CHƯƠNG 1: LÝ LUẬN VỀ HIỆU QUẢ KINH DOANH CỦA DOANH NGHIỆP 1. Hoạt động kinh doanh và vai trò của phân tích kinh doanh. Hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp. Khái niệm hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp.
- Khái niệm kinh doanh Căn cứ theo Khoản 21, Điều 4, Luật Doanh nghiệp (2020), Kinh doanh là việc thực hiện liên tục một, một số hoặc tất cả công đoạn của quá trình từ đầu tư, sản xuất đến tiêu thụ sản phẩm hoặc cung ứng dịch vụ trên thị trường nhằm mục đích tìm kiếm lợi nhuận. Theo giáo trình “Kinh tế Doanh nghiệp thương mại” của PGS.TS Phạm Công Đoàn (2012) thì “Kinh doanh là sự trao đổi hàng hóa giữa các chủ thể kinh tế mà mỗi cá nhân tham gia vào quá trình này đều hướng tới đạt được lợi ích của mình”. Trong cuốn giáo trình phân tích báo cáo tài chính tác giả Nguyễn Năng Phúc và các cộng sự cũng đưa ra quan điểm của mình về hiệu quả kinh doanh như sau: “Hiệu quả kinh doanh là một chỉ tiêu kinh tế tổng hợp phản ánh trình độ sử dụng các nguồn vật lực, tài chính của doanh nghiệp để đạt được hiệu quả cao nhất”. Nhóm tác giả này còn giải thích thêm rằng hiệu quả kinh doanh còn thể hiện sự vận dụng khéo léo của các nhà quản trị doanh nghiệp giữa lý luận và 4 thực tế nhằm khai thác tối đa các yếu tố của quá trình sản xuất như máy móc thiết bị, nguyên vật liệu, nhân công để nâng cao lợi nhuận cho doanh nghiệp.
Như vậy, qua những phân tích trên có thể thấy rằng: Hiệu quả kinh doanh đều phản ánh trình độ quản lý và sử dụng các nguồn lực mà các doanh nghiệp sử dụng vào kinh doanh sao cho tối đa hóa kết quả đạt được và tối thiểu hóa chi phí bỏ ra. Từ đó có thể hiểu rằng khi nói đến “Hiệu quả kinh doanh” là để dùng cho các doanh nghiệp nói chung, bao gồm cả các doanh nghiệp sản xuất và doanh nghiệp phi sản xuất Do đó, theo cách hiểu trên thì tôi cho rằng khái niệm về HQKD như sau: “Hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp là một phạm trù kinh tế, phản ánh trình độ khai thác và sử dụng các nguồn lực trong quá trình kinh doanh của doanh nghiệp nhằm thực hiện các mục tiêu, kinh doanh, với hao phí nguồn lực bỏ ra ít nhất mà đạt được kết quả cao nhất”. Bản chất của hiệu quả kinh doanh Từ khái niệm về Hiệu quả kinh tế nói chung cũng như hiệu quả kinh tế hoạt động kinh doanh nói riêng đã phản ánh hiệu quả kinh tế của hoạt động kinh doanh là phản ánh mặt chất lượng của các hoạt động kinh doanh ,phản ánh trình độ lợi dụng các nguồn lực (lao động, máy móc, thiết bị, khoa học công nghệ và vốn), để đạt được mục tiêu cuối cùng của mọi hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp đó là mục tiêu tối đa hoá lợi nhuận. Để hiểu rõ được bản chất thực sự của hiệu quả kinh tế của hoạt động kinh doanh thì chúng ta phải phân biệt được ranh giới giữa hai khái niệm đó là hiệu quả và kết quả của hoạt động kinh doanh.
Hai khái niệm này lắm lúc người ta hiểu như là một,thực ra chúng có điểm riêng biệt khá lớn. Ta có thể hiểu kết quả của hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp là những gì doanh nghiệp đã đạt được sau một quá trình hoạt động mà họ bỏ công sức, tiền của vào. Kết quả đạt được hay không đạt được nó phản ánh đến hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp, mục tiêu của doanh nghiệp đề ra chính là kết quả mà họ cần đạt được. Kết quả đạt được có thể là đại lượng cân đo đong đếm được như số 5 sản phẩm tiêu thụ mỗi loại, khối lượng sản xuất ra, doanh thu bán hàng, lợi nhuận, thị phần.
Và cũng có thể là những đại lượng chỉ phản ánh mặt chất lượng hoàn toàn có tính chất định tính như uy tín của hãng, chất lượng sản phẩm. Còn khái niệm về hiệu quả hoạt động kinh doanh thì sử dụng cả hai chỉ tiêu là kết quả (đầu ra) và chi phí (các nguồn lực đầu vào) để đánh giá hiệu quả kinh doanh. Chi phí đầu vào càng nhỏ, đầu ra càng lớn, chất lượng thì chứng tỏ hiệu quả kinh tế cao. Cả 2 chỉ tiêu kết quả và chi phí để có thể đo bằng thước đo hiện vật và thước đo giá trị.
Trong thực tế vấn đề đặt ra là hiệu quả kinh tế nói chung và hiệu quả kinh tế của hoạt động kinh doanh nói riêng chính là mục tiêu hay phương tiện kinh zdoanh. Nhưng đôi khi người ta có thể sử dụng hiệu quả là mục tiêu mà họ cần đạt, trong trường hợp khác chúng ta lại sử dụng chúng như công cụ để nhận biết "khả năng" tiến tới mục tiêu mà ta cần đạt đó chính là kết quả. Phản ánh mặt chất lượng các hoạt động kinh doanh. Phản ánh trình độ lợi dụng các nguồn lực trong quá trình tiến hành các hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp.
Hiệu quả kinh doanh phức tạp và khó đánh giá vì cả kết quả và hao phí nguồn lực đều khó xác định chính xác. Kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh là những gì mà doanh nghiệp đạt được sau một quá trình kinh doanh nhất định. Trong kinh doanh thì kết quả cần đạt được bao giờ cũng là mục tiêu cần thiết của doanh nghiệp. Kết quả được phản ánh bằng chỉ tiêu định tính như sản phẩm tiêu thụ, doanh thu, lợi nhuận,.
và cũng có thể phản ánh bằng chỉ tiêu định hướng như uy tín, chất lượng sản phẩm. Về hình thức hiệu quả kinh doanh luôn là phạm trù so sánh thể hiện mối tương quan giữa kết quả đạt được và chi phí bỏ ra. Kết quả chỉ là cái cần thiết để tính toán và phân tích hiệu quả, muốn đánh giá được hiệu quả kinh doanh phải dựa trên các kết quả đạt được của từng lĩnh vực. 6 Các nguồn lực sản xuất xã hội là một phạm trù khan hiếm: càng ngày, người ta càng sử dụng nhiều các nguồn lực sản xuất vào các hoạt động sản xuất phục vụ các nhu cầu khác nhau của con người nên các nguồn lực này ngày càng cạn kiệt.
Thế giới đang chứng kiến sự cạn kiệt dần của các loại tài nguyên hoặc do con người khai thác sử dụng với tốc độ ngày càng cao; hoặc do môi trường thay đổi làm giảm hoặc thậm chí loại bỏ sự phát triển của các loại động thực vật nhất định. Trong khi các nguồn lực sản xuất xã hội ngày càng giảm thì nhu cầu của con người lại ngày càng đa dạng và tăng không có giới hạn. Điều này phản ánh quy luật khan hiếm. Quy luật khan hiếm buộc mọi doanh nghiệp phải lựa chọn và trả lời đúng ba câu hỏi: sản xuất cái gì, sản xuất như thế nào và sản xuất cho ai? Vì thị trường chỉ tiếp nhận những doanh nghiệp quyết định sản xuất đúng loại sản phẩm với số lượng và chất lượng phù hợp, với hao phí nguồn lực càng thấp, càng tốt.
Mọi doanh nghiệp trả lời không đúng ba vấn đề trên sẽ sử dụng các nguồn lực sản xuất xã hội để sản xuất sản phẩm hoặc lãng phí, dẫn đến không có lợi nhuận; hoặc nguy hiểm hơn, không tiêu thụ được sản phẩm đó trên thị trường – tức kinh doanh không có hiệu quả, lãng phí nguồn lực sản xuất xã hội. Loại hình doanh nghiệp này sẽ không có khả năng cũng như cơ hội tồn tại. Mặt khác, kinh doanh trong cơ chế kinh tế thị trường, mở cửa và ngày càng hội nhập doanh nghiệp phải chấp nhận và đứng vững trong cạnh tranh. Muốn chiến thắng trong cạnh tranh doanh nghiệp phải luôn tạo ra và duy trì các lợi thế cạnh tranh: chất lượng và sự khác biệt hóa, giá cả và tốc độ cung ứng.
Để duy trì lợi thế về giá cả, doanh nghiệp phải sử dụng tiết kiệm các nguồn lực sản xuất hơn so với các doanh nghiệp khác. Chỉ trên cơ sở sản xuất kinh doanh với hiệu quả cao, doanh nghiệp mới có khả năng đạt được điều này. Hiệu quả kinh doanh là phạm trù phản ánh tính tương đối của việc sử dụng tiết kiệm các nguồn lực sản xuất xã hội nên là điều kiện để thực hiện mục tiêu bao trùm, lâu dài của doanh nghiệp. Hiệu quả kinh doanh càng cao càng phản ánh việc sử dụng tiết kiệm các nguồn lực sản xuất.
Vì vậy, nâng cao hiệu quả kinh doanh là đòi hỏi khách quan để doanh nghiệp thực hiện mục tiêu bao trùm, lâu dài là tối đa hóa lợi nhuận. 7 Nội dung và các tiêu chuẩn đánh giá nâng cao hiệu quả kinh doanh Một số tiêu chuẩn đánh giá nâng cao hiệu quả kinh doanh Tiêu chuẩn đánh giá hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp là sự biến động của các chỉ tiêu hiệu quả của kỳ sau so với kỳ trước. Để đánh giá hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp được đúng đắn, chính xác, cần dựa vào các tiêu chuẩn sau: Tỷ suất lợi nhuận cao, giá trị gia tăng trên vốn tăng, tự tích lũy để tái đầu tư, mở rộng hoạt động sản xuất kinh doanh.Tình hình tài chính lành mạnh, đảm bảo khả năng thanh toán của các khoản nợ đến hạn.Các khoản đóng góp cho ngân sách Nhà nước tăng, và quảng bá được hình ảnh đất nước. Tiêu chuẩn của hiệu quả kinh doanh được thể hiện thông qua một hệ thống các chỉ tiêu.
Phân tích hệ thống các chỉ tiêu này sẽ đánh giá đúng hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp từ đó tìm biện pháp nâng cao hiệu quả kinh doanh trong tình hình mới.2 Vai trò của phân tích kinh doanh trong doanh nghiệp. Phân tích kinh doanh trong doanh nghiệp có ý nghĩa rất quan trọng. Những đối tượng quan tâm đến tình hình kinh doanh của doanh nghiệp ví dụ như: người quản lý doanh nghiệp, chủ đầu tư, người lao động, khách hàng, cơ quan Nhà nước. Đối với người quản lý doanh nghiệp: Đánh giá hiệu quả từng hoạt động của doanh nghiệp và thực hiện những nguyên tắc về quản lý tình hình kinh doanh.
Kiểm tra và giám sát các hoạt động quản lý trong doanh nghiệp và các thông tin phục vụ cho việc dự đoán kinh doanh. Đối với chủ đầu tư: Mối quan tâm hàng đầu của nhà đầu tư là thời gian hoàn vốn, mức sinh lãi và sự rủi ro. Vì vậy, phân tích tình hình kinh doanh của doanh nghiệp sẽ giúp chủ đầu tư có đầy đủ thông tin về: điều kiện tài chính, tình hình hoạt động, kết quả kinh doanh và tiềm năng tăng trưởng của các doanh nghiệp 8 Đối với người lao động: Kết quả hoạt động của doanh nghiệp tác động trực tiếp đến: tiền lương, khoản thu nhập tài chính của người lao động.