm chi phí tiền lương SV: Phạm Văn Quý Lớp HK1B2 Luan van Luận văn tốt nghiệp 7 Trường Đại học Thương mại “Chi phí tiền lương là những khoản bằng tiền mà doanh nghiệp trả công cho người lao động căn cứ vào khối lượng, tính chất và hiệu quả công việc mà người lao động đảm nhận” ( Nguồn trích dẫn: Giáo trình phân tích hoạt động kinh tế doanh nghiệp thương mại – Trường đại học Thương Mại XB năm 2006) 1.4 Tầm quan trọng của lao động: Để tiến hành hoạt động sản xuất kinh doanh cần phải có ba yếu tố cơ bản: tư liệu lao động, đối tượng lao động và lao động, trong đó, lao động là yếu tố có tính chất quyết định. Trong tất cả các chế độ xã hội, việc làm ra của cải vật chất, thỏa mãn tất cả các nhu cầu, các điều kiện về sinh hoạt, sinh tồn của xã hội đều do lao động mà có.
Lao động là hoạt động chân tay và hoạt động trí óc của con người nhằm biến đổi các vật thể tự nhiên thành những vật thể cần thiết để thỏa mãn nhu cầu của xã hội. Lao động là điều kịên đầu tiên, cần thiết cho sự tồn tại và phát triển Trong quá trình phát triển của nền sản suất xã hội, vai trò lao động của con người ngày càng tăng thêm. Cuộc cách mạng khoa học kỹ thuật hiện đại đặt ra những yêu cầu mới đối với người lao động phải nâng cao trình độ khả năng về chuyên môn nghiệp vụ, văn hóa ứng xử Để tạo điều kiện cho việc quản lý lao động và sử dụng lao động một cách hợp lý doanh nghiệp phải cần thiết phân loại 1.5 Phân loại lao động 1.1 Phân loại theo tính chất công việc: - Lao động trực tiếp sản xuất: là những lao động trực tiếp tiến hành, tham gia các hoạt động sản xuất kinh doanh tao ra sản phẩm hay trực tiếp thực hiện những nhiệm vụ nhất định. Lao động trực tiếp được phân thành các loại như sau: SV: Phạm Văn Quý Lớp HK1B2 Luan van Luận văn tốt nghiệp 8 Trường Đại học Thương mại + Theo nội dung công việc mà người lao động thực hiện như lao động SXKD chính, lao động SXKD phụ trợ, lao động SXKD khác + Theo năng lực và trình độ chuyên môn thì lao động trực tiếp chia thành lao động có tay nghề cao, trung bình và lao động thủ công - Lao động gián tiếp sản xuất: là bộ phận lao động tham gia một cách gián tiếp vào quá trình SXKD bao gồm những người chỉ đạo, phục vụ, quản lý kinh doanh trong doanh nghiệp.
Trong lao động gián tiếp được phân loại như sau: + Theo nội dung công việc và ngành nghề chuyên môn thì lao động gián tiếp chia thành: Nhân viên kỹ thuật, nhân viên quản lý hành chính. + Theo năng lực và trình độ chuyên môn lao động gián tiếp chia thành : Chuyên viên chính, cán sự và nhân viên 1.2 Phân loại theo cách thức quản lý - Lao động trong danh sách: là những người được đăng ký trong danh sách lao động. Trong danh sách lao động của doanh nghiệp cũng được chia thành cá loại lao động khác nhau theo các chỉ tiêu sau: Căn cứ vào tính thời gian liên tục của thời gian lao động: Lao động mang tính chất thường xuyên và tính tạm thời Căn cứ vào tính chất của lao động sản xuất: lao động sản xuất, lao động kinh doanh - Lao động ngoài danh sách: là lực lượng lao động làm việc nhưng do các ngành khác phải trả lương như cán bộ đoàn thể. Họ là những lao động làm theo thời vụ thời hạn nhất định, tiền lương tiền công do hai bên thỏa thuận Phân loại lao động có ý nghĩa quan trọng trong việc nắm bắt thông tin về số lượng và thành phần lao động trình độ chuyển môn để bố trí sao cho phù hợp.3 Phân loại theo độ tuổi Việc phân loại này rất quan trọng vì nó giúp doanh nghiệp nắm được số lao động sắp về nghỉ hưu để tiến hành tuyển chọn lao động mới thay thế, tiến hành đào tạo nâng cao tay nghề cho lực lượng lao động trẻ.
SV: Phạm Văn Quý Lớp HK1B2 Luan van Luận văn tốt nghiệp 9 Trường Đại học Thương mại 1.4 Phân loại theo bậc thợ Phân loại theo bậc thợ giúp doanh nghiệp biết được trình độ người lao động để có những chính sách đào tạo và khuyến khích người lao động. Trên cơ sở đánh giá chất lượng lao động trong doanh nghiệp Thông thường bậc thợ được chia làm 7 bậc: Bậc 1 và 2 phần lớn là lao động mới vào nghề, đang trong quá trình học việc Bậc 3 và 4 bao gồm những nhân viên đã qua quá trình đào tạo Bậc 5 trở lên là những lao động lành nghề, làm việc lâu năm, tích lũy được nhiều kinh nghiệm.5 Phân loại theo giới tính Phân loại theo giới tính giúp cho doanh nghiệp xác định được cơ cấu lao động trong doanh nghiệp mình. Do tính chất công việc nên cơ cấu lao động ở các doanh nghiệp thường không giống nhau.6 Phân loại tiền lương được chia thành 2 loại Tiền lương danh nghĩa là số tiền thực tế mà người lao động nhận được, tuy nhiên giá cả hàng hóa ở mỗi khu vực, mỗi thời điểm khác nhau nên cùng một lượng tiền lương người lao động sẽ mua được số hàng hóa dịch vụ không giống nhau. Tiền lương thực tế được biểu hiện thông qua số lượng hàng hóa tiêu dùng mà người lao động nhận được thông qua tiền lương danh nghĩa.
2 Một số vấn đề lý thuyết về phân tích lao động, tiền lương 2.1 Phân tích và tình hình quản lý lao động 2.