Chương 1: Cơ sở lý luận về phân tích hiệu quả kinh doanh trong doanh nghiệp Chương 2: Thực trạng phân tích hiệu quả kinh doanh tại trung tâm kinh doanh VNPT Thanh Hóa Chương 3: Giải pháp hoàn thiện phân tích hiệu quả kinh doanh tại trung tâm kinh doanh VNPT Thanh Hóa 4 CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ PHÂN TÍCH HIỆU QUẢ KINH DOANH TRONG DOANH NGHIỆP 1. Hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp 1. Khái niệm và bản chất của hiệu quả kinh doanh trong doanh nghiệp Hiệu quả kinh doanh là một vấn đề đƣợc các nhà kinh tế và quản lý kinh tế rất quan tâm. Mọi hoạt động kinh doanh của bất kỳ doanh nghiệp (DN) nào cũng đều hƣớng tới mục tiêu hiệu quả.
Các doanh nghiệp đều có mục đích chung là làm thế nào để một đồng vốn bỏ vào kinh doanh mang lại hiệu quả cao nhất, khả năng sinh lời nhiều nhất. Quan điểm của tác giả Nguyễn Văn Tạo cho rằng “Hiệu quả kinh doanh không chỉ là sự so sánh giữa chi phí đầu vào và kết quả nhận được ở đầu ra; HQKD được hiểu trước tiên là việc hoàn thành mục tiêu, nếu không đạt được mục tiêu thì không thể có hiệu quả và để hoàn thành mục tiêu ta cần phải sử dụng nguồn lực như thế nào” [8, tr 10]. Theo đó, HQKD phải gắn liền với việc thực hiện các mục tiêu của DN, không thể nói DN hoạt động có hiệu quả nếu các mục tiêu đặt ra không thực hiện đƣợc. Nhƣ vậy, HQKD là chỉ tiêu so sánh giữa mục tiêu hoàn thành và nguồn lực đƣợc sử dụng một cách thông minh.
Theo tác giả Phạm Thị Gái “Hiệu quả kinh tế của nền sản xuất xã hội là phạm vi kinh tế phản ánh yêu cầu tiết kiệm thời gian lao động xã hội trong việc tạo ra kết quả hữu ích được xã hội công nhận. Nó được biểu hiện thông qua các chỉ tiêu đặc trưng, xác định bằng tỷ lệ so sánh giữa các chỉ tiêu phản ánh kết đạt được về mặt kinh tế với chỉ tiêu phản ánh chi phí bỏ ra hoặc nguồn lực được huy động vào sản xuất” [6, tr. Theo quan điểm của tác giả, khi xem xét hiệu quả kinh tế cũng không chỉ đơn thuần nhìn vào vào kết quả thu đƣợc mà phải so sánh giữa kết quả hữu ích đƣợc xã hội công nhận với các chi phí hoặc nguồn lực bỏ ra để thực hiện. HQKD sẽ đạt đƣợc khi sử dụng 5 hợp lý các nguồn lực, tiết kiệm chi phí lao động xã hội.
Tuy nhiên, trên thực tế nhiều DN còn nhận thức chƣa đúng, họ thƣờng cho rằng nếu tiết kiệm tối đa chi phí là có thể hạ giá thành sản phẩm và nâng cao đƣợc HQKD. Nhiều DN tiết kiệm chi phí triệt để trên một đơn vị sản phẩm nhƣ tìm cách thay đổi kích thƣớc sản phẩm hay giảm bớt những tính năng phụ kèm theo sản phẩm. Việc làm này đúng là giúp cho DN tiết kiệm đƣợc chi phí sản xuất nhƣng lƣợng sản phẩm tiêu thụ lại giảm đi đáng kể và kết cục là đƣa DN phải đối đầu với các khó khăn về tài chính và nguy cơ lâm vào tình trạng phá sản luôn luôn rình rập. Khác với quan điểm hạ thấp giá thành đơn vị sản phẩm, tiết kiệm chi phí, các nhà quản trị hiện đại lại cho rằng: việc tiết kiệm chi phí sản xuất phải đƣợc hiểu theo nghĩa tích cực; nghĩa là không phải giảm bớt kích thƣớc sản phẩm hay cắt xén tính năng kèm theo của sản phẩm mà là với lƣợng chi phí hiện tại, thậm chí cần thiết có thể đầu tƣ thêm chi phí cho một đơn vị sản phẩm nhƣng phải tạo ra nhiều giá trị sử dụng, nhiều chức năng kèm theo cho một đơn vị sản phẩm ngoài chức năng chính của nó, tức là không chỉ tạo cho sản phẩm chỉ có duy nhất một chức năng hay “2 trong 1”, “3 trong 1”,.
mà là “n trong 1”. Có khá nhiều sản phẩm hiện nay, các chức năng phụ thậm chí đƣợc sử dụng nhiều hơn và chú trọng hơn cả chức năng chính. Việc tăng thêm tính năng vào trong 1 sản phẩm chắc chắn làm cho giá thành sản xuất đơn vị sản phẩm tăng lên, kéo theo tổng chi phí kinh doanh của DN tăng lên nhƣng nhờ đó mà lƣợng sản phẩm tiêu thụ sẽ tăng lên gấp bội. Kết quả là HQKD của DN đƣợc cải thiện đáng kể.
Điều này có thể đƣợc minh chứng bằng hàng loạt các sản phẩm của các công ty tên tuổi hàng đầu trên thế giới mà không ai có thể phủ nhận đƣợc HQKD của họ. Chính vì vậy, để có đƣợc hiệu quả không ngừng tăng lên đòi hỏi chúng ta chẳng những không giảm mà còn phải tăng chất lƣợng đầu vào lên. Với nguyên vật liệu tốt hơn, lao động có tay nghề cao hơn, máy móc công nghệ hiện đại hơn, chúng ta sẽ giảm đi lƣợng hao phí nguyên vật liệu, hao phí lao động, hao phí năng lƣợng, thiết bị trên từng đơn vị sản phẩm, phế phẩm giảm đó là điều kiện để có những sản 6 phẩm với số lƣợng, chất lƣợng cao, giá thành hạ. Nhƣ vậy, để tăng HQKD chỉ có con đƣờng duy nhất sử dụng hợp lý các nguồn lực.
Qua đó giá trị đầu ra ngày càng tăng, đồng thời càng nâng cao sức cạnh tranh của sản phẩm, của DN trên thƣơng trƣờng. Tác giả Đỗ Huyền Trang cho rằng HQKD chính là sự thể hiện mối quan hệ gắn kết chặt chẽ giữa tổng kết quả thu đƣợc với hao phí các nguồn lực đầu vào. Việc tách rời mối quan hệ này để xem xét HQKD đều dẫn đến những quan niệm sai lầm mang tính tả khuynh về HQKD; từ đó, đề ra các quyết định để nâng cao HQKD nhƣng thực ra lại hạ thấp kết quả kinh doanh [9]. Tổng hợp từ các quan điểm trên có thể hiểu: Thực chất hiệu quả kinh doanh là sự so sánh giữa các kết quả đầu ra với các yếu tố đầu vào của một tổ chức kinh tế đƣợc xét trong một kỳ nhất định, tùy theo yêu cầu của các nhà quản trị kinh doanh.
Các chỉ tiêu tài chính phản ánh hiệu quả kinh doanh là cơ sở khoa học để đánh giá trình độ của các nhà quản lý, căn cứ đƣa ra quyết định trong tƣơng lai. Song độ chính xác của thông tin từ các chỉ tiêu hiệu quả phân tích phụ thuộc vào nguồn số liệu, thời gian và không gian phân tích”. Hệ thống chỉ tiêu đo lường hiệu quả kinh doanh trong doanh nghiệp HQKD là phạm trù kinh tế tổng hợp thể hiện mối quan hệ tƣơng quan giữa việc sử dụng các nguồn lực của DN với lợi ích thu đƣợc. Nhƣ vậy, HQKD phải là một đại lƣợng so sánh giữa nguồn lực bỏ ra và lợi ích thu đƣợc.
Chính vì vậy, hệ thống chỉ tiêu đo lƣờng HQKD vừa phải thể hiện về mặt số lƣợng tiêu chuẩn thống nhất, vừa phải phản ánh đúng đắn sự phụ thuộc giữa lợi ích thu đƣợc với nguồn lực bỏ ra để thu đƣợc lợi ích đó [5], [7]. Bởi vậy, khi xây dựng chỉ tiêu đánh giá HQKD phải thiết lập đƣợc mối quan hệ giữa lợi ích thu đƣợc với nguồn lực bỏ ra để tạo ra lợi ích đó [7]. Trên thực tế, nguồn lực mà DN bỏ ra đƣợc biểu hiện qua sự kết hợp giữa các yếu tố cơ bản của quá trình kinh doanh (lao động, tƣ liệu lao động, đối tƣợng lao động) mà cụ thể là các loại tài sản (tổng tài sản, tài sản dài hạn, tài sản ngắn hạn…), các loại nguồn vốn (VCSH, vốn vay) và các loại chi phí (tổng chi phí, chi phí sản 7 xuất kinh doanh, chi phí hoạt động, giá vốn hàng bán (GVHB), chi phí bán hàng, chi phí quản lý DN…). Lợi ích mà DN thu đƣợc từ việc sử dụng các nguồn lực bao gồm toàn bộ kết quả thu đƣợc ở đầu ra (đầu ra phản ánh kết quả sản xuất và đầu ra phản ánh LN) [5], [7], [9].
Do vậy, khi xây dựng chỉ tiêu đánh giá HQKD cần phải xây dựng các chỉ tiêu tổng quát đánh hiệu quả của toàn DN cũng nhƣ những chỉ tiêu cụ thể đánh giá hiệu quả của từng yếu tố, từng loại tài sản, từng loại vốn, từng loại HĐKD của DN. Một cách tổng quát HQKD có thể đƣợc xác định nhƣ sau [5], [7]: Hiệu quả = Kinh doanh HQKD theo cách này, phản ánh một đơn vị nguồn lực đầu vào sử dụng vào quá trình kinh doanh tạo ra đƣợc bao nhiêu đơn vị kết quả đầu ra. Trị số tính ra càng cao, HQKD càng cao và ngƣợc lại. Hoặc: Hiệu quả = Kinh doanh Ngƣợc lại với cách xác định HQKD ở trên, HQKD xác định theo cách này cho biết: để có đƣợc một đơn vị kết quả đầu ra cần phải hao phí bao nhiêu đơn vị nguồn lực đầu vào.
Trong công thức này, kết quả tính đƣợc càng nhỏ thì hiệu quả càng cao và ngƣợc lại. Tuy nhiên, với mỗi cách tiếp cận khác nhau về HQKD thì hệ thống các chỉ tiêu phản ánh hiệu quả đƣợc các nhà nghiên cứu đƣa ra rất khác nhau. Các chỉ tiêu thƣờng đƣợc sử dụng để đánh giá HQKD bao gồm các chỉ tiêu đánh giá khả năng sinh lợi, khả năng sản xuất của nguồn lực trong DN. Hệ thống chỉ tiêu đánh giá khả năng sinh lợi Một trong những mối quan tâm hàng đầu của các DN là tối đa hoá lợi nhuận (LN).
Lợi nhuận giúp các DN có thể duy trì đƣợc hoạt động sản xuất kinh doanh bền vững và có thể tái sản xuất mở rộng [3], [5]. Do vậy, khi phân tích HQKD của DN, chỉ tiêu mà các nhà nghiên cứu chú trọng phân tích là khả năng 8 sinh lợi hay còn gọi là sức sinh lợi. Chỉ tiêu này phản ánh một đơn vị nguồn lực đầu vào hay một đơn vị đầu ra phản ánh kết quả sản xuất đem lại mấy đơn vị LN. Chỉ tiêu này càng lớn thì phản ánh HQKD càng cao và ngƣợc lại: Khả năng sinh lợi = (Hay sức sinh lợi) Từ công thức khái quát phản ánh khả năng sinh lợi ở trên, nhà phân tích có thể xây dựng các chỉ tiêu chi tiết để đánh giá khả năng sinh lợi cho từng nguồn lực, từng đầu ra phản ánh kết quả.
Tuỳ vào mục đích phân tích mà có thể kết hợp các chỉ tiêu ở tử số và mẫu số để xây dựng các chỉ tiêu phân tích khác nhau. Hệ thống chỉ tiêu đánh giá khả năng sản xuất Để tiến hành hoạt động sản xuất kinh doanh, DN phải sử dụng các nguồn nhân lực, vật lực, nhƣng các nguồn lực chỉ có hạn nên việc sử dụng các nguồn lực sao cho hiệu quả nhất là vấn đề mà các nhà quản lý luôn phải quan tâm [3], [9].