CHƯƠNG 1: LÝ LUẬN CHUNG VỀ PHÂN TÍCH HIỆU QUẢ HĐKD CỦA CTCK THÔNG QUA MÔ HÌNH CAMEL 1. Tổng quan về hoạt động kinh doanh của CTCK 1. Khái niệm và đặc điểm của công ty chứng khoán a. Khái niệm CTCK là doanh nghiệp kinh doanh chứng khoán với tư cách là thành viên của Sở giao dịch chứng khoán.
Khái niệm CTCK đã được quy định cụ thể tại Khoản 1 Điều 2 Nghị định 86/2016/NĐ-CP như sau: “CTCK là doanh nghiệp thành lập và hoạt động theo pháp luật chứng khoán để thực hiện một, một số hoặc toàn bộ các nghiệp vụ: Môi giới chứng khoán, tự doanh chứng khoán, bảo lãnh phát hành chứng khoán, tư vấn đầu tư chứng khoán và được cung cấp các dịch vụ tài chính theo quy định của pháp luật chứng khoán. CTCK được hiểu là TCTC trung gian trên TTCK, dưới dạng Công ty Cổ phần hoặc Công ty TNHH, được thành lập và hoạt động theo Quy định Pháp luật, thực hiện một hoặc một số nghiệp vụ Kinh doanh Chứng khoán dưới sự quản lý trực tiếp của cơ quan quản lý chuyên trách là UBCKNN. TCTC là khái niệm để chỉ những tổ chức thực hiện chức năng dẫn nguồn vốn từ người có tới người cần. CTCK sẽ có nhiệm vụ thu xếp các giao dịch cho khách hàng và sẽ có một phần hoa hồng trong mỗi lần giao dịch giữa các bên.
Đặc điểm CTCK là một tổ chức tài chính trung gian hoạt động trên một thị trường có mức độ nhạy cảm cao và có ảnh hưởng lớn tới nền kinh tế. Do vậy, việc phải đáp ứng những điều kiện do luật pháp quy định cũng như những nguyên tắc ứng xử riêng của ngành chứng khoán chính là những đặc điểm tạo sự khác biệt giữa hoạt động của CTCK với các loại hình doanh nghiệp khác. - Đặc điểm về vốn: Để bảo vệ thị trường và lợi ích của nhà đầu tư, song song với đó là đảm bảo cho việc hoạt động của chính các CTCK, mỗi quốc gia đều quy định rõ ràng về mức vốn pháp định để các CTCK có đủ điều kiện để thành lập và đi vào hoạt động, thậm chí từng nghiệp vụ kinh doanh của CTCK cũng có những mức vốn pháp định riêng. 6 - Đặc điểm về đội ngũ lãnh đạo và nhân sự: Với việc phải hoạt động trên một thị trường phức tạp, có ảnh hưởng lớn đến an ninh kinh tế của cả một quốc gia, đội ngũ lãnh đạo và nhân sự của các CTCK phải là những người vừa có trình độ học vấn, chuyên môn cao, có các bằng cấp, chứng chỉ đặc biệt đảm bảo yêu cầu theo luật pháp của từng quốc gia, vừa có đạo đức nghề nghiệp để có thể làm việc một cách đúng đắn, không vụ lợi.
- Đặc điểm về xung đột lợi ích: Khi hoạt động kinh doanh, với nghiệp vụ kinh doanh đặc thù của mình, không thể tránh khỏi sự xung đột lợi ích giữa khách hàng và CTCK. Những nghiệp vụ như môi giới, tư vấn chứng khoán rất dễ dẫn đến những xung đột này, khi những nhân viên tư vấn, môi giới vì lợi ích của bản thân mà làm tổn hại đến tài sản của khách hàng. Đây là lý do mà đội ngũ nhân sự của các CTCK rất cần những người có đạo đức nghề nghiệp để hạn chế tình trạng trên xảy ra. - Đặc điểm về cơ sở vật chất kỹ thuật: Để đảm bảo sự liền mạch, chính xác và kịp thời trong việc truyền và xử lý thông tin, chủ yếu là các thông tin điện tử nền tăng cơ sở vật chất cùng với kỹ thuật hiện đại, an toàn là ưu tiên hàng đầu của các CTCK, đó cũng là sự đảm bảo cho lợi ích và quyền lợi của chính những nhà đầu tư, giúp các nhà đầu tư nắm bắt thông tin một cách nhanh chóng.
Vai trò của CTCK Trong giáo trình Thị trường chứng khoán, Học viện Tài chính (2003), các CTCK có các vai trò như sau: - Vai trò huy động vốn: CTCK là một trong những trung gian tài chính có chức năng huy động vốn. Hay nói cách khác CTCK có vai trò làm chiếc cầu nối và là kênh dẫn cho vốn chạy từ một hay một số bộ phận nào đó của nền kinh tế có du thủm vốn (vốn nhàn rỗi) đến các bộ phận khác của nền kinh tế đang thiếu vốn (cán huy động vốn). Các CTCK thường đảm nhận vai trò này qua các hoạt động bảo lãnh phát hành và môi giới chứng khoán. - Vai trò hình thành giá cả chứng khoán: Trên thị trường sơ cấp, khi thực hiện hoạt động bảo lãnh phát hành chứng khoán cho các tổ chức phát hành, CTCK thực hiện vai trò hình thành giá cả chứng khoán thông qua việc xác định và tư vấn cho tổ 7 chức phát hành mức giá phát hành hợp lý đối với các chứng khoán trong đợt phát hành.
Thông thường, mức giá phát hành thường do các CTCK xác định trên cơ sở tiếp xúc, tìm hiểu và thỏa thuận với các nhiều tư tiềm năng lớn trong đợt phát hành đó và tư vấn cho tổ chức phát hành. Trên thị trường thứ cấp, dù là thị trường đấu lệnh hay thị trường đấu giá, CTCK luôn có vai trò giúp các nhà đầu tư đánh giá đúng thực tế và chính xác về giá trị các khoản đầu tư của mình. CTCK còn có chức năng quan trọng là can thiệp trên thị trưởng, góp phần điều tiết giá cả chứng khoán. Theo quy định của các nước, CTCK bắt buộc phải dành ra một tỷ lệ nhất định giao dịch của mình để mua chứng khoán vào khi giá chứng khoán trên thị trường đang giảm và bản ra khi chứng khoán cao.
- Vai trò thực thi tính hoán tệ của chứng khoán: Các nhà đầu tư luôn muốn có được khả năng chuyển tiền mặt thành chứng khoán và ngược lại trong một môi trường đầu tư ổn định. Các CTCKđảm nhận được chức năng chuyển đổi này, giúp cho nhà đầu tư ít phải chịu thiệt hại nhất khi tiến hành đầu tư. Trong hầu hết các nghiệp vụ đầu tư ở sở giao dịch chứng khoán và thị trường phi tập trung, một nhà đầu tư có thể hàng ngày chuyển đổi tiền mặt thành chứng khoán và ngược lại mà không phải chịu thiệt hại đáng kể đối với giá trị khoản đầu tư của mình (ít nhất thì cũng không chịu thiệt hại do cơ chế giao dịch chứng khoán gây nên). Nói cách khác, có thể có một số nhân tố bên ngoài ảnh hưởng đến giá trị đầu tư, chẳng hạn như tin đồn về một vấn đề nào đó trong nền kinh tế, những giá trị khoản đầu tư nói chung không giảm đi do cơ chế giao dịch của thị trường.
- Vai trò thực hiện tư vấn đầu tư: Các CTCK không chỉ thực hiện mệnh lệnh của khách hàng mà còn tham gia vào nhiều dịch vụ tư vấn khác nhau thông qua việc nghiên cứu thị trường rồi cung cấp các thông tin đó cho các công ty và các cá nhân đầu tư. Dịch vụ tư vấn có thể gồm: Thu thập thông tin phục vụ mục đích của khách hàng, cung cấp thông tin về các khả năng đầu tư khác nhau cũng như triển vọng ngắn và dài hạn của các khoản đầu tư đó trong tương lai, cung cấp các thông tin về chính sách tiền tệ của Chính phủ có liên quan đến các khoản đầu tư mà khách hàng đang cân nhắc. Nguyên tắc hoạt động quản trị điều hành của CTCK Theo điều 3 Thông tư số 121 2020 TT-BTC về Quy định về hoạt động của CTCK, có 5 nguyên tắc về hoạt động quản trị, điều hành CTCK như sau: “1. CTCK phải tuân thủ các quy định của Luật Chứng khoán, Luật Doanh nghiệp.
Điều lệ công ty và các quy định khác của pháp luật có liên quan về quản trị công ty. CTCK phải phân định rõ trách nhiệm giữa Đại hội đồng có đồng. Hội đồng thành viên, Chủ sở hữu. Hội đồng quản trị, Ban kiểm soát, Ban Giám đốc phù hợp với Luật Chứng khoán, Luật Doanh nghiệp và các quy định khác của pháp luật.
CTCK phải thiết lập hệ thống thông tin liên lạc với các có đồng, thành viên để đảm bảo cung cấp thông tin đầy đủ và đối xử công bằng giữa các cổ đông, giữa các thành viên, đảm bảo các quyền và lợi ích hợp pháp của cổ đông, của thành viên. CTCK phải thiết lập hệ thống kiểm soát nội bộ, quản trị rủi ro và giám sát, ngăn ngừa những xung đột lợi ích trong nội bộ công ty và trong giao dịch với người có liên quan 5. CTCK phải bảo đảm nhân viên làm việc tại bộ phận nghiệp vụ phải có chứng chỉ hành nghề chứng khoán phù hợp với nghiệp vụ thực hiện theo quy định của pháp luật chứng khoán và thị trường chứng khoán”. Nghiệp vụ chính của CTCK * Các nghiệp vụ chính a) Nghiệp vụ môi giới chứng khoán Môi giới chứng khoán là hoạt động trung gian, trong đó CTCK tiến hành giao dịch chứng khoán nhân danh minh đại diện cho khách hàng.
Nghiệp vụ môi giới là nghiệp vụ chủ yếu của CTCK, nghiệp vụ này bao gồm thực hiện lệnh giao dịch mua bản chứng khoán cho khách hàng, thanh toán và quyết toán các giao dịch. Để thực hiện nghiệp vụ môi giới đòi hỏi CTCK phải có tín nhiệm, phải được khách hàng tin cậy, phải có năng lực kinh nghiệm nghề nghiệp, phải có khả năng phân tích tài chính các doanh nghiệp để tư vấn cho các khách hàng của minh. Thực hiện nghiệp vụ này, CTCK thu phí môi giới từ khách hàng. Phi môi giới thường được tính theo tỷ lệ phần 9 trăm của tổng giá trị giao dịch.
Quá trình hoàn thành một lệnh giao dịch cho khách hàng được thể hiện qua sơ đồ sau: Sơ đồ 1.1: Quá trình thực hiện một giao dịch cho khách hàng thông qua nghiệp vụ môi giới chứng khoán (Nguồn: Giáo trình Thị trường Chứng khoán - Học viện Tài chính (2008)) b) Nghiệp vụ tự doanh chứng khoán Theo khoản 30 điều 6 Luật Chứng khoán năm 2019 thì “Tự doanh chứng khoán là việc CTCK mua, bán chứng khoán cho chính mình”. Thực hiện nghiệp vụ tự doanh có lãi hay lỗ tùy thuộc vào chênh lệch giữa giá mua và bán chứng khoán và sự biến động chung của giá chứng khoán do CTCK nắm giữ. Ngoài ra, giáo trình Thị trường Chứng khoán – Học viện Tài chính (2008) cũng đã nêu ra rằng nghiệp vụ tự doanh của CTCK được thực hiện theo hai hình thức giao dịch trực tiếp và giao dịch gián tiếp: “Giao dịch trực tiếp là giao dịch tay đôi giữa hai CTCK, CTCK với khách hàng thông qua thương lượng. Hoạt động này chủ yếu thực hiện các giao dịch đối với các chứng khoán trên thị trường OTC.
Giao dịch gián tiếp là việc CTCK đặt các lệnh mua và bán của mình trên sở giao dịch.